TRUNG QUỐC

PHẦN 3-1

V.NỀN KINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC

Bất chấp kích thước của Trung Quốc, sự dồi dào các nguồn tài nguyên của nó, và thực tế là khoảng một phần năm dân số thế giới sống trong lãnh thổ của nó, cho đến cuối thế kỷ 20 vai trò của nó trong nền kinh tế thế giới là tương đối nhỏ. Tuy nhiên, kể từ cuối những năm 1970, Trung Quốc đã có ảnh hưởng đáng kể với nền kinh tế quốc tế, và nó đã trở thành một nhân tố nổi bật trong thương mại thế giới. Cả ngành ngoại thương của Trung Quốc lẩn tổng sản phẩm quốc gia (GNP) đều kinh qua sự tăng trưởng bền vững và nhanh chóng, đặc biệt là từ khi các công ty nước ngoài đã bắt đầu sử dụng Trung Quốc như là một cơ sở xuất khẩu đối với hàng hóa sản xuất ở đó.

Nền kinh tế Trung Quốc do đó đã ở trong trạng thái chuyển tiếp kể từ cuối những năm 1970 khi đất nước từ bỏ hệ thống kinh tế kiểu Soviet. Nông nghiệp được chuyển từ kinh tế xã hội chủ nghĩa sang kinh tế thị trường, khu vực tư nhân phi nông nghiệp đã phát triển nhanh chóng, và chính phủ đã ưu tiên chuyển hướng về công nghiệp nhẹ và công nghệ cao, hơn là công nghiệp nặng. Tuy nhiên, tình trạng đình trệ chính vẫn tiếp tục kìm hãm tăng trưởng. Năng lượng sẵn có không đủ để vận hành tất cả khả năng sản xuất công nghiệp của quốc gia, hệ thống giao thông vẫn không đủ để di chuyển số lượng hàng hóa quan trọng như than đá, và các hệ thống thông tin liên lạc đã không thể đáp ứng được nhu cầu của một nền kinh tế kế hoạch tập trung về quy mô và sự phức tạp của Trung Quốc.

Hệ thống giao thông kém phát triển của Trung Quốc – kết hợp với sự khác biệt quan trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân lực và cơ sở hạ tầng công nghiệp – đã tạo ra sự biến đổi quan trọng trong nền kinh tế khu vực của Trung Quốc. Ba vùng giàu nhất là dọc theo bờ biển phía đông nam, tập trung ở Châu thổ sông Châu Giang (Pearl river); dọc theo bờ biển phía đông, tập trung vào hạ lưu sông Dương Tử; và gần Bột Hải (vịnh Chihli), tại khu vực Bắc Kinh-Thiên Tân-Liêu Ninh (Beijing-Tianjin-Liaoning). Sự phát triển nhanh chóng của các khu vực này đang có sự ảnh hưởng quan trọng nhất đối với vùng kinh tế toàn châu Á, và chính sách của chính phủ Trung Quốc được thiết kế để loại bỏ các trở ngại đối với sự tăng trưởng mạnh trong những vùng giàu có này. Đồng thời, ưu tiên chính của chính phủ là phát triển kinh tế nội địa của đất nước để giúp nó bắt kịp với các vùng ven biển thịnh vượng hơn.

Trung Quốc là nước sản xuất gạo lớn nhất thế giới và là một trong số những nước trồng lúa mì, bắp, thuốc lá, đậu nành, đậu phộng, và bông chính. Nó còn là một trong những nước sản xuất công nghiệp và khoáng sản lớn nhất thế giới bao gồm cả vải bông, vonfram và antimon, sợi bông, than đá, dầu thô, và một số sản phẩm khác. Tài nguyên khoáng sản của nó có lẽ là trong số những nước giàu nhất trên thế giới nhưng chỉ phát triển một phần. Trung Quốc có một số cơ sở sản xuất rất tinh vi thông qua đầu tư nước ngoài và liên doanh với các đối tác nước ngoài. Trình độ công nghệ và tiêu chuẩn chất lượng của nhiều ngành công nghiệp của nó đã cải tiến nhanh chóng và tài tình.

Lực lượng lao động và hệ thống giá cả vẫn là lĩnh vực quan tâm. Thiếu việc làm là phổ biến ở cả thành thị và nông thôn, và thất nghiệp lan rộng đã tạo nên tình trạng rối rắm, gây ra sự sợ hãi mạnh mẽ ở nhiều địa phương. Giá cả của một số mặt hàng quan trọng, đặc biệt là nguyên liệu công nghiệp và các sản phẩm công nghiệp chủ yếu, vẫn còn được xác định bởi nhà nước, mặc dù quy mô các mặt hàng thuộc quyền kiểm soát nhà nước tiếp tục giảm. Ngoại trừ năng lượng, chính phủ vẫn tiếp tục kiểm soát. Mối quan hệ ngày càng tăng của Trung Quốc với các nền kinh tế quốc tế và việc sử dụng cung và cầu trên thị trường để chi phối việc phân bổ hàng hoá trong nước đã làm trầm trọng thêm vấn đề này. Qua nhiều năm, sự bao cấp đã được xây dựng trong cơ cấu giá, và sự bao cấp đã tăng đáng kể từ cuối những năm 1970 đến đầu những năm 1990, khi bao cấp bắt đầu bị loại bỏ. Một yếu tố quan trọng là Trung Quốc chấp nhận vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001, trong đó có những quy định về tự do hóa kinh tế và bãi bỏ quy định của chính phủ.

1/ LỊCH SỬ

Năm 1949, các cuộc xâm lược nước ngoài liên tục, các cuộc cách mạng thường xuyên, và nội chiến đã để lại đất nước một nền kinh tế yếu kém với cơ sở hạ tầng nhỏ. Khi thế lực của Cộng sản dường như không thể tránh khỏi, hầu như tất cả các ngoại tệ mạnh ở Trung Quốc đã được vận chuyển đến Đài Loan vào năm 1948, khiến mức lạm phát thời chiến thậm chí tồi tệ hơn.

Kể từ khi thành lập, một nỗ lực rất lớn đã được thực hiện theo nhằm tăng trưởng kinh tế và toàn bộ ngành công nghiệp mới được tạo ra. Nhà nước kiểm soát chặt chẽ ngân sách và cung ứng tiền để giảm lạm phát vào cuối năm 1950. Mặc dù hầu hết được thực hiện với giá phải trả là kìm nén khu vực kinh tế tư nhân của doanh nghiệp nhỏ và lớn bằng các chiến dịch Ba-chống / năm chống giữa năm 1951-1952. Các chiến dịch này nổi tiếng vì chống tư bản, và áp đặt lệ phí mà cho phép chính phủ trừng phạt nhà tư bản với mức phạt nặng. Trong những ngày đầu của sự cai trị của Đảng Cộng sản, các nhà lãnh đạo đảng đã đồng ý rằng đối với một quốc gia như Trung Quốc, mà không có bất kỳ ngành công nghiệp nặng và sản xuất thứ cấp tối thiểu, tư bản được tận dụng để giúp xây dựng “Trung Quốc mới ” và cuối cùng sáp nhập vào Chủ nghĩa Cộng sản.

Chính phủ mới quốc hữu hoá hệ thống ngân hàng của quốc gia và đưa tất cả tiền tệ và tín dụng đặt dưới sự điều khiển tập trung. Nó quy định giá bằng cách thành lập các hiệp hội thương mại và đẩy mạnh thu nhập của chính phủ bằng việc thu thuế nông nghiệp. Vào giữa những năm 1950, những người cộng sản đã làm hỏng hệ thống đường sắt và đường cao tốc của nước này, chỉ mang nông nghiệp và sản xuất công nghiệp đến mức tiền chiến của họ, bằng cách đưa phần lớn các ngành công nghiệp và thương mại của Trung Quốc dưới sự kiểm soát trực tiếp của nhà nước.Trong khi đó, trong thực hiện lời hứa cách mạng của họ, các nhà lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc đã hoàn thành cải cách ruộng đất trong vòng hai năm bằng bạo lực, loại bỏ địa chủ và phân phối lại đất đai và tài sản khác của họ cho hộ nông dân.

a/ Kỷ nguyên Mao

wikiimg. People in the countryside working at night to produce steel.

Dân nông thôn phải làm việc ban đêm để sản xuất sắt thép

Kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1953-1957) nhấn mạnh phát triển công nghiệp nhanh chóng, một phần là do phí tổn của các lãnh vực kinh tế khác. Phần lớn đầu tư của nhà nước đã được rót vào lĩnh vực công nghiệp, trong khi nông nghiệp, chiếm hơn bốn phần năm dân số hoạt động kinh tế, đã buộc phải dựa vào nguồn vốn ít ỏi của mình cho những yêu cầu lớn lao. Trong ngành công nghiệp, sắt và thép, năng lượng điện, than, cơ khí hạng nặng, vật liệu xây dựng, hóa chất cơ bản được ưu tiên hàng đầu; cho phù hợp với thực tiễn của Liên Xô, mục đích là để xây dựng các nhà máy lớn, phức tạp, và rất nhiều vốn. Nhiều nhà máy mới được xây dựng với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Liên Xô, và ngành công nghiệp nặng phát triển nhanh chóng.

Kế hoạch năm năm lần hai. Vào năm 1958 Mao đã cố gắng thúc đẩy nền kinh tế của Trung Quốc lên tầm cao mới. Dưới chính sách “Đại nhảy vọt” của ông, tổ chức nông nghiệp đã được tổ chức thành công xã khổng lồ nơi nam giới và phụ nữ được phân công theo kiểu nhà binh với nhiệm vụ cụ thể, bãi bỏ đất tư hữu, và tăng sản lượng thông qua hợp tác lớn hơn và nỗ lực lao động hơn.

wikiimg.ashx -Backyard furnaces in China during the Great Leap Forward era.

Lò luyện kim sân sau ở nông thôn

Trong ngành công nghiệp việc xây dựng nhà máy lớn vẫn tiếp tục, nhưng nó đã được bổ sung bởi cuộc vận động khổng lồ để phát triển ngành công nghiệp nhỏ, làm cho việc sử dụng một số lượng lớn các nhà máy nhỏ, đơn giản, được xây dựng tại địa phương và vận hành nội bộ. Tất cả các công dân Trung Quốc được thúc giục đẩy mạnh sản xuất thép của nước này bằng cách thiết lập “lò luyện thép sân sau” để giúp vượt qua phương Tây. Chính sách Đại nhảy vọt đã nhanh chóng lộ chính nó như là một bước tiến khổng lồ về phía sau. Mục tiêu quá tham vọng đã được thiết lập, số liệu sản xuất giả mạo đã được báo cáo hợp lệ, và các quan chức Trung Quốc đã sống trong một thế giới không thực tế của sản xuất tăng thần kỳ.

Một sự giảm sút ngoạn mục trong sản xuất nông nghiệp xảy ra sau đó. Trong khi đó, sự sản xuất nội bộ bừa bãi đã không đạt được hiệu quả mong muốn và tạo ra một lượng lớn hàng hóa không đạt tiêu chuẩn sản xuất tốn kém. Những khó khăn này trầm trọng thêm khi viện trợ của Liên Xô và các kỹ thuật viên đã được rút lại. Ngoài ra là sự tàn phá của thiên tai đã khiến nền kinh tế lâm vào nguy ngập, nạn đói diễn ra nhiều nơi. Hậu quả là trên 20 – 30 triệu người đã chết vì những nguyên nhân phi tự nhiên. Đến cuối năm 1960 quốc gia đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế hàng đầu.

Cách mạng Văn Hóa năm 1966. Trong vài năm kế tiếp, Trung Quốc đã trải qua một khoảng thời gian tương đối ổn định. Sản xuất nông nghiệp và công nghiệp trở về mức bình thường, và năng suất lao động bắt đầu tăng lên. Sau đó, vào năm 1966, Mao tuyên bố một cuộc Cách mạng Văn hóa để “đưa Trung Quốc vào lại đúng đường”. Theo lệnh ” Tiêu diệt Bốn Cũ” (suy nghĩ cũ, văn hóa, phong tục, tập quán cũ), các trường đại học và trường học đóng cửa, và các sinh viên, người đã trở thành “Hồng vệ binh” của Mao Trạch Đông, đã được gửi khắp đất nước để làm cách mạng, đánh đập và tra tấn bất cứ ai mà đẳng cấp, hay tư duy chính trị sai lầm. Đến năm 1969 cả nước đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, và các phe phái của Hồng vệ binh đã bắt đầu chiến đấu lẫn nhau.

b/ Năm 1978–1990 : Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping)

DengXiaoping

Đặng Tiểu Bình ( Deng Xiaoping)

Cải cách bắt đầu với Lý Tiên Niệm và Đặng Tiểu Bình, lãnh đạo Trung Quốc trong những năm 80. Không giống như Mao, Đặng Tiểu Bình và Lý là lãnh đạo thực tế, ít được biết đến về các cam kết thuộc ý thức hệ hơn là so với khẩu hiệu: “mèo đen hay trắng, miễn là bắt được chuột.” của họ. Sau khi củng cố quyền lực của mình, họ bắt đầu thi hành các chính sách thực tế, quyết tâm đưa Trung Quốc thoát khỏi sự tàn phá mà Cách mạng Văn hóa đã gây nên.

Từ năm 1978, Trung Quốc bắt đầu thực hiện những cải cách kinh tế chính. Các lãnh đạo Trung Quốc đã thông qua một quan điểm thực tế về nhiều vấn đề chính trị và kinh tế xã hội, và bắt đầu đưa ra các khía cạnh của một hệ thống kinh tế tư bản. Ổn định chính trị và xã hội, năng suất kinh tế và phúc lợi công cộng và người tiêu dùng được coi trọng. Trong những năm qua, Chính phủ nhấn mạnh việc nâng cao thu nhập cá nhân và tiêu dùng và đưa ra hệ thống quản lý mới để giúp tăng năng suất. Chính phủ cũng đã tập trung vào ngoại thương như là một phương tiện chính cho tăng trưởng kinh tế. Trong những năm 1980, Trung Quốc đã cố gắng để kết hợp các kế hoạch tập trung với các cải cách theo hướng thị trường để tăng năng suất, mức sống, và chất lượng công nghiệp mà không làm trầm trọng thêm lạm phát, thất nghiệp, và thâm hụt ngân sách. Cải cách đã bắt đầu trong nông nghiệp, công nghiệp, tài chính, ngân hàng, định giá, và các hệ thống lao động.

Một quyết định đã được thực hiện vào năm 1978 cho phép đầu tư trực tiếp nước ngoài trong một số “đặc khu kinh tế” nhỏ dọc theo bờ biển. Tuy nhiên, đất nước này thiếu cơ sở hạ tầng pháp lý và kiến thức về các kinh nghiệm quốc tế để làm cho những triển vọng trở nên hấp dẫn đối với nhiều doanh nghiệp nước ngoài. Vào đầu năm 1980 các bước được thực hiện để mở rộng số lượng các khu vực mà có thể chấp nhận đầu tư nước ngoài với ít thủ tục rườm rà, và những nỗ lực liên quan đã được thực hiện để phát triển luật pháp và các cơ sở hạ tầng cần thiết để làm tốt việc này. Nỗ lực này dẫn đến kết quả là 14 thành phố miền duyên hải và ba miền duyên hải là khu vực thông thoáng cho đầu tư nước ngoài. Tất cả những vùng này cung cấp thuế ưu đãi và lợi thế khác cho đầu tư nước ngoài. Các luật về hợp đồng, giấy môn bài, và các vấn đề khác liên quan đến các doanh nghiệp nước ngoài cũng đã được thông qua trong một nỗ lực để thu hút vốn quốc tế để thúc đẩy sự phát triển của Trung Quốc. Tuy nhiên, bản chất chủ yếu của nền kinh tế quan liêu của Trung Quốc, đặt ra một số vấn đề vốn cho các công ty nước ngoài muốn hoạt động trong môi trường Trung Quốc, và Trung Quốc dần dần phải thêm nhiều ưu đãi để thu hút vốn nước ngoài.

+ Giai đoạn một: cải cách ở nông thôn

Sau khi Mao Trạch Đông lên nắm quyền, nông dân Trung Quốc đã được tổ chức thành công xã, lữ đoàn công tác, và các đội sản xuất. Giá thu mua quá thấp để trang trải thậm chí cho chi phí sản xuất, và giá cao nhất đã được thiết lập trên số lượng ngũ cốc mà nhà sản xuất có thể giữ cho tiêu dùng. Đặng cho phép nông dân sản xuất riêng và chấp thuận việc bán các sản phẩm sản xuất dư thừa và các vụ mùa khác tại thị trường tự do. Giá thu mua Nhà nước đã được nâng lên, và giá cả nhiều nông sản tùy thuộc vào thị trường. Bắt đầu với các khu vực miền núi nghèo của An Huy và sau đó lan rộng trên toàn quốc, Đặng Tiểu Bình và các quan chức của ông đã phá vỡ các công xã thành lập bởi Mao và thay thế chúng bằng một hệ thống phức tạp của các hợp đồng mà cuối cùng mang lại quyền sở hữu có hiệu quả trở lại cấp hộ gia đình, mặc dù sở hữu đất đai vẫn thuộc về tập thể. Hệ trách nhiệm hộ gia đình cho phép nông dân cho thuê đất có thời hạn từ các tập thể, giao cho tập thể một hạn ngạch tối thiểu của sản phẩm, thường là hạt cơ bản. Sau đó họ có thể bán bất kỳ sản phẩm dư thừa họ sản xuất, hoặc cho nhà nước với giá thu mua hoặc trên thị trường tự do. Họ cũng được phép giữ lại bất kỳ lợi nhuận mà họ có thể kiếm được. Trong vòng một thập kỷ, sản lượng ngũ cốc đã tăng thêm khoảng 30%, và sản xuất bông, mía, thuốc lá, và hoa quả đã tăng gấp đôi.

+ Giai đoạn hai: công nghiệp hóa nông thôn và cải cách doanh nghiệp

Khi cải cách đã thúc đẩy gia tăng sản xuất mà làm ngạc nhiên ngay cả những nhà cải cách, quy mô của sự thay đổi rất rõ, và vào giữa những năm 1980, các lãnh đạo đảng đã bắt đầu các nhiệm vụ chính trị khéo léo và phức tạp hơn trong việc chuyển đổi hệ thống kế hoạch tập trung và doanh nghiệp nhà nước. Trước năm 1978, các doanh nghiệp hầu như thuộc sở hữu của nhà nước dưới dạng này hay dạng khác. Đứng đầu mỗi khu vực là các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), chịu trách nhiệm đối với chính phủ quốc gia. Bên dưới là những doanh nghiệp khác thuộc chính quyền thành phố, hoặc tỉnh. Doanh nghiệp tư nhân, có nghĩa là cửa hàng gia đình, không được phép cho đến sau năm 1978, và thậm chí sau đó họ bị giới hạn chỉ bảy nhân viên.

Doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc điển hình là các công ty công nghiệp lớn trong nền kinh tế kế hoạch tập trung. Họ không chỉ có chức năng như các đơn vị công nghiệp mà còn là cơ quan xã hội, cung cấp nhà ở, nhà trẻ, giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho người lao động và gia đình họ. Các doanh nghiệp lớn nhất bao gồm hàng trăm ngàn nhân viên, chỉ có một tỷ lệ nhỏ trong số đó đã trực tiếp tham gia vào sản xuất.

Sự hiện đại của hệ thống này là công nhân Trung Quốc có thể mong cả việc làm suốt đời lẩn sâu rộng, công ty dựa trên hệ thống phúc lợi được gọi là “bát cơm sắt”. Tất cả các phúc lợi trong hệ thống này được hạch toán vào chi phí sản xuất và được khấu trừ vào thu nhập trước khi việc tính toán tiển lãi mà phải nộp cho nhà nước. Không có hệ thống an sinh xã hội quốc gia vì không ai cần thiết.

c/ Năm 1990–2000

wikiimg.ashx

Vào những năm 1990, kinh tế Trung quốc tiếp tục phát triển nhanh chóng, ở mức 10.43%, kèm theo lạm phát gia tăng nhanh chóng, ở mức hơn 20% vào năm 1994. Khủng hoảng tài chính Châu Á chỉ ảnh hưởng Trung Quốc ở lề, chủ yếu thông qua giảm đầu tư trực tiếp của nước ngoài và giảm mạnh trong tăng trưởng xuất khẩu của nó. Tuy nhiên, Trung Quốc có nguồn dự trữ khổng lồ, tiền tệ không tự do chuyển đổi, và luồng vốn vào bao gồm vốn đầu tư dài hạn. Vì những nguyên nhân chủ yếu này nó thoát khỏi cuộc khủng hoảng khu vực và cam kết không phá giá đồng tiền đã là một yếu tố ổn định lớn đối với khu vực. Tuy nhiên, Trung Quốc phải đối mặt với tăng trưởng chậm và thất nghiệp gia tăng dựa trên các vấn đề nội bộ, bao gồm cả một hệ thống tài chính đè nặng bởi một lượng lớn các khoản nợ xấu, và sa thải hàng loạt xuất phát từ những nỗ lực tích cực để cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN).

Bất chấp phát triển kinh tế ấn tượng của Trung Quốc trong hai thập kỷ qua, cải cách khu vực nhà nước và hiện đại hoá hệ thống ngân hàng vẫn còn rào cản lớn. Hơn một nửa số doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc là không hiệu quả và báo cáo thua lỗ. Trong Đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc lần thứ 15, tháng Chín năm 1997, Chủ tịch Giang Trạch Dân (Jiang Zemin) đã công bố kế hoạch bán, sáp nhập, hoặc đóng cửa phần lớn các doanh nghiệp nhà nước trong cái ông gọi là để gia tăng ” không quyền sở hữu công cộng ” Đại hội Nhân dân toàn quốc lần 9 đã công nhận các kế hoạch của kỳ họp tháng ba năm 1998 của nó. Năm 2000, Trung Quốc tuyên bố thành công trong nỗ lực ba năm của mình để làm cho phần lớn các doanh nghiệp nhà nước lớn (DNNN) có lợi nhuận.

d / Năm 2000–2010

wikiimg.ashx -GDP increase, 1990–1998 and 1990–2006, in major countries

GDP tăng, từ năm 1990-1998 và 1990-2006  ở những nước quan trọng

Sau Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thứ ba, được tổ chức vào tháng 10 năm 2003, các nhà lập pháp Trung Quốc đã công bố một số đề nghị sửa đổi Hiến pháp nhà nước. Một trong những vấn đề quan trọng nhất là đề xuất để cung cấp sự bảo vệ cho quyền sở hữu tư nhân. Các nhà lập pháp cũng chỉ ra rằng sẽ có một tầm quan trọng mới trên một số khía cạnh của chính sách kinh tế tổng thể của chính phủ, bao gồm cả những nỗ lực để giảm thất nghiệp ( nay là trong khoảng 8-10% ở khu vực thành thị ), để tái cân bằng phân phối thu nhập giữa các vùng đô thị và nông thôn, và để duy trì tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và cải thiện công bằng xã hội. Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc đã tán thành sửa đổi tháng Ba năm 2004.

Hội nghị lần thứ năm, tháng 10 năm 2005 đã tán thành Kế hoạch kinh tế 5 năm lần thứ 11 ( 2006 – 2010) nhằm xây dựng một ” Xã hội chủ nghĩa hài hòa ” thông qua phân phối cân bằng hơn của cải và cải thiện giáo dục, chăm sóc y tế, và an sinh xã hội. Tháng 3 năm 2006, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đã phê duyệt Chương trình năm năm lần thứ 11. Kế hoạch kêu gọi một sự gia tăng tương đối vừa phải 45% trong GDP và giảm 20% cường độ năng lượng (tiêu thụ năng lượng trên một đơn vị GDP) vào năm 2010.

Nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ trung bình 10% mỗi năm trong giai đoạn 1990-2004, tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. GDP của Trung Quốc tăng 10% trong năm 2003, 10,1%, trong năm 2004, và thậm chí còn nhanh hơn 10,4% trong năm 2005 bất chấp nỗ lực hạ nhiệt nhiệt nền kinh tế của chính phủ. Tổng thương mại của Trung Quốc trong năm 2010 đã vượt qua 2,97 tỉ USD, làm cho Trung Quốc trở thành quốc gia thương mại lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Tốc độ tăng trưởng cao như vậy là cần thiết nếu Trung Quốc tạo ra 15 triệu việc làm cần thiết hàng năm – khoảng kích thước của Ecuador hoặc Campuchia để tuyển công nhân mới vào thị trường việc làm quốc gia.

Ngày 15 tháng 1 năm 2009, khi Ngân hàng Thế giới NBS công bố những con số sửa đổi cho năm tài chính 2007, trong đó tăng trưởng xảy ra ở 13 % thay vì 11,9 % (con số tạm thời). Tổng sản phẩm quốc nội của Trung Quốc đứng ở mức 3,38 tỉ USD trong khi GDP của Đức là $ 3,32 tỉ USD năm 2007. Điều này làm cho Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới bởi tổng sản phẩm trong nước. Dựa trên những con số, trong năm 2007 Trung Quốc ghi nhận mức tăng trưởng nhanh nhất kể từ năm 1994 khi GDP tăng 13,1 phần trăm.

Trung Quốc đưa ra kế hoạch kích thích kinh tế của mình để cụ thể đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 – 2009. Chủ yếu tập trung vào việc tăng cường nhà ở giá rẻ, giảm bớt hạn chế tín dụng cho vay thế chấp và doanh nghiệp nhỏ, giảm thuế đối với mua bán bất động sản và hàng hóa, bơm đầu tư công hơn nữa vào phát triển cơ sở hạ tầng, như mạng lưới đường sắt, đường giao thông, các cảng. Đến cuối năm 2009 nền kinh tế Trung Quốc đã có dấu hiệu phục hồi. Tại Hội nghị Kinh tế Việc làm tháng Mười hai năm 2009 nhằm “ Kiềm chế lạm phát” được bổ sung vào danh sách các mục tiêu kinh tế, đề nghị sự cải thiện kinh tế mạnh mẽ và muốn thực hiện các bước để quản lý nó.

e/ Năm 2010 – hiện tại

Khoảng năm 2010 các nhà quan sát bên ngoài như là tờ Thời báo New York Times cho rằng Trung Quốc đã sẵn sàng để chuyển đổi từ sự phụ thuộc xuất khẩu ra thị trường quốc tế để phát triển thị trường nội địa là hiển nhiên. Tiền lương đã tăng lên nhanh chóng trong tất cả các lãnh vực trong nước và các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã kêu gọi một tiêu chuẩn tăng mức sống.

Năm 2010, GDP của Trung Quốc có giá trị khoảng 5,87 tỉ USD, vượt qua Nhật Bản chỉ 5,47 tỉ USD, và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Trung Quốc có thể trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới ( tính theo GDP ) sớm nhất là năm 2020. Trung Quốc là nước chủ nợ lớn nhất thế giới và sở hữu khoảng 20,8% của tất cả các trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ thuộc sở hữu của nước ngoài.

Kinh tế trưởng Justin Lin của Ngân hàng Thế giới trong năm 2011 nói rằng Trung Quốc, mà đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong năm 2010, có thể trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2030, vượt qua Hoa Kỳ, nếu xu hướng này tiếp tục. Những thách thức bao gồm sự bất bình đẳng thu nhập và sự ô nhiểm. Ngân hàng Standard Chartered trong một báo cáo năm 2011 cho rằng Trung Quốc có thể trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2020. Năm 2007 OECD ( Tổ chứa Hợp tác và Phát triển Kinh tế – tiếng Anh: Organization for Economic Co-operation and Development ) ước tính rằng nếu sử dụng sự chuyển đổi sức mua tương đương, Trung Quốc sẽ vượt Mỹ vào năm 2015. James Wolfensohn, cựu Chủ tịch Ngân hàng Thế giới, ước tính trong năm 2010 đến năm 2030 hai phần ba của tầng lớp trung lưu của thế giới sẽ sống ở Trung Quốc. Giám đốc Trung tâm cải cách kinh tế Trung Quốc tại Đại học Bắc Kinh Yao Yang vào năm 2011 nói rằng “Giả sử rằng các nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc tăng trưởng, tương ứng, bằng 8% và 3% về giá trị thực, rằng tỷ lệ lạm phát của Trung Quốc là 3,6% và Mỹ là 2% ( mức trung bình của thập kỷ trước ), và rằng đồng nhân dân tệ được đánh giá cao so với đồng USD 3% mỗi năm ( trung bình trong sáu năm qua ), Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2021. Vào thời điểm đó, GDP cả nước sẽ có khoảng 24 tỉ UDS . “

Vào năm 2011, Quỹ tiền tệ thế giới ( IMF) cảnh báo rằng các chính phủ điều khiển ngân hàng có thể thổi phồng sự mất cân đối điều đó có thể cản trở tăng trưởng và để lại hệ thống các “ảnh hưởng nghiêm trọng”. Vào năm 2011, IMF dự đoán là GDP của Trung Quốc ( theo sức mua được điều chỉnh ) sẽ bắt kịp của Hoa Kỳ vào năm 2016. Nhà nước ưu đãi các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước dù năng suất thấp ; điều này chèn ép cạnh tranh, trong một hiện tượng gọi là Guo jin min tui ( Guo jin min tui (国 进 民 退) là một hiện tượng trong nền kinh tế Trung Quốc, có nghĩa là ” tiến bộ nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân thụt lùi lại sau”.

Tuy nhiên, từ năm 2011 trở đi Trung Quốc đã trải qua một sự tăng trưởng chậm lại mà đã ném tất cả các tính toán ở trên vào vòng nghi vấn. Ray Dalio, nhà sáng lập của quỹ đầu cơ lớn nhất thế giới, đã nói với Hội đồng Quan hệ Ngoại giao rằng ông đã tiên đoán GDP của Trung Quốc giảm xuống 4 – 5% do không chuyển đổi thành công từ mô hình dựa vào xuất khẩu để tiêu thụ nhiều hơn. Tuy nhiên từ năm 2012 trở đi Morgan Stanley nhận thấy là số liệu thống kê chính thức của chính phủ có thể là rất thiếu thực tế về mức tiêu thụ người tiêu dùng.

Trong năm 2012, Tổ chức Ân xá quốc tế đã báo cáo rằng áp lực thu hồi tài sản tạo ra từ sự bùng nổ xây dựng gây nên sự chi tiêu quá mức là một mối đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định xã hội và chính trị của Trung Quốc. Do sự tham nhũng, sự bất ổn chính trị  và hạn chế tự do kinh tế trong một nền kinh tế bị chi phối bởi các doanh nghiệp nhà nước lớn, nhiều chuyên gia có tay nghề hoặc là rời khỏi đất nước hoặc chuẩn bị lưới an toàn cho bản thân ở nước ngoài. Sự nhận thức tham nhũng ở Trung Quốc được nhìn nhận vẫn tiếp tục xấu đi khi nó rơi từ vị trí 75 xuống vị trí 80 trong danh mục của Tổ chức Minh bạch Quốc tế về nhà nước tham nhũng.

Bất cứ sự tăng trưởng phi thường nào từ những năm 1980 dường như vấp phải những gì Paul Krugman gọi là một ” vạn lý trường thành ” vào năm 2013, khi các chỉ tiêu tuột dốc toàn diện và dự đoán hầu như không đáp ứng được với những gì dường như là gian lận sổ sách.

* Yêu cầu các bạn tham khảo bài viết nếu có copy nên trích dẫn nguồn www.cacnuocchauau.com/home. Đề tài này đã đăng ký ở Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, đã được Hội đồng khoa học thẩm định tháng 9/2006, xin đừng dùng nó lập website riêng, cướp công sức người khác, người tự trọng không làm vậy. Mỗi bài tác giả phải mất công sức dịch rất lâu, sắp xếp bố cục, lựa chọn hình ảnh thích hợp với nội dung, với tâm huyết yêu nghề  tác giả mong muốn đóng góp chút công sức biên soạn nó  dành cho các bạn yêu thích bộ môn địa lý, dùng để giảng dạy, tham khảo.