6. ANH ( The United Kingdom)

VƯƠNG QUỐC ANH

Diện tích : 245.000 km2.   Dân số : 61.000.000 người ( 2007 )   Thủ đô : London

ANH 1

ĐẢO GREAT BRITAIN VÀ IRELAND : Các đảo phía tây châu Âu

Quần đảo Anh nằm ở phía tây châu Âu, phía bắc giáp Bắc Băng Dương, phía đông giáp Bắc Hải, phía nam giáp biển Manche, phía tây là Đại Tây Dương. Hai đảo lớn thuộc quần đảo Anh là Great Britain và Ireland. Ngoài ra, có hơn 5.000 đảo nhỏ, phần lớn nằm ngoài khơi Scotland. Địa hình Anh chủ yếu là đồi núi thấp, cao nhất là đỉnh Ben Nevis 1343m, phía đông và đông nam là các đồng bằng lượn sóng.

Thật ra, England, Scotland, Wales và Bắc Ireland kết hợp nhau thành một nước gọi là Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland ( The United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland ). Thường chúng ta gọi đơn giản là Vương quốc Anh ( The United Kingdom).

Vương quốc Anh chiếm toàn bộ đảo Great Britain và phần phía bắc của đảo Ireland. Cộng hoà Ireland ở phía nam là một quốc gia độc lập với Vương quốc Anh, dân chúng ở đây có chính phủ riêng của họ.

Nhiều người Mĩ có tổ tiên là người Anh, di cư từ Anh đến. Do đó, phần lớn lối sống ở Mĩ đều xuất phát từ Quần đảo Anh. Ngôn ngữ của họ là tiếng Anh, các tư tưởng về luật pháp và chính phủ, trang phục của họ, mặc dù có thay đổi đều giống với với người dân Anh. Và như bạn đã biết, nước Mĩ xưa kia là thuộc địa của Anh. Ngày nay Mĩ và Anh có mối quan hệ mật thiết về kinh tế, chính trị và nhiều phương diện khác .

Map Anh2

Bản đồ địa hình Vương Quốc Anh

Chúng ta cũng tìm thấy một mối quan hệ chặt chẽ với dân chúng của đảo Anh và Mĩ ở nhiều quyển sách và bài hát quen thuộc. Như “Cuộc phiêu lưu của Alice ở xứ thần tiên” được viết bởi một người Anh tên Lewis Carroll. “Peter Pan” được viết bởi ông James Matthew Barrie, một người Scotland. Jonathan Swift, một người Anh sinh ra ở Ireland, viết quyển “Cuộc phiêu lưu của Gulliers”. Một bản nhạc mà chúng ta đã nghe vào mỗi đêm giao thừa “ Auld Lang Syne” viết từ bài thơ Scotland nổi tiếng của Robert Burns. Có lẽ bạn đã biết những quyển sách và những bài hát khác được viết ở các đảo Anh .

Du khách từ Mĩ đến Anh thường ngạc nhiên vì diện tích nhỏ của nó. Toàn bộ đảo Anh có diện tích tương đương với tiểu bang Oregon. Chiều dài của đảo Anh từ đỉnh ở Scotland tới eo biển Anh chỉ khoảng 992km. Du hành từ London ở England tới Edinburgh ở Scotland bằng xe lửa chỉ 10 tiếng đồng hồ. Nơi rộng nhất ở Anh chỉ khoảng 520km, mất khoảng một ngày du hành bằng ô tô. Tuy nhiên, Anh có dân số đông khoảng 61 triệu, trong khi dân số Oregon chỉ 3,5 triệu.

Do Anh được bao bọc bởi biển nên không nơi nào ở Anh cách xa biển hơn 120km. Không gì ngạc nhiên rằng Anh đã xây dựng đội thương thuyền hùng mạnh buôn bán khắp nơi trên thế giới và xây dựng lực lượng hải quân mạnh bảo vệ đội thương thuyền và lãnh thổ của họ. Họ đã khám phá nhiều vùng đất mới thiết lập nhiều thuộc địa và đế quốc của họ hiện diện ở nhiều vùng cách xa đất nước nhỏ bé của họ. Ngày nay thương thuyền của Anh có mặt ở hầu hết các cảng lớn trên thế giới .

Biển ảnh hưởng mạnh mẽ tới khí hậu của quần đảo Anh.

ANH 2.jpgQuần đảo Anh chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió Tây ôn đới từ Đại Tây Dương thổi vào. Khí hậu Anh còn chịu ảnh hưởng nhiều bởi dòng biển Bắc Đại Tây Dương. Dòng biển này xuất phát từ vùng biển ấm của vịnh Mexico. Khi dòng nước ấm trên bề mặt biển di chuyển từ phía nam vào vịnh, chúng lượn quanh dọc bờ biển Mexico và bờ phía nam nước Mĩ. Sau đó dòng biển thoát ra khỏi eo biển hẹp giữa Florida và Cuba chảy về phía đông. Ở đó chúng kết hợp với dòng biển ấm khác xuất phát từ phía đông nam đến. Dòng biển kết hợp này được gọi là dòng Gulfstream.

Dòng GulfStream chảy về phía đông bắc ngoài khơi bờ đông của nước Mĩ và sau đó rẽ về phía đông tới bờ biển phía tây châu Âu. Trong khi di chuyển, nó trở nên rộng hơn và yếu hơn, dòng chảy chậm hơn trước. Do vậy dòng Gulfstream trở thành dòng biển Bắc Đại Tây Dương. Mặc dù nó trở nên mát hơn khi di chuyển về phía bắc của Đại Tây Dương, nhưng nó vẫn khá ấm áp. Dòng biển ấm này tiếp tục di chuyển về phía đông mãi cho đến khi tới Quần đảo Anh và phía tây châu Âu .

Gió từ đại dương thổi vào đã làm nhiệt độ ôn hoà và mang nhiều không khí ẩm đến cho Quần đảo Anh và Tây Âu. Khi mây, sương mù và mưa di chuyển từ biển vào vào đất liền, mặt trời không soi sáng nhiều ngày thậm chí nhiều tuần. Nhiều vùng của Quần đảo Anh, nơi mà gió từ biển trực tiếp thổi vào thì ẩm ướt nhất và có mưa nhiều nhất. Do đó phía tây Ireland nhận được nhiều mưa hơn phía đông Ireland, và bờ phía tây của Anh cũng ẩm ướt hơn bờ phía đông.

Sự khác nhau về lượng mây và mưa cũng rất quan trọng. Phía đông của các đảo, khô hơn và nắng nhiều hơn, có thể trồng những vụ mùa không thể phát triển tốt ở những vùng ẩm ướt. Ví dụ, lúa mì mọc tốt hơn và năng suất cao hơn ở phía đông nước Anh hơn là phía tây. Thật vậy, những nơi có nhiều mưa lúa mì không thể phát triển được. Một số vụ mùa khác có thể chịu được mưa nhiều và ít nắng, như lúa mạch, yến mạch được trồng thay vào đó. Rau, khoai tây, củ hành, cải Brussels và bắp cải cũng mọc tốt ở vùng khí hậu ẩm ướt.

Untitled-1 copy

Cừu ở thung lũng Kendal, thung lũng xanh tươi chứng tỏ khí hậu ẩm ướt ở Anh

Chắc hẳn bạn đã nghe về sương mù của London, Anh quốc ; nhưng sương mù rất phổ biến ở nhiều nơi của Quần đảo Anh. Đôi lúc chúng bao phủ toàn bộ mặt đất. Khi sương mù bao phủ mặt đất thuyền bè khó thể ra vào hải cảng và toàn bộ phi trường đều bị ngưng hoạt động. Xe cộ phải chạy chậm hoặc ngừng hẳn lại. May mắn thay, Anh là một trong số những nước đầu tiên phát minh radar, một thiết bị cho phép tàu bè và máy bay “ thấy” được xuyên qua mây mù bằng cách dùng làn sóng vô tuyến.

Do mưa nhiều và và nhiệt độ ôn hoà quanh năm, Quần đảo Anh hầu như hoàn toàn xanh tươi. Đồng cỏ xanh tốt, hàng dậu và cây cối đều xanh, công viên xanh. Vì cỏ phát triển tốt, khí hậu thích hợp cho việc nuôi cừu, bò sữa, và ngựa. Gia súc có thể ở ngoài trời suốt mùa đông ôn hoà.

I. SCOTLAND : LÃNH THỔ PHÍA BẮC CỦA ANH

dia hinh ScotlandCó lẽ bạn đã biết một số đặc điểm của xứ Scotland và biết người Scotland đọc trượt âm “r’s” khi nói. Một số từ như “aye” và “bonnie” được người Scotland sử dụng thường. Người Scotland thường mặc áo choàng len sọc vuông và mang giày da không thuộc để đi núi. Nhiều chuyện đùa kể về tính hà tiện của người Scotland. Mặc dù những chuyện này có vẻ thổi phồng, khi bạn hiểu về vùng đất của người Scotland, bạn thấy người Scotland có lý do để hà tiện.

Scotland gồm phần phía bắc của đảo Great Britain và các đảo Shetland, Orkney, và Hebrides. Từ bản đồ bạn có thể thấy phần lớn Scotland là đồi núi. Bạn cũng thấy một vùng đất thấp ngang qua lãnh thổ từ đông sang tây giữa Edinburgh và Glasgow. Để dễ học hơn về Scotland chúng ta có thể chia vùng này ra làm 3 miền : vùng Cao nguyên phía bắc, vùng Đất thấp ở giữa, và vùng đồi Biên giới phía nam ( Highlands, Lowlands, Borderlands).

Bề mặt địa hình Scotland gồm những đồi tròn, những cánh đồng nhiều đá, nhiều hồ, các thung lũng thẳng và bờ biển bị cắt xẻ ghồ ghề, là tất cả những chứng cứ cho thấy rằng băng hà cũng có lúc bao phủ vùng đất này.

ANH 8

Các tảng lăn do băng hà để lại trên mặt đất ở Scotland

Ở hai phần ba vùng Bắc Scotland, băng hà bào mòn và cuốn đi đất, chỉ để lại các mảng đất mỏng đây đó. Ở phía nam vùng thứ ba của lãnh thổ, băng hà đã để lại nhiều vật liệu và do đó có nhiều đất hơn. Phần lớn đất do băng hà để lại thì đầy những tảng lăn. Những tảng đá này gây trở ngại việc cày cấy và làm cho đất khó sử dụng. Do đó các hàng rào bằng đá, nhà đá, kho chứa lúa bằng đá đều được làm từ những tảng lăn này.

Băng hà trôi qua nhiều thung lũng trước khi ra biển. Sau khi băng tan, nước biển tràn vào vùng đất thấp của thung lũng. Ở Scotland những thung lũng ngập nước này được gọi là firths (các cửa sông). Ở những vùng khác trên thế giới thì gọi là estuaries. Băng hà cũng hình thành nhiều hồ trong vùng nội địa Scotland (gọi là lochs ). Bạn có lẽ nhớ một phần của bản nhạc Scotland liên quan tới “bonnie, bonnie banks of Loch Lomond”.

1 Vùng Cao nguyên (Highlands ) : Chiếm phần lớn diện tích Scotland

Ít người sống ở vùng Cao nguyên phía bắc mặc dù đây là vùng rộng lớn nhất Scotland. Khí hậu Scotland lạnh, ẩm ướt nhiều ngày trong năm. Vào những ngày mùa đông, mây thật gần ở những đỉnh đồi núi phủ đầy thạch nam. Vài người thợ săn dũng cảm đã liều lĩnh vào vùng Cao nguyên lúc này để săn bắn. Những ngày mùa hè thì dễ chịu hơn. Lúc đó, Nữ hoàng Elizabeth và gia đình cũng thường đến lâu đài mùa hè của Hoàng gia ở vùng Cao nguyên phía bắc này.

Phần lớn dân chúng ở vùng Cao nguyên kiếm sống bằng nghề nuôi cừu. Vùng Cao nguyên và toàn bộ Scotland có nhiều cừu hơn người. Cừu ở vùng Cao nguyên này có lông xù dày vì khí hậu lạnh, ẩm ướt.

Chỉ duy nhất ở thung lũng hẹp mới đủ đất cho nông nghiệp. Một đồng bằng hẹp chạy dọc bờ biển phía đông có một ít đất tốt. Sườn này của cao nguyên cũng ít mưa và mây hơn là bờ phía tây và các vùng nội địa. Vụ mùa sẽ tốt hơn bởi điều kiện có nắng và ấm áp hơn.

Một trong những vụ mùa chính của Scotland là yến mạch, vụ mùa này phát triển tốt ở khí hậu ẩm ướt hơn là các vụ mùa khác. Người Scotland ăn yến mạch mỗi ngày. Ở vùng khí hậu hải dương ven biển phía tây này, nông dân cũng trồng khoai tây, củ cải và cỏ. Việc nuôi bò sữa rất quan trọng ở sườn phía nam của cao nguyên gần các thành phố lớn.

Vì đất đai không sinh lợi, nhiều người ở vùng Cao nguyên và các đảo lân cận đã quay sang biển để kiếm sống. Họ sống chủ yếu ở các làng đánh cá nhỏ, ở các đảo hay dọc theo bờ biển của vùng đất chính. Nhiều người đánh cá cũng nuôi cừu. Đàn ông ra biển đánh cá, đàn bà, trẻ con có khuynh hướng nuôi cừu và dệt vải len.

Gần đây một số phát triển mới diễn ra ở vùng Cao nguyên để thu hút dân. Các đập nước mới đang khai thác sức nước của các dòng suối ở cao nguyên để sản xuất điện cho thành phố và cho vùng công nghiệp mới. Nhiều vùng phía tây của cao nguyên đang trồng lại rừng. Các công nhân trồng rừng được cấp nhà riêng và đất để họ mang gia đình đến đó. Việc làm này đã làm cho nhiều vùng của cao nguyên thêm dân cư mới và một số trường học mọc lên.

Thành phố Aberdeen

Photographer ©Richard I'Anson/ Lonely Planet Images

Aberdeen “Thành phố bạc gần biển”

Vì dân số ít, vùng Cao nguyên thật sự không có các thành phố lớn. Aberdeen nằm trên bờ biển phía đông bên bờ sông Dee và Don là thành phố lớn thứ ba của Scotland về dân số, về công nghiệp và sự giàu có Aberdeen nổi tiếng là “Thành phố granite” nhờ và số lượng lớn granit xám được khai thác ở hầm mỏ cách đây 300 năm ( tuy nhiên đã bị ngưng khai thác từ năm 1971 ). Rất nhiều ngôi nhà ở thành phố được làm bằng những loại đá sáng này, đến nổi Aberdeen được mệnh danh là “Thành phố bạc gần biển” (the Silver city by the sea), vì thường sau các trận mưa lớn các ngôi nhà như sáng lên dưới ánh nắng mặt trời.

Nhờ sự cải tiến kỹ thuật vào thế kỷ XX, ngành đánh cá trở nên vượt trội hơn và Aberdeen trở thành trung tâm công nghiệp đánh cá. Tuy nhiên, trong những năm qua, ngành đánh cá suy thoái do lượng cá giảm và cảng này được sử dụng cho các tàu chở dầu lớn. Cảng cá được dời đến Peterhead và Freserburg ở phía bắc .

Phần lớn ngành công nghiệp hàng đầu vào trước thập niên 70 của thế kỷ XX đều đã có từ thế kỷ XVIII. Đó là các ngành dệt len, lanh và vải. Công nghiệp làm giấy là một trong những ngành công nghiệp nổi tiếng và cổ xưa của thành phố. Giấy được làm đầu tiên ở Aberdeen từ năm 1694. Thập niên 1970 Aberdeen trở nên giàu có nhờ dầu thô khai thác ở Bắc Hải và trở thành trung tâm công nghiệp dầu khí ở châu Âu.

2. Vùng Đất thấp ( Lowlands ) : Vùng giàu nhất Scotland

Nằm giữa vùng Cao nguyên và vùng Biên giới là Vùng Đất thấp. Đây là vùng hẹp của Scotland. Khoảng cách từ vịnh Clyde tới vịnh Forth chỉ có 56 km. Tuy nhiên ở dải đất nhỏ này có ít nhất 75% dân Scotland sinh sống và đa số là thương gia.

Thành phố Glasgow và Edinburgh : Thành phố lớn ở Scotland

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Toà Thị chính Glasgow, di sản kiến trúc Victoria

Trên bờ sông Clyde là thành phố Glasgow sinh động, tấp nập và là thành phố lớn nhất Scotland. Vào khoảng thế kỷ thứ XVI, Glasgow đã là trung tâm thương mại lý tưởng. Sông Clyde cung cấp vị trí thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa khắp thế giới bằng thuyền. Glasgow còn là lối vào thành phố Edinburgh và những vùng còn lại của Scotland. Tài nguyên thiên nhiên được vận chuyển khắp thế giới qua cảng của thành phố này. Do việc ra vào Đại Tây Dương thuận lợi, Glasgow mua thuốc lá của châu Mĩ rồi bán vào cho châu Âu và nhập khẩu đường từ Caribbean.

Nhờ lượng than, sắt phong phú ở vùng Lanarkshire, Glasgow trở thành thành phố công nghiệp quan trọng vào thế kỷ XVIII, XIX . Ở Glasgow và vùng lân cận, người ta làm nhiều sản phẩm khác nhau. Những sản phẩm này thay đổi từ tàu thủy, đầu máy xe lửa, đến vải vóc, hóa chất và rượu Ecot. Tuy nhiên Glasgow nổi tiếng nhất là nghề đóng tàu và là trung tâm sắt thép. Các xưởng đóng tàu ở bờ sông Clyde đã làm hàng không mẫu hạm cho hải quân Anh. Hai chiếc tàu đi biển lớn là Queen Mary và Queen Elizabeth đã được làm ở gần Glasgow. Glasgow trở thành một trong những thành phố giàu có nhất thế giới và nhiều toà nhà lộng lẫy, công viên, viện bảo tàng, thư viện được xây dựng trong thời gian này. Bấy giờ, người Glasgow thích khoa trương rằng họ có con đường dài nhất ở Vương quốc Anh, rạp hát lớn nhất châu Au và nhà máy sản xuất giấy thấm lớn nhất thế giới.

Không giống Edinburgh, Glasgow có rất ít di tích thời Trung cổ. Đa phần các kiến trúc mà chúng ta thấy ở thành phố ngày hôm nay đều xuất phát từ thế kỷ XIX. Nhìn chung, Glasgow có di sản kiến trúc Victoria đồ sộ bao gồm Toà Thị chính thành phố Glasgow ( Glasgow City Chambers or Town Hall), Đại học Glasgow, được thiết kế bởi George Gilbert Scott và Trường Mỹ thuật Glasgow, một kiến trúc tuyệt hảo được thiết kế bởi Charles Rennie Mackintosh.

ANH 12

Thư viện của Trường Mỹ thuật Glasgow được thiết kế bởi kiến trúc sư nổi tiếng nhất của thành phố, Charles Rennie Mackintosh, đây là một trong nhiều toà nhà đẹp của thành phố. Nó được xây dựng khoảng năm 1897 và 1909.

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Glasgow đương đầu với những khó khăn về kinh tế, nhiều xưởng đóng tàu phải đóng cửa. Địa vị quan trọng về kinh tế của Glasgow mất dần khi mà vào thập niên 1970, 1980 các nhà máy sắt thép, mỏ than, nhà máy cơ khí, các ngành công nghiệp nặng khác bị phá sản.

Ngày nay, Glasgow đã tự khôi phục lại tuy cách biệt hẳn với các ngành công nghiệp có thời làm nó nổi tiếng. Đó là sự phát triển của ngành công nghiệp kỹ thuật cao ở thung lũng Silicon, bù vào sự suy sụp của ngành công nghiệp nặng của Glasgow. Nó được ban tặng là Thành phố văn hoá năm 1990, Thành phố kiến trúc và thiết kế năm 1999. Nó còn là Thủ đô thể thao của châu Âu năm 2003.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Toà lâu đài Edinburgh nằm trên đỉnh vách đá cheo leo của một núi lửa đã tắt

Cách Glasgow 72km về phía đông, gần vịnh Forth là thành phố Edinburgh. Một số vùng của thành phố nằm trên sườn đồi dốc. Trên các sườn đồi người ta thấy một số toà lâu đài bằng đá cổ xưa và các pháo đài. Toà lâu đài nổi tiếng nhất là Edinburgh. Nó nằm trên đỉnh vách đá cheo leo của một núi lửa đã tắt nhìn xuống một khu vực cổ của thành phố, trên các nhà cửa chen chút và đường phố chật hẹp như phố Princes, phố chính buôn bán của Edinburgh. Du khách thường đi bộ lên toà lâu đài trên con đường lát đá ngoằn ngoèo. Cách đây không lâu một sinh viên Scotland mặc váy trèo lên vách đá dốc ở bên sườn toà lâu đài, hàng ngàn người đứng xem và hoan hô ở đường phố bên dưới. Người ta nói rằng đây là lần đầu tiên trong hơn 600 năm một người đã leo lên được vách đá này.

06.08.2005

Phố Princes, phố chính buôn bán của Edinburgh

Edinburgh, trung tâm lịch sử và truyền thống của Scotland, là thủ đô của Scotland từ năm 1492. Nơi đây có những dinh thự cũ kỹ cổ xưa của chính phủ, nhà thờ, chợ và trường học cũng như ngân hàng chính. Edinburgh cũng có nhiều nhà in cũ, nơi mà tác phẩm của các tác giả nổi tiếng được in ấn. Trường Đại học Edinburgh là một trong những trường đại học nổi tiếng và cổ xưa nhất thế giới. Nó đã thu hút sinh viên ở nhiều nơi bao gồm cả Mĩ. Tuy nhiên nhiều toà lâu đài ở khu phố cổ bị hủy diệt trong trận hoả hoạn năm 1824. Sau đó chúng được xây dựng lại trên nền móng cũ.

Vào ngày 7 tháng mười hai năm 2002, một trận hoả hoạn khác xảy ra ở khu phố cổ đã tiêu hủy câu lạc bộ hài kịch nổi tiếng, The Gilded Balloon, và phần lớn bộ phận tin học của trường Đại học Edinburgh bao gồm thư viện AI (Artificial Intelligence ) .

ANH 16

Khu phố cổ Edinburgh

Nền kinh tế Edinburgh ngày nay dựa chủ yếu vào lĩnh vực dịch vụ, quan trọng là dịch vụ du lịch và ngân hàng. Ngân hàng Scotland thiết lập năm 1695, ngày nay là một phần của tập đoàn HBOS, đặt trụ sở tại Edinburgh. Ngân hàng Hoàng Gia Scotland thiết lập năm 1747 ngày nay là ngân hàng lớn thứ năm trên thế giới.

3. Vùng Biên giới ( Borderlands )

ANH 17.jpg

Ngừơi chăn cừu ở vùng đồi biên giới gần thung lũng sông Tweed. Phía sau là hồ chứa nước Talla hoàn thành năm 1905 cung cấp nước cho Edinburgh.

Vùng thứ ba của Scotland là vùng Biên giới. Vùng Biên giới trải ngang qua miền Nam Scotland và tiếp giáp với Bắc England .

Vùng Biên giới là vùng đồi nhưng chúng không quá cao và quá ghồ ghề như vùng Cao nguyên và chúng có nhiều đất trồng hơn. Các thung lũng khá rộng cung cấp chỗ cho nông trại, và sườn đồi dốc xanh tươi cung cấp cỏ khô và đồng cỏ cho bò và cừu. Bò sữa được nuôi ở phía tây và những vùng có mưa nhiều ở vùng Biên giới. Như ở vùng Cao nguyên, cừu rất nhiều ở khắp các miền đất ghồ ghề. Len lấy từ lông cừu được làm thành những tấm vải tuyệt vời ở nhiều tỉnh thành và vùng nông thôn. Vải này gọi là Tweed (thứ vải len nhuộm trước khi dệt). Việc làm vải Tweed rất quan trọng ở thung lũng sông Tweed dọc theo phía đông nam biên giới. Cho đến thập niên 1930, loại vải này vẫn còn được nhuộm bằng màu lấy từ cây thạch nam, địa y, và các loại rễ cây khác. Trong những năm gần đây, do nhu cầu giảm và sự cạnh tranh về giá cả đã đẩy ngành công nghiệp này vào tình trạng khó khăn.

II. ENGLAND : TRUNG TÂM VƯƠNG QUỐC ANH

England là vùng rộng lớn nhất và đông dân nhất của Vương quốc Anh, bao gồm phần trung tâm và phía nam của đảo Great Britain kể cả các đảo ở ngoài khơi của nó, lớn nhất là đảo Isle of Wight. Về phía bắc vùng England giáp với Scotland về phía tây giáp với xứ Wales. Nó gần với châu Âu hơn những vùng khác của đảo Great Britain và cách với Pháp khoảng 34km đường biển. Đường hầm qua eo biển ở gần Dover nối England với lục địa châu Au.

Phần lớn England là vùng đồi gợn sóng, nhưng ở phía bắc có nhiều núi. Dãy núi thấp gọi là Pennines, chạy xuyên qua phần đất hẹp ở phía bắc Anh, chia cắt phía đông và phía tây England. Nếu đến vùng này, bạn sẽ thấy những thung lũng đẹp xanh tươi và các ngọn đồi phủ đầy hoa thạch nam ngay ở gần vùng Boderlands của Scotland. Ở đây bạn cũng sẽ trông thấy những người chăn cừu với các con chó xù lùa đàn cừu lông dày từ đồng cỏ này sang đồng cỏ khác.

ANH lake district

Tarn Hows, là nơi đẹp nổi tiếng nhất trong vùng Lake District, ngày nay được bảo vệ bởi Ban quản trị quốc gia.

Ngay ở phía tây của Pennines là vùng có nhiều hồ. Vùng này gọi là Lake District. Vùng Lake District nổi tiếng về phong cảnh đẹp và địa điểm cắm trại tuyệt vời. Nhiều nhà văn Anh đã thăm viếng Lake District và viết về nó. Nhiều du khách cũng thích thăm viếng vùng này .

Phía đông của vùng đồi Pennines là vùng đồng bằng rộng, với vùng đầm lầy thấp, bằng phẳng được tháo nước để trồng các vụ mùa. Đây là vùng nông nghiệp rất quan trọng của Vương quốc Anh. Bởi vì ở phía đông hơi khô khan, nông dân trồng lúa mì ở những vùng đất màu mỡ hơn. Tuy thế, người ta cũng nuôi bò và bò sữa ở đồng cỏ. Về phía đông bắc, đông nam của đồng bằng này, đất ghồ ghề hơn và đất trồng có nhiều sỏi đá hơn. Nơi đây việc nuôi cừu rất quan trọng.

ANH 18.jpg

1. London 2. Đông Nam 3. Tây Nam 4. Tây Midlands 5. Tây Bắc 6. Đông Bắc 7. Yorkshire và 8. Đông Midlands Humber 9. Đông England

England gồm 9 vùng hành chính : Vùng London, Đông Nam, Tây Nam, Tây Midlands, Tây Bắc, Đông Bắc, Yorkshire và Humber, Đông Midlands, Đông England.

1. Thành phố Newcastle upon Tyne : Thành phố vùng Đông Bắc England

Chúng ta hãy quan sát bản đồ để xem vị trí của các thành phố lớn ở miền Bắc England. Các thành phố này tụ tập quanh cửa một số con sông chảy ngang qua đồng bằng. Thành phố lớn nhất và quan trọng nhất là Newcastle upon Tyne, thường chỉ gọi là Newcastle, nằm ở vùng Đông Bắc Enland.

Newcastle của England và Glasgow của Scotland giống nhau về nhiều phương diện. Newcastle nằm bên bờ sông Tyne. Glasgow nằm bên bờ sông Clyde. Newcastle và Glasgow đều nằm gần nguồn quặng than và sắt. Vì thế cả hai thành phố đều trở nên quan trọng trong nghề đóng tàu. Newcastle đóng nhiều tàu chở hàng và bồn chứa dầu.

CAU TREN SONG TYNE

Cầu trên sông Tyne, Newcastle- upon-Tyne

Có bao giờ người ta nói với bạn rằng “Carrying coals to Newcastle”. Điều đó có nghĩa bạn đang làm điều gì đó vô ích. Người ta mang than ra khỏi Newcastle hơn là mang vào. Thật vậy, Newcastle trở thành một thành phố phát triển nhờ vào vai trò trung tâm của nó trong việc xuất khẩu than đá từ vỉa than Northumberland. Vào thế kỷ XIX, sự thịnh vượng của thành phố là nhờ ngành công nghiệp đóng tàu, công nghiệp nặng và công nghiệp điện lực. Đường Mosley, ở trung tâm Newcastle, là con đường có điện đầu tiên trên trên thế giới. Những thành tựu của Newcastle và vùng lân cận lúc đó bao gồm đèn an toàn dùng trong các mỏ than còn gọi là đèn Davy do Humpry Davy phát minh năm 1815. Đầu máy xe lửa của Stephenson dùng trong mỏ than Killingworth năm 1814, đưa ngành hoả xa từng bước thành ngành giao thông quan trọng. Công ty bóng đèn điện Swan của Joseph Swan thành lập năm 1881. Ngoài ra là turbin dùng cho tàu thủy chạy bằng hơi nước, phát minh của Charles Parson và ngành sản xuất vũ khí ( công ty của William Armstrong ).

Nửa sau thế kỷ XX, ngành công nghiệp nặng suy thoái. Ngày nay thành phố chỉ quan trọng về công nghiệp điện lực và buôn bán lẻ.

2. Thành phố Manchester và Liverpools: Thành phố vùng Tây Bắc England

Thành phố Manchester

TOA THI CHINH MANCHESTER

Toà Thị chính Manchester có kiến trúc gothic xây dựng vào cuối thế kỷ XIX, thời hoàng kim của Manchester.

Manchester là thành phố nằm ở vùng Tây Bắc England, nằm ở trung tâm của một hạt rộng lớn gọi là Greater Manchester.

Khoảng thế kỷ XIV, Manchester có những dòng người thợ dệt Flemish nhập cư, đôi khi được xem là những người tiên phong cho kỹ nghệ dệt của vùng. Thế kỷ XIX, Manchester trở thành trung tâm sản xuất và mua bán len, vải lanh nổi tiếng trên thế giới, do vậy Manchester đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng công nghiệp ở Vương quốc Anh.

Vào thời đó các xí nghiệp dệt thường nằm bên sườn tây của dãy Pennines và tập trung quanh Manchester. Khu vực này thuận lợi vì gần cảng Liverpool, nơi mà sợi bông từ Mỉ, Ấn Độ và Phi châu nhập khẩu vào. Cách đây nhiều năm một con kênh được xây dựng để vận chuyển sợi bông vào tận Manchester. Ngày nay kênh Manchester là đường thủy tấp nập với nhiều bến cảng, kho hàng và nhà máy.

Chúng ta cũng biết rằng phía tây của Vương quốc Anh mưa nhiều hơn phía đông. Đây cũng là điều thuận lợi. Không khí bên trong xưởng dệt phải có lượng lớn hơi ẩm. Nếu trong phân xưởng không khí quá khô sợi chỉ sẽ dễ đứt và rối tung. Ngày nay với máy điều hoà không khí hiện đại, xí nghiệp dệt có thể xây dựng khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên trước kia người ta phải sử dụng điều kiện không khí tự nhiên. Sườn tây của dãy Pennines là một trong những nơi tốt trên thế giới đối với kỹ nghệ dệt.

Đồng thời sự phát triển của động cơ máy hơi nước được đưa vào ngành dệt đã làm công nghiệp dệt nhanh chóng phát triển khắp vùng. Anh dẫn đầu thế giới trong việc phát minh, và phát triển máy dệt. Vì thế nó có vị trí hàng đầu trong kỹ nghệ dệt vải.

Đến thập niên 1950, kỹ nghệ dệt của Anh phải đương đầu với nhiều đối thủ như Mĩ, Nhật, An Độ nên hầu như Anh chỉ sản xuất cho chính nhu cầu của nó. Đồng thời sợi nylon và sợi tổng hợp đã phần nào thay thế sợi bông. Công nhân ngành dệt bông phải tìm công việc khác khi vì xưởng dệt vải bông đóng cửa .

QUANG TRUONG MANCHESTER

Quảng trường, nơi có nhiều cửa hàng buôn bán sầm uất của Manchester

Manchester ngày nay là một trung tâm mỹ thuật, phim ảnh, giáo dục bậc cao và thương mại. Manchester còn được xem là thành phố phát triển nhanh nhất về kinh tế. Với vị trí trung tâm và màng lưới giao thông đường bộ lan toả rộng khắp nhất ở Vương quốc Anh, Manchester đã phát triển ngành du lịch, có lượng du khách nước ngoài thăm viếng nhiều đứng hàng thứ ba ở cả nước. Manchester còn là thành phố nổi tiếng về thể thao.

Thành phố Liverpool : một trong những cảng lớn nhất thế giới.

Liverpool là thành phố nằm bên bờ bắc của cửa sông Mersey, vùng Tây Bắc England và là thành phố cảng lớn thứ hai của Vương quốc Anh. Bờ biển nơi đây tuy thấp, nước nông nhưng các máy vét bùn đã giữ cho các kênh mương đủ sâu để các tàu biển lớn vào tới Liverpool.

Ban đầu Liverpool là một cảng được sử dụng như một địa điểm khẩn cấp để gởi quân đội qua Ireland (năm 1207 ). Giữa thế kỷ XVI, dân số Liverpool chỉ khoảng 500 người và phát triển rất chậm. Mãi đến thế kỷ XVIII Liverpool bắt đầu phát triển nhờ vào việc buôn bán từ Tây Ấn, kết hợp với Ireland và châu Âu. Vũng được bơm đầy nước để cho tàu đậu đầu tiên ở Anh được xây dựng ở Liverpool vào năm 1715. Ngoài ra, nguồn lợi lớn lao nhờ việc buôn nô lệ cũng giúp thành phố trở nên thịnh vượng. Đến đầu thế kỷ XIX, 40% việc buôn bán với thế giới đều qua cảng Liverpool. Các tàu chở hàng đã mang đến cho Anh nguyên vật liệu như bông, len, da thú, xăng dầu, thuốc lá, thực phẩm. Những sản phẩm xuất khẩu chính là hàng công nghiệp như vải, hàng len dệt, máy móc, xe đạp, xe ô tô. Mặc dù công việc chính của Liverpool là buôn bán với thế giới, thành phố cũng quan trọng về tinh chế bột, đường, sản xuất hàng da, đóng tàu. Vào giai đoạn phát triển vượt bực này nhiều dinh thự lộng lẫy ở Liverpool được xây dựng như St. George Hall và Ga Lime Street.

GA LIMESTREET

Ga LimeStreet, Liverpools

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, sau một thời gian dài trì trệ, nền kinh tế Liverpool bắt đầu hồi phục. Giữa năm 1995 và năm 2001, tổng giá trị sản xuất ( GVA ) của mỗi đầu người tăng 6,3% một năm, so với London là 5,8% và Bristol là 5,7%. Giống như những vùng khác của Vương quốc Anh, công nghiệp dịch vụ của thành phố rất phát triển, việc sản xuất các thiết bị viễn thông đã trở thành nhu cầu thiết yếu. Du lịch cũng là lãnh vực quan trọng trong ngành kinh tế của Liverpool. Các dinh thự của Liverpool không những thu hút khách du lịch mà còn thu hút những người làm phim, họ thường quay phim ở Liverpool nhiều gấp đôi các thành phố khác trên thế giới.

3/ Thành phố Bradford – Leeds : Thành phố vùng Yorkshire và Humber.

Bradford và Leeds là thành phố của vùng West Yorkshire, nằm ở phía bắc của England. Sông Aire chảy ngang qua thành phố.

Một trong những ngành công nghiệp nổi tiếng nhất và cổ xưa nhất của England là công nghiệp dệt. Vùng đồi Pennines và Scotland nuôi rất nhiều cừu, do vậy công nghiệp dệt len quan trọng ở England. Khu vực dệt len Bradford – Leeds tập trung ở sườn đồi phía đông Pennines ở khu vực lân cận của thành phố Leeds và Bradford. Đây là vị trí thuận lợi để thu mua được len của những người nuôi cừu ở vùng đồi Pennines. Nó cũng là vị trí thích hợp cho các xí nghiệp dệt len chạy bằng bánh xe nước trước khi máy hơi nước chạy bằng than ra đời.

KENH LEED LIVERPOOL

Kênh đào Leeds– Liverpool

Bradford, Leeds và các vùng lân cận không những chỉ có sức nước mà còn may mắn có nước mềm. Nước mềm là nước có ít khoáng chất trong đó. Điều này tạo sự dễ dàng hơn trong việc hình thành xà bông. Len được giặt trước khi kéo sợi và dệt. Điều này được thực hiện để loại bớt đi chất nhờn ở len gọi là mỡ lông cừu. Sau khi len được giặt, đất, cành cây nhỏ, các cụm hoa có lông dính hay bám vào lông thú bị loại đi, sau đó nó được nhuộm rồi chải. Sợi len được kéo thẳng ra theo một chiều. Kéo chỉ từ sợi len tương đối dễ, bởi vì chúng có những da nhỏ li ti. Bằng cách kéo sợi len thô giữa các ngón tay của bạn, bạn có thể trông thấy các sợi da rất nhỏ đan vào nhau và dính với nhau. Các sợi da giúp giải thích vì sao một số sợi len có cảm giác ngứa. Ngoài lông cừu ở trong nước Anh còn mua lông cừu của Úc, New Zealand, Argentina và Nam Phi. Đổi lại vải len được bán lại khắp nơi trên thế giới. Len của Anh nổi tiếng vì chất lượng cao.

Thành phố Leeds

Leeds toạ lạc giữa một vùng nông nghiệp nằm về phía bắc và phía đông và vùng công nghiệp chế tạo ở phía nam và phía tây của thành phố. Thành phố Leeds là trung tâm công nghiệp và thương mại của khu vực này.

Vào thời kỳ Hoàng gia Anh thuộc dòng dỏi xứ Wales (1485-1603) Leeds chủ yếu là thành phố thương mại chuyên buôn bán vải len với châu Âu qua cửa sông Humber. Có thời gần như một nửa hàng xuất khẩu của England đều qua cảng của sông Leeds. Sự tăng trưởng về công nghiệp của thành phố là nhờ vào việc xây dựng kênh đào Leeds– Liverpool vào năm 1816, đó là con kênh ở Bắc England chảy từ Liverpool qua Merseyside tới Leeds và đường xe lửa năm 1848. Đường xe lửa này nối liền London và các thành phố York, Newcastle, Manchester, Liverpool.

Ngày nay nền kinh tế ở Leeds đã thay đổi với ngành dịch vụ vượt quá ngành sản xuất công nghiệp. Thành phố Leeds là một trung tâm sản xuất và bán sĩ hàng quần áo lớn. Các sản phẩm chế tạo của Leeds gồm có thiết bị điện tử, các sản phẩm giấy, các mặt hàng kim loại. Thành phố có một nhà hát nghệ thuật thành phố xây dựng năm 1888 và bảo tàng thành phố xây dựng năm 1820. Leeds có Đại học Leeds xây dựng năm 1904, Đại học Leeds Metropolitan xây dựng năm 1992, trước đây là một trường cao đẳng bách khoa.

Thành phố Bradford

Bradford city center

Trung tâm thành phô Bradfort

Bradford là thành phố của West Yorkshire, phía Bắc Anh. Thành phố được thành lập năm 1974 và hợp nhất các thị xã Keighley và Shipley. Bradford là trung tâm sản xuất sợi len và mua bán len lông cừu. Nghề buôn bán len ở Bradford xuất phát từ thế kỷ XIII. Đến đầu thế kỷ XVIII thành phố bắt đầu phát triển nhờ vào việc xây dựng kênh đào mới và đường cao tốc. Thế kỷ XIX, Bradford là một thị trấn nhỏ dân số 16.000 người, nơi đây nghề xe sợi len và nghề dệt được tiến hành ở các ngôi nhà tranh hay nông trại. Sau đó có nhiều xưởng xe sợi len mọc lên ở Bradford. Chưa đầy 10 năm sau Bradford trở thành trung tâm len của thế giới, điều này dẫn đến sự phát triển thịnh vượng của ngành công nghiệp và tài chính.

Mặc dù ngành dệt đã suy thoái những năm sau đó, nhưng những chứng tích về lịch sử công nghiệp của thành phố vẫn còn hiện diện như Little Germany, khu thương mại trước kia và ở một số toà nhà đẹp như Wool Exchange, là nơi tiêu biểu cho sự trù phú và quan trọng mà Bradford đạt được từ việc buôn bán len vào giữa thế kỷ XIX. Giữa các cửa hình vòm của Wool Exchange được chạm khắc hình của những người nổi tiếng như Cobden, Sir Tilus Salt, Stephenson, Watt … , và ở nhiều xưởng dệt rải rác quanh vùng.

Wool Exchange Bank

Wool Exchange Bank ( nay là nhà sách)

Nền kinh tế Bradford hiện nay rất đa dạng bao gồm công nghiệp xây dựng, in ấn, hoá chất, tài chính, ngân hàng. Công nghiệp kỹ thuật cao và công nghiệp truyền thông. Ngoài ra thành phố Bradford cũng chế tạo máy móc và hàng lông. Ngành chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa nằm ở khu vực tây bắc của thành phố. Bradford có Đại học Bradford và nhiều trường kỹ thuật. Thành phố có nhà thờ lớn Saint Peter, một công trình thế kỷ XV.

4/ Thành phố Birmingham, Coventry : Thành phố vùng Tây Midlands, vùng công nghiệp quan trọng của England.

Thành phố Birmingham

KF2-2002

Kênh ở Brindleyplace trung tâm Birmingham

Là thành phố lớn thứ hai ở Vương quốc Anh và có nhiều kênh đào hơn cả thành phố Venice của Ý, với khoảng 60 km kênh đào trong khi Venice chỉ có khoảng 41,6 km. Các con kênh này là nguồn huyết mạch của thành phố trong suốt cuộc cách mạng công nghiệp.

Vào thời Trung cổ, Birmingham chỉ là một làng nhỏ của người Anglo- Saxon. Từ thế kỷ XII trở đi Birmingham phát triển thành một trung tâm thương mại, thành phố công nghiệp quan trọng nổi tiếng về sản xuất vũ khí loại nhỏ. Các nhà máy của Birmingham đã cung cấp cho lực lượng quân đội Oliver Cromwell nhiều vũ khí trong cuộc nội chiến của Anh.

KF2-2002

Toà nhà New Selfridges xây dựng năm 2003 là một phần của trung tâm thương mại Bull Ring ở trung tâm thành phố Birmingham.

Trong suốt cuộc cách mạng công nghiệp từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, nhờ vào lượng than, sắt phong phú và lực lượng lao động có kỹ thuật, Birmingham đã phát triển thành trung tâm công nghiệp chính. Đến thời đại Victoria, dân số của thành phố tăng hơn nửa triệu người và là thành phố đông dân thứ hai của Vương quốc Anh. Nó còn được mệnh danh là “Thành phố của ngàn thương vụ” do có nhiều ngành sản xuất công nghiệp khác nhau được đặt ở vùng này bao gồm các nhà máy sản xuất kiếm, súng lục, đồng hồ, nữ trang. Các ngành dược phẩm và hoá chất đều phát triển thịnh vượng.

Birmingham là trung tâm công nghiệp và kỹ thuật lớn vượt các thành phố khác của Vương quốc Anh, đóng góp hàng tỷ bảng Anh cho nền kinh tế quốc gia với hai hảng xe ô tô lớn là MG Rover và Jaguar, không kể hảng Land Rover ở gần Solihull – hơn 25% hàng xuất khẩu của Vương quốc Anh xuất phát từ Birmingham và vùng lân cận. Các sản phẩm chính của Birmingham gồm xe ô tô, các bộ phận và phụ tùng xe ô tô, vũ khí, thiết bị điện, chất dẻo, máy công cụ, hoá chất, thực phẩm, nữ trang và thủy tinh.

KF2-2002

Đường mới ( New Street ), Birmingham

Trong những năm gần đây kinh tế của Birmingham đã chuyển đổi sang ngành công nghiệp dịch vụ, buôn bán lẻ và du lịch. Ngoài ra, công cuộc nghiên cứu khoa học bao gồm kỹ thuật nano ở Đại Học Birmingham đang phát triển và sẽ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế tương lai của nó. Birmingham còn là một trong những trung tâm nghiên cứu về ung thư quan trọng nhất thế giới, nối bước thời đại Victoria về nghiên cứu y học như việc dùng tia X cho mục đích y học mà John Hall – Edwards đi tiên phong năm 1908.

Thành phố Coventry

Coventry là thành phố của vùng Tây Midland, England và là thành phố lớn thứ chín ở England. Giống như những vùng khác của Midlands, Conventry phát triển rất nhanh. Mỗi năm nhiều nông trại và đồng cỏ của Midlands bị nuốt chửng bởi sự phát triển công nghiệp và sự phát triển của thành phố.

Coventry từ lâu là trung tâm công nghiệp ô tô và xe đạp. Từ năm 1896, ngành công nghiệp sản xuất xe ô tô và xe đạp là thế mạnh của thành phố này. Xe mô tô Triumph sản xuất năm 1902 ở nhà máy Coventry. Các nhà máy Jaguar, Rover, Rootes là ba trong nhiều nhà máy nổi tiếng ở Anh. Loại xe taxi đen nổi tiếng ở London cũng được sản xuất ở Coventry bởi công ty LTI. Ngoài ra Coventry còn sản xuất thiết bị điện, máy công cụ, máy nông nghiệp, sợi nhân tạo, bộ phận máy bay, thiết bị điện thoại.

NHA THO COVENTRY

Di tích nhà thờ thời Trung cổ , Coventry bị chiến tranh tàn phá.

Thời kỳ tăm tối nhất của Coventry là Chiến tranh thế giới thứ hai. Do Coventry là trung tâm công nghiệp quan trọng cung cấp máy bay, xe tăng, máy móc và vũ khí nên thành phố này bị Đức dội bom tàn phá. Hàng ngàn nhà cửa, nhà thờ thời Trung cổ của thành phố bị phá hủy, 75% nhà máy bị tổn thất. Sự tàn phá kinh khủng đến mức từ “Koventrieren” – “ Coventrate” hay “Ném bom tàn phá” đã đi vào ngôn ngữ của Đức và Anh.

Sau chiến tranh thành phố được tái thiết. Trung tâm thành phố mới được xây dựng vào thập niên 1950 theo thiết kế của nhà thiết kế trẻ Donald Gibson, bao gồm khu vực dành riêng cho việc buôn bán không có xe cộ ra vào, ý tưởng này được mô phỏng ở khắp châu Âu. Nhà thờ chính toà hiện đại Coventry cũng được xây dựng lại bên cạnh di tích cũ, là nơi chứa bức thảm thêu “ Chúa ở Majesty” nổi tiếng.

Khủng hoảng kinh tế thập niên 1970 và 1980 đã khiến nhiều nhà máy ở thành phố đóng cửa, nhiều công nhân thất nghiệp. Trong những năm gần đây kinh tế Coventry bắt đầu phục hồi, với ngành công nghiệp kỹ thuật cao đặt tại thành phố. Trung tâm thành phố cũng được xây dựng lại hiện đại hơn.

 5/ Thủ đô London : Trung tâm tài chính, thành phố lớn nhất của Anh.

thanh pho london

Toàn cảnh thành phố London

Khoảng năm 50 trước Công nguyên, người La Mã thiết lập thành phố Londinium bên bờ bắc của sông Thames do vị trí quan trọng của nó trong việc chuyên chở nông sản và khoáng sản bằng thuyền. Sau khi đế quốc La Mã sụp đổ, thành phố này thuộc sở hữu của người Saxon, thành phố lớn nhất của England. Thế kỷ thứ XVIII London là một trong những thành phố lớn nhất thế giới. Vùng London ngày nay gồm thành phố London và 32 thị xã, kể cả thành phố Westminster, dân số 8,6 triệu người (năm 2005). Thành phố London chủ yếu là trung tâm tài chính về phương diện địa lý chỉ là một vùng rất nhỏ.

Về nhiều phương diện London có những điểm giống và khác nhau với thành phố New York. Giống New York, London đã mở rộng diện tích về mọi phía. Do đó, ta thấy cả New York và London đều cần hệ thống xe điện ngầm để dân chúng di chuyển từ nơi này đến nơi khác.

Một trong những điểm khác biệt giữa New York và London là London không có nhiều nhà chọc trời. Điều này tạo cho London một không khí rất khác với New York. Không nhiều thành phố ở châu Âu có những toà nhà cao. New York cần chúng vì đất đai giới hạn ở đảo Manhattan. London có thể mở rộng hơn. New York may mắn có đá cứng gần trên bề mặt để giữ vững móng của các nhà chọc trời. London có lớp đất sét dày bên dưới thành phố. Tuy nhiên các toà nhà ở London thường cao từ 8 đến 10 tầng. ( Trừ vài ngoại lệ, các địa điểm quan trọng của London đều là các toà nhà mang tính lịch sử chứ không phải các cao ốc. Điều này vẫn được duy trì trong suốt thế kỷ 20. Nay, quang cảnh London đang có những biến đổi to lớn. Các toà nhà cao tầng bắt đầu xuất hiện).

Ở cả New York và London đều có nhiều doanh nghiệp thế giới về ngân hàng, bảo hiểm, môi giới, kiểm toán. Thị trường chứng khoán buôn bán trái phiếu và chứng khoán đều nằm ở những thành phố này. Nơi đây số lượng lớn tiền thay tay đổi chủ mỗi ngày.

Các nhà máy, hầm mỏ ở khắp mọi miền trên thế giới có thể được điều khiển ở văn phòng London và New York. Ở hai thành phố mammoth này bạn có thể mua hầu như bất cứ sản phẩm nào từ bất cứ nơi nào trên thế giới.

Cả New York và London đều là những hải cảng. Tuy nhiên New York có một số tiện lợi hơn London. Nước ở cảng New York sâu hơn và có nhiều nơi để thả neo hơn. Do thiếu nước sâu và đường thủy đến London xa hơn khiến các tàu chở hành khách Queen Mary và Queen Elizabeth phải đón hành khách ở cảng Southamton, England. Tuy ngày nay cảng London chỉ lớn thứ ba ở Vương quốc Anh, nó vẫn bốc dỡ 50 triệu tấn hàng hoá mỗi năm.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Toà nhà Quốc hội Anh và tháp đồng hồ Big Ben nhìn từ cầu Westminster

Là những thành phố lớn trên thế giới, New York và London là trung tâm văn hoá quan trọng. Cả hai thành phố này không những có viện bảo tàng nổi tiếng, thư viện, trường học mà còn là nơi quy tụ nhiều nhà văn, hoạ sĩ, kịch sĩ. Những người này đã trải tư tưởng, lối suy nghĩ qua kịch, sách, thông tin và cả quảng cáo nữa. Nhiều cuốn phim được thực hiện ở London và nó là quê hương của đài BBC. New York và London thiết lập các kiểu mẫu về lối sống và được nháy lại ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới.

Một trong những điểm khác đặc sắc nhất giữa New York và London là London đã thực sự trở thành một thành phố lớn rồi khi đó người Hà Lan chỉ mới mặc cả với người da đỏ để mua đảo Manhattan. Vì thế du khách tới London có thể trông thấy nhiều toà nhà lịch sử lý thú và phong cảnh đẹp. Trong số đó có Westminster Abbey, nơi chôn cất những người nổi tiếng, Điện Buckingham, nơi Nữ hoàng sống và toà nhà Quốc hội. Ở tháp của toà nhà Quốc hội là Big Ben. Cái chuông nổi tiếng trên đồng hồ Westminster đã đánh lên báo giờ mỗi ngày kể từ năm 1858. Big Ben có ý nghĩa rất nhiều đối với người dân Anh cũng như chuông tự do đối với người dân Mĩ.

Toà nhà Quốc hội ở London và toà nhà Liên Hiệp Quốc ở New York tiêu biểu cho sự giống nhau giữa hai thành phố này. New York là nơi gặp gỡ của Liên Hiệp Quốc. Trung tâm đầu não của các nước liên bang là ở London. Những vùng đất tự trị của đế quốc Anh trước kia như Canada, Úc , Ấn Độ kết hợp nhau thành những nước liên bang. Toà nhà Quốc hội và toà nhà Buckingham gợi cho chúng ta nhớ đến truyền thống và tài năng lãnh đạo của người Anh.

HE THONG GIAO THONG ANH

Hệ thống giao thông ở Anh

London còn là đầu mối giao thông đường bộ bắc nam và giao thông đường thủy đông tây. Có lẽ bạn đã trông thấy những bức ảnh của các cây cầu bắc ngang qua sông Thames với xe ô tô, xe buýt 2 tầng, người đi bộ, xe đạp, xe tải ngang qua đó. Mặc dù những chiếc cầu này đã cũ kỷ, nhưng chúng vẫn phục vụ tốt cho xe cộ lưu thông hàng ngày. Những chiếc cầu này giúp giải thích vị trí của London. Dòng sông nơi đây hẹp nên dễ xây dựng các cây cầu vượt qua.

CAU TOWER

Cầu Tower trên sông Thames

Tất cả những đường xa lộ chính, và đường xe lửa đều dẫn đến hay xuất phát từ vùng London. Bạn có thể dễ dàng dùng London làm điểm xuất phát để từ đó thăm viếng nhiều nơi khác nhau ở phía đông nam England. Bạn có thể du lịch về phía bắc thăm viếng đại học nổi tiếng Cambridge. Đại học Oxford, một đại học nổi tiếng ngang hàng, nằm ở phía tây bắc London. Cảng Bristol và eo biển Bristol chỉ ở 176 km về phía tây London. Về phía nam và tây nam London là eo biển Anh và các cảng Porthsmouth và Southamton. Từ London bạn có thể dễ dàng thăm viếng Dover và vách đá vôi trắng của nó.

GIAO LO Gravelly Hill

Giao lộ Gravelly Hill còn mệnh danh là “Giao lộ mì ống” cách trung tâm thành phố Birmingham khoảng 3km. Là một trong những giao lộ phức tạp nhất châu Âu.

Điều lý thú là hệ thống giao thông của London là một trong vài hệ thống trên thế giới rất hấp dẫn du khách ; bao gồm các đường xa lộ, xe điện và xe điện ngầm ; và mạng lưới đường hoả xa khổng lồ của nó chỉ đứng hàng thứ hai sau Tokyo. London có vài phi trường lớn như Heathrow, Biggin Hill và Northolt. Trong số này Heathrow là phi trường chính và cũng là phi trường quốc tế. Nhà đón khách của nó lúc nào cũng đông đúc tấp nập.

Ngày nay, cạnh tranh với trung tâm tài chính cũ của thủ đô London là trung tâm tài chính thứ hai đang phát triển ở Cảng Canary phía đông trung tâm London. Cảng Canary chứa ba toà nhà cao nhất Vương quốc Anh : Canada Square hay tháp Canary Wharf, tháp HSBC và trung tâm Citigroup. HSBC là một trong những tập đoàn ngân hàng lớn trên thế giới, chỉ đứng sau Citigroup. Khoảng 70% lợi nhuận của ngân hàng là từ bên ngoài Vương quốc Anh, gần 40% lợi nhuận từ Hongkong. Trước khi di chuyển đến London vào đầu thập niên 1990, nó được đặt trụ sở tại Hongkong. Thành viên sáng lập của nó là Tập đoàn ngân hàng Hongkong và Thượng Hải, ngân hàng được thiết lập để tài trợ cho hoạt đông thương mại ở viễn đông năm 1865.

PORTSMOUNTH

Cảng Portsmouth, nằm ở phía nam England, là trung tâm giao thông đường biển của Vương Quốc Anh trong hàng thế kỷ và là nơi đặt một trong những xưởng đóng tàu quan trọng của Anh.

Khắp trung tâm London là trụ sở các ngành phi thương nghiệp, một số tại thành phố London, nhưng phần lớn tập trung ở phía tây, quanh Mayfair, St Jamess, The Strand và các nơi khác. Hơn phân nửa trong số hàng trăm công ty hàng đầu của Vương quốc Anh đặt trụ sở tại London. London là một trung tâm hàng đầu của thế giới về các dịch vụ chuyên nghiệp ( professional services), truyền thông và công nghiệp chế tạo. Du lịch cũng là một trong những ngành kinh doanh lớn nhất Vương quốc Anh.

Hàng năm nền kinh tế London thu nhập 116.444 triệu bảng Anh, và đóng góp 17% tổng sản phẩm quốc nội cho nền kinh tế Vương quốc Anh, là trung tâm tài chính lớn thứ tư thế giới – ngang với Newyork, Tokyo. Trong vòng vài thế kỷ nay, London là một trong những vùng có ảnh hưởng lớn về chính trị, tài chính, nghệ thuật và thời trang.

6/ Cornwall : hay bán đảo Cornish ở tây nam England.

THUY TIEN

Thủy tiên hoa vàng

Nếu bạn du hành từ London tiến về phía tây tới bán đảo Cornish, bạn có thể nghĩ rằng bạn ở thế giới khác. Bán đảo có những bờ đá đẹp với những mũi đất trơ trọc và nhiều vịnh. Từ bờ biển vào đất liền phần lớn là đồi, nhiều vùng đất được bao phủ bởi truông cỏ. Truông cỏ là vùng đất xấu rộng lớn bao phủ bởi cỏ cứng. Chúng được sử dụng như một vùng đất để cho cừu và ngựa gặm cỏ mà không rào lại. Có những mảnh rừng sồi nhỏ tiếp giáp với các truông cỏ. Ở những vùng đất tốt hơn ở bán đảo Cornish người ta cũng nuôi nhiều bò sữa. Nơi đất canh tác được, nông dân trồng cỏ, rau và hoa.

CHIM DI TRU

Chim di trú ở Scilly

Ở đầu nhọn của bán đảo là một điểm mệnh danh là Lands End. Ngoài khơi mũi Lands End là quần đảo Scilly. Quần đảo Scilly gồm năm đảo có người ở ( St. Mary, Tresco, St. Martin, St. Agnes và Bryher ) và nhiều đảo nhỏ không người ở khác nằm cách Lands End 44,8km ; toàn bộ dân số trên đảo có khoảng 2.000 người. Đảo Scilly khí hậu ôn hoà, có thể trồng hoa vào tháng giêng. Phần lớn sản phẩm nông nghiệp ở đây là hoa, chủ yếu là thủy tiên hoa vàng. Thực thế, mùa đông ấm áp của toàn bờ biển phía nam của England đã khiến nó trở thành nơi du lịch nổi tiếng. Mùa du lịch được mở rộng vào tháng 10 khi nhiều người săn chim đến. Do vị trí của nó, Scilly là nơi hạ cánh đầu tiên của nhiều loài chim lang thang, bao gồm các loài chim cực kỳ hiếm hoi từ Bắc Mĩ và Siberia di cư sang. Vào mùa hè, bờ biển cũng thu hút nhiều người từ London và Midlands đến. Phần cực bắc của đảo phong cảnh tương phản rất sâu sắc, gồm các bụi thạch nam thấp và vách đá trơ trụi bị gió xâm thực mạnh.

BUI THACH NAM SCILLY

Bụi thạch nam thấp ở phía bắc đảo Scilly

Đây đó dọc theo bờ biển là những làng đánh cá nhỏ. Một số mỏ thiếc vẫn còn cung cấp quặng thiếc. Người ta cũng đào đá đen và đất sét trong lòng đất để làm gốm. Mặc dù có những khu du lịch, đồng cỏ, nông trại, hầm mỏ, bán đảo Cornish có vài thành phố lớn và dân số tương đối ít.

Plymouth : Thành phố lớn nhất ở bờ biển phía tây nam.

Plymouth nằm ở cửa sông Plym và sông Tamar. Plymouth rất quan trọng vì là căn cứ hải quân hoàng gia lớn nhất, khu du lịch, trung tâm ngư nghiệp. Plymouth là sự lôi cuốn đặc biệt đối với chúng ta, vì đó là cảng cuối cùng được tàu Mayflower ghé vào trước khi nó vượt biển đi Tân Thế Giới.

III. XỨ WALES : QUÊ HƯƠNG CỦA DÂN TỘC WALES

XU WALE

Wales là vùng đồi núi xanh tươi

Wales nằm trên bán đảo của Vương quốc Anh. Về phía đông Wales tiếp giáp với England, phía nam giáp eo biển Bristol và biển Irish ở phía tây và tây bắc.

Phía nam xứ Wales là vùng công nghiệp đông dân bao gồm thành phố Cardiff và hai thành phố Swansea và Newport .

Phần lớn xứ Wales là vùng đồi núi đặc biệt là miền Bắc xứ Wales và miền Trung xứ Wales. Công viên quốc gia Brecon Beacons ở phía nam và Snowdonia ở phía bắc được nối nhau lại bởi núi Cambrian. Đỉnh cao nhất ở Wales là Snowdon 1085m. Công viên quốc gia Brecon Beacons, thiết lập năm 1957, rộng 1344 km2 . Phần lớn công viên là các bãi đất hoang mọc đầy thạch nam. Các đồn điền trồng rừng và đồng cỏ ở các thung lũng. Hồ Llyn y Fan Fawr, thác Henrhyd là phong cảnh đẹp nổi tiếng của vùng. Công viên quốc gia Snowdonia thiết lập năm 1951, rộng 2170km2 với phong cảnh miền núi ngoạn mục là nơi du lịch lý tưởng đối với nhiều du khách. Các truông cỏ rộng lớn trải dài, đồi xanh, thung lũng miền núi xanh tươi ở Wales nhắc chúng ta nhớ đến bán đảo Cornish, đồi Pennines, và cao nguyên Scotland. Trên cao nguyên Wales có vài hồ, vài con suối ngắn đổ xuống. Một số suối này được đắp đập để cung cấp nước cho thủy điện. Khối lượng nước khổng lồ được các ống dẫn nước dẫn đến tới cung cấp cho các nhà máy và cho nhu cầu của dân chúng ở Birmingham, Midland.

SNOWDON

Đỉnh Snowdon nhìn từ hồ Llyn y Fan Fawr

Dân xứ Wales mạnh mẽ và có tinh thần độc lập. Họ thậm chí nói một ngôn ngữ khác với tiếng Anh. Tiếng Wales không dùng các chữ j, k, q, v, x hay z. Mặc dù đa số người xứ Wales nói tiếng Anh, họ yêu ngôn ngữ của họ và sử dụng chúng trong thơ ca và âm nhạc. Họ cũng thích những nơi tên dài và đôi khi gặp khó khăn trong việc gắn biển báo xe lửa.

Như bạn biết, những ngọn đồi xứ Wales là quê hương những người chăn cừu và hàng ngàn con cừu. Ở các thung lũng rộng lớn có những nông trại nổi tiếng nuôi bò. Trong các thung lũng màu mỡ hơn là những cánh đồng yến mạch và lúa mạch. Người ta cũng trồng cỏ trên sườn núi và sườn đồi thấp hơn.

Thành phố Swansea

Rhossili, Gower

Bãi biển Rhossili, bán đảo Gower

Swansea nằm ở vùng duyên hải ngay phía đông bán đảo Gower là thành phố lớn thứ hai của Wales. Suốt thế kỷ XVIII và XIX nó đã phát triển và trở thành trung tâm công nghiệp nặng quan trọng như hiện nay. Thành phố Swansea được chú ý đặc biệt vì nhiều nhà máy luyện kim của nó. Thép đượctráng thiếc ở Swansea tạo thành sắt tây. Bạn có thể tưởng tượng có bao nhiêu hộp sắt tây được sử dụng mỗi ngày ở thế giới hiện đại. Thành phố Swansea cũng được chú ý vì là trung tâm lọc dầu.

 Swansea là cửa ngỏ của bán đảo Gower, bán đảo này là vùng đầu tiên của Vương quốc Anh được chọn là “Vùng có phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp”. Phong cảnh bờ biển tuyệt vời với bãi cát rộng ở Langland, Caswell và Limeslade được du khách ưa chuộng, trong khi vùng nước rộng yên tĩnh của vịnh Swansea có khuynh hướng hấp dẫn những người say mê thể thao dưới nước. Các con đường nhỏ dọc biển đã nối phần lớn vùng vịnh với nhau, người đi bộ có thể vừa ngắm cảnh biển vừa thưởng thức không khí trong lành. Khung cảnh của vịnh Swansea có lẽ lộng lẫy nhất khi nhìn từ làng Mumbles, một làng đánh cá cũ, còn mệnh danh là Oystermouth là nơi có di tích của toà lâu đài Oystermouth .

LAU DAI Oystermouth

Di tích lâu đài Oystermouth

Ngoài vai trò là khu du lịch, Swansea còn là một trung tâm thương mại và là nơi sản xuất các thiết bị kỹ thuật cao.

Thành phố Cardiff

Cardiff là thành phố lớn nhất ở Wales. Nó nằm ở hạt Glamorgan và là đơn vị hành chính độc lập năm 1996. Trước kia Cardiff là một thành phố nhỏ, mãi đến thế kỷ XIX thành phố nổi bật lên trở thành thành phố công nghiệp trong vùng và là cảng chính để xuất khẩu than đá. Cardiff trở thành thành phố lớn năm 1905 và được chọn làm thủ đô xứ Wales năm 1955. Cảng Cardiff còn được mệnh danh là vịnh Tiger, có thời là một trong những cảng tấp nập nhất trên thế giới, và là nơi xuất khẩu than đá quan trọng. Than Cardiff ở xứ Wales đặc biệt tốt vì chất lượng cao và khá cứng. Loại than này cháy lâu, để lại ít tro ; nên trước đây than Cardiff vận hành phần lớn tàu thủy trên thế giới. Hơn phân nửa than được sử dụng ở chính xứ Wales. Nơi đây nhà máy, lò nấu kim loại, nhà máy tinh chế và phân xưởng đã thả khói đen vào trong không khí. Từ các quốc gia khác đem vào vùng này những sản phẩm như quặng thiếc, đồng và nickel. Những lò nấu kim loại và nhà máy luyện kim đã biến những quặng này thành thiếc, đồng và nickel rất cần thiết cho công nghiệp hiện đại.

LAU DAI COCH

Lâu đài Coch ở Cardiff do Marquess of Bute xây dựng thế kỷ XIX . Gia đình ông đã phát triển cảng Cardiff .

Ban đầu Cardiff tập trung phát triển vào sự chuyên chở than đá, nơi có các mỏ than ở thung lũng Rhondda. Sau đó là sự phát triển công nghiệp sắt thép tạo nhiều công việc cho dân xứ Wales, nhưng sự ô nhiễm không khí là một trong những vấn đề quan trọng của xứ này. Thập niên 1980, hàng ngàn công nhân bị sa thải khi công nghiệp sắt thép dời ra khỏi Cardiff, bao gồm công ty sắt thép lớn nhất là GKN.

IV. BẮC IRELAND

Lough Neagh

Hồ Lough Neagh

Bắc Ireland chỉ cách với Scotland khoảng 32 km. Vì thế chúng ta thấy Bắc Ireland giống Scotland về nhiều phương diện. Thật vậy, ta trông thấy ảnh hưởng của Scotland ở người Bắc Ireland. Nhiều người Bắc Ireland là tổ tiên của người Scotland, những người đã vượt biển tới Bắc Ireland cách đây khoảng 300 năm. Một số người Mĩ nổi tiếng là người Scotch – Irish (người Scotch ở Ireland).

Bắc Ireland là một lãnh thổ nhỏ, diện tích 14.139km2, dân số ước tính 2.050.000 (năm 2005 ). Bắc Ireland bị bao phủ bởi băng hà trong phần lớn thời kỳ băng hà cuối cùng và ở nhiều thời kỳ trước. Ta có thể trông thấy chứng tích băng hà ở các vùng đồi nhỏ hình trứng do các vật liệu băng hà chồng chất mà thành. Bản đồ cho thấy rằng cả Bắc Ireland và Scotland đều có vùng cao nguyên. Cao nguyên của Bắc Ireland không giống như Scotland hình thành một đường viền bao quanh lãnh thổ, với những vùng đất trũng ở giữa. Ở giữa vùng đất trũng là một hồ lớn xinh đẹp, hồ Lough Neagh, hồ nứớc ngọt lớn nhất của quần đảo Anh, diện tích 392 km2. Lough Neagh nằm cách Belfast 30km về phía tây. Các hạt tiếp giáp với Lough Neagh gồm Antrim, Armagh, Derry, Down, và Tyrone. Lough có nghĩa là Lake và giống như chữ Scotland “Loch”.

Trong vùng núi Sperrin là các cao nguyên quan trọng với các mỏ vàng, núi đá granite Mourne, và cao nguyên đất đỏ Antrim cũng như những rặng núi nhỏ hơn ở phía nam Armagh và dọc theo biên giới Fermanagh và Tyrone. Đỉnh cao nhất của Bắc Ireland là ngọn Slieve Donard 848m thuộc núi Mourne. Vùng thượng và hạ lưu sông Bann, sông Foyle, sông Blackwater hình thành những đồng bằng thấp màu mỡ thuận lợi cho việc trồng trọt ở phía bắc và đông Down. Nhưng phần lớn vùng đồi là vùng đất khó trồng trọt, chỉ thích hợp cho chăn nuôi. Đồng bằng màu mỡ bao quanh Lough Neagh là một trong những vùng nông nghiệp chính của Anh.

Hoa thạch nam phủ quanh sườn đồi núi nhắc chúng ta nhớ tới Scotland. Ở đây có nhiều cừu gặm cỏ ở truông cỏ. Giống như Scotland, những thung lũng màu mỡ hơn cung cấp nhiều cỏ tốt cho bò sữa, cừu non và ngựa. Việc nuôi gà cũng rất quan trọng quanh một số thành phố. Bắc Ireland chủ yếu là vùng nông nghiệp. Các nông dân sống trong các nhà tranh nhỏ gọn gàng. Các ngôi nhà mới hơn lợp bằng ngói đá đen bền hơn và chịu được lửa.

Gần giống như Scotland, Bắc Ireland có khí hậu hải dương, phía tây ẩm ướt hơn phía đông nên cung cấp lượng nước dư thừa cho các đồng cỏ và phần lớn vụ mùa. Nhiệt độ trung bình cao nhất ở Belfast là 6,5 oC vào tháng 1 và 17,5o C vào tháng 7 .

Belfast : Thành phố lớn và tấp nập nhất

Chỉ có một thành phố lớn thật sự ở Bắc Ireland, thành phố Belfast. Thành phố Belfast tấp nập, rộn ràng, tương phản rõ rệt với vùng đồng cỏ hoang vắng, vùng đồng bằng nông nghiệp và thung lũng xanh tươi còn lại. Belfast nằm ở cửa sông Lagan bên hồ Belfast, bao quanh là vùng đồi núi ( Núi Đen và đồi Cave – hình thành biên giới với vùng Glengormley lân cận – và về phía nam là đồi Castlereagh ). Vùng ven sông Lagan đã được cải tạo, và phần lớn trung tâm thành phố là các đường dành cho người đi bộ.

Giống như Glasgow ở Scotland, Belfast nổi tiếng về việc đóng các con tàu đi biển. Xưởng sửa chữa và đóng tàu lớn nhất thế giới Harland và Wolff nằm ở thành phố này. Bạn có thể trông thấy các cần trục khổng lồ của các xưởng đóng tàu này ở đằng xa. Ngành công nghiệp dệt vải lanh đẹp nổi tiếng trên thế giới ở Belfast và làm dây thừng đã lâu không còn nữa. Đại học Ulster vẫn còn duy trì cơ sở ở thành phố, nhưng tập trung vào ngành mỹ thuật.

Belfast có hải cảng đẹp, vị trí buôn bán tốt hơn Scotland, England và những vùng còn lại trên thế giới. Nhiều hàng công nghệ của Belfast như ren, quần áo, da được xuất khẩu qua cảng này. Kỹ nghệ máy bay là sự tiến bộ quan trọng của Belfast. Phi cơ phản lực và thủy phi cơ được chế tạo từ hãng máy bay ở đây.

ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ CỦA VƯƠNG QUỐC ANH

cong nghiep anh

Hai ngành công nghiệp quan trọng của Anh là hoá chất là năng lượng. Đây là nhà máy hoá chất nằm ở Cheshire phía tây Engand, với trạm năng lượng phía sau. Anh có một trong những nhà máy hoá chất lớn nhất thế giới và họ cũng sản xuấy nhiều năng lượng.

Vương quốc Anh, trung tâm tài chính và thương mại hàng đầu, có nền kinh tế đứng hàng thứ tư trên thế giới, đứng hàng thứ hai ở châu Âu, và là một thành viên của Liên minh châu Au (EU). Thủ đô của nó, London là một một trung tâm tài chính lớn nhất trên thế giới.

Từ thập niên 1980, đặc biệt dưới thời của chính phủ Margart Thatcher, nhiều xí nghiệp quốc hữu hoá vào thập niên 1940 đã được tư hữu hoá. Mức tăng trưởng GDP giảm vào năm 2001- 2002 do sự suy thoái kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên nền kinh tế của Vương quốc Anh là một trong những nước mạnh nhất châu Âu ; mức độ lạm phát, lãi suất và tỉ lệ thất nghiệp vẫn duy trì ở mức thấp. Hiện nay tăng trưởng hàng năm đạt 3%, cao hơn Pháp, Đức và nhiều nước khác ở châu Âu .

* Yêu cầu các bạn tham khảo bài viết nếu có copy nên trích dẫn nguồn www.cacnuocchauau.com/home. Đề tài này đã đăng ký ở Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, đã được Hội đồng khoa học thẩm định tháng 9/2006, xin đừng dùng nó lập website riêng, cướp công sức người khác, người tự trọng không làm vậy. Mỗi bài tác giả phải mất công sức dịch rất lâu, sắp xếp bố cục, lựa chọn hình ảnh thích hợp với nội dung, với tâm huyết yêu nghề  tác giả mong muốn đóng góp chút công sức biên soạn nó  dành cho các bạn yêu thích bộ môn địa lý, dùng để giảng dạy, tham khảo.