TRUNG QUỐC

PHẦN 2- 3

The Tien Shan mountain range and the Takla Makan Desert 1

C. KHU VỰC TÂY BẮC

1. BỒN ĐỊA TARIM (Tarim Basin)

Peaks of the Pamirs rising above a portion of the Silk Road (foreground), Uygur Autonomous Region of Xinjiang, western China.

Đỉnh núi Pamir nhô lên trên Con đường tơ lụa ở Khu tự trị Duy ngô Nhĩ Tân Cương

Bắc của cao nguyên Tây Tạng và ở độ cao thấp hơn khoảng 900 mét là Bồn địa Tarim. Bồn địa Tarim là một vùng trũng rộng lớn được dẩn lưu bởi sông Tarim ở khu tự trị Tân Cương, miền tây Trung Quốc, diện tích khoảng 906.500 km2 được bao bọc bởi dãy núi Thiên Sơn ở phía bắc, dãy Pamirs về phía tây, dãy núi Côn Luân ở phía nam, và dãy núi Altun về phía đông.

Khí hậu Bồn địa Tarim cực kỳ khô khan vì núi đã ngăn cản khối khí ẩm từ biển thổi vào. Lượng mưa hàng năm ít hơn 100 mm. Các hồ nước mặn và vùng đầm lầy của Lop Nur nằm ở cuối phía đông của bồn địa. Ở trung tâm của bồn địa là Sa mạc Takla Makan, có diện tích 342.000 km2. Sa mạc Takla Makan là một trong những sa mạc trơ trụi nhất trên thế giới; chỉ có một ít trong số những con sông lớn nhất, chẳng hạn như Tarim và Hotan (Khotan) chảy ngang qua sa mạc, nhưng thậm chí dòng chảy của chúng cũng không thường xuyên, toàn bộ dòng chảy của chúng chỉ có nước trong suốt mùa lũ. Một số dự án bảo tồn nguồn nước đã được xây dựng trong bồn địa Tarim, bao gồm kênh tưới tiêu diện tích khoảng 130 km2 đất nông nghiệp.

800px-Taklamakan_desert-aklamakan desert in Xinjiang Uyghur Autonomous Region.

Sa mạc Takla Makan ở Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương

Sông Tarim là sông chính của khu tự trị Uygur Tân Cương, cực tây bắc Trung Quốc. Nó nằm ngay phía bắc của cao nguyên Tây Tạng. Con sông mang tên của bồn địa rộng lớn nằm giữa các dãy núi Thiên Sơn, Côn Luân của Trung Á.

Hầu hết chiều dài của nó chảy trong Sa mạc Takla Makan. Từ tarim được dùng để chỉ bờ của một con sông chảy vào một hồ hay vô định hình trong cát sa mạc. Đây là một tính năng thủy văn đặc trưng của nhiều con sông chảy ngang qua những bãi cát Sa mạc Takla Makan. Một đặc tính khác của các con sông ở Bồn địa Tarim, bao gồm chính sông Tarim là sự di trú chủ động của chúng – nghĩa là , chuyển đổi lòng sông và bờ sông của chúng.

800px-TarimrivermapThe Tarim Basin, 2008

Bản đồ hệ thống sông Tarim

Sông Tarim được hình thành bởi sự hợp lưu của sông Kaxgar và Yarkant ở phía tây; từ nơi hợp lưu sông chảy về đông bắc khoảng 370km, sau đó đổ vào hạ lưu các con sông Aksu và Hotan (Khotan). Chỉ có con sông Aksu chảy quanh năm. Nó là nhánh quan trọng của sông Tarim, cung cấp 70-80% lượng nước. Dưới nơi hợp lưu với sông Hotan sông mang tên Tarim. Sông Tarim có lúc chảy vào hồ muối Lop Nur, một hố muối lớn ở phía đông Tân Cương (Xinjiang). Tuy nhiên, bể chứa nước và công trình thuỷ lợi xây dựng dọc trung lưu sông vào giữa thế kỷ 20 đã chuyển hướng phần lớn dòng chảy của nó. Vào thập niên 1970 sự kết hợp của việc mất nước và sự bốc hơi dữ dội tạo nên bởi khí hậu khô hạn của vùng đã làm khô hạ lưu sông Tarim, và Lop Nur trở thành một hồ muối mênh mông – với lớp muối bao phủ đáy hồ. Sông Tarim cũng có lúc cung cấp nước cho Hồ Taitema, nằm cách Hồ Lop Nur 160 km về phía tây nam, nhưng đập Daxihaizi và hồ chứa nước nhân tạo xây dựng vào thập niên 1970 đã làm khô hạ lưu sông và hồ; chính quyền trung ương đã có một số thành công trong việc khôi phục lại dòng chảy của sông bên dưới hồ chứa nước nhân tạo này.

Tarim River in the Takla Makan Desert, northwestern China.

Sông Tarim ở Sa mạc Takla Makan, Khu vực Tây Bắc Trung quốc

Tổng chiều dài của hệ thống sông Yarkant-Tarim trước thập niên 1970 khoảng 2.030 km. Tuy nhiên, một phần đáng kể của sông Tarim là không cố định, với lòng sông không rõ ràng và thường xuyên thay đổi, và chiều dài của con sông này đã thay đổi trong những năm qua. Thời kỳ mực nước sông Tarim thấp nhất là từ tháng Mười đến tháng Tư . Mùa xuân và mùa hè bắt từ tháng Năm đến tháng Chín mực nước dâng cao là khi tuyết tan chảy trên dãy núi Thiên Sơn và Côn Luân.

Vùng được dẫn lưu bởi hệ thống sông Yarkand-Tarim có diện tích khoảng 557.000km2, phần lớn bao gồm Bồn địa Tarim. Bồn địa là một đồng bằng khô cằn gồm phù sa và trầm tích hồ được bao bọc bởi các dãy núi đồ sộ. Nó là vùng khô hạn nhất của Lục địa Á- Âu. Phần nổi bật nhất là Sa mạc Takla Makan, cát sa mạc vượt quá 320.000km2. Ngoài ra, có một số khối cát tương đối nhỏ với khu vực từ 780 – 4.400 km2. Đụn cát là địa hình chiếm ưu thế.

800px-Taklamakan-Camels in a little village close to Taklamakan desert near Yarkand, Autonomous Region of Xinjiang, 2

Chăn nuôi lạc đà ở một làng nhỏ gần Sa mạc Taklamakan

Lượng mưa ở Bồn địa Tarim rất hiếm hoi, một số năm không mưa. Ở Sa mạc Takla makan và Hồ Lop Nur, mưa trung bình khoảng 12mm/n. Vùng đồi chân núi và một số lưu vực sông, mưa từ 50-100mmm/n. Các sườn núi Thiên Sơn ẩm ướt hơn, mưa thường trên 500mm/n. Nhiệt độ tối đa ở Bồn địa Tarim khoảng 40oC . Sông Tarim đóng băng mỗi năm từ tháng Mười hai đến tháng Ba.

Thực vật ở Bồn địa Tarim chủ yếu nằm dọc sông và các nhánh sông. Nơi đó, ở rìa các đụn cát, người ta thấy thực vật giống như cây bụi và các cây còi cọc, đặc biệt là cây ngải đắng. Một rừng dương thưa với lá đa dạng mọc ở thung lũng sông Tarim. Bụi cây thấp gồm liểu, cây bụi gai, và cây gai dầu mọc dầy đặc và cây cam thảo Ural. Thượng nguồn sông Tarim có nhiều cá, đời sống động vật ở nơi đó rất khác nhau. Thung lũng và hồ ở Tarim là nơi dừng chân của các loài chim di trú.

Herding goats along the ancient Silk Road, northern Takla Makan Desert, China.

Chăn nuôi dê dọc theo Con đường tơ lụa cổ ở Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương

Sự di cư của người Hán vào vùng này và sự thúc đẩy thủy lợi của chính phủ Trung Quốc trên diện rộng đã dẫn đến sự mở rộng các vùng nông nghiệp dựa vào thủy lợi, nhưng các ốc đảo nông nghiệp vẫn rải rác ở khu định cư của người Uighur ở trong vùng. Gạo và các loại ngũ cốc, bông, lụa, hoa quả, và len là những sản phẩm nông nghiệp chính, và ngọc bích Khotan và thảm là những sản quan trọng khác. Bông chất lượng cao và vải cotton và một số giống cây ăn quả, trong đó có dưa hấu và nho, được xuất khẩu từ khu vực này.

2. BỒN ĐỊA JUNGGAR ( The Junggar Basin or Dzungarian Basin)

1024px-Irtysh_River_landscape_in_the_Burqin_02

Phong cảnh sông Irtysh ở Burqin. Burqin là một hạt ở Tân Cương diện tích 10.326km2, dân số 70.000 người

Bắc của Bồn địa Tarim là Bồn địa Junggar (Bồn địa Chuẩn Cát Nhĩ ). Đó là một bồn địa rộng lớn nằm ở Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, tây bắc Trung Quốc. Nó được bao bọc bởi Thiên Sơn về phía nam, trong khi về phía đông bắc nó ngăn cách với Mông Cổ bởi dãy núi Altai. Bề mặt của bồn địa bằng phẳng, hơi dốc về phía tây nam. Phần lớn diện tích đất nằm ở độ cao từ khoảng 300 đến 450 mét, và ở phần thấp nhất độ cao giảm xuống dưới 200 mét. Nhìn chung phần chính của bồn địa được bao phủ bởi một sa mạc rộng lớn với đụn cát di chuyển hình lưỡi liềm; chỉ ở một số nơi là các đụn cát bị giữ lại bởi thảm thực vật.

Ili River, Uygur Autonomous Region of Xinjiang, China.

Sông Ili chảy qua Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân cương

Một đèo chính xuyên qua các dãy núi phía tây được gọi là Dzungarian Gate, dẫn đến hồ Alaköl và Hồ Balqash ở Kazakhstan. Ở phía bắc sông Irtysh (Ertix) chảy vào hồ Zaysan ngang qua biên giới Kazakhstan. Mặt khác, Bồn địa Junggar là một khu vực thoát nước nội địa, với các sông từ dãy núi Altai chảy vào Hồ Jili và những sông từ các dãy núi phía nam chảy vào Hồ Manasi hoặc Aibi (Ebinur) trong bồn địa thấp ngay phía đông nam của Dzungarian Gate. Toàn bộ bồn địa nằm ở độ cao từ 500 đến 1.000 m trên mực nước biển, với một độ dốc chung từ phía đông bắc đến tây nam, nơi hồ Aibi nằm ở độ cao nhỏ hơn 190 mét.

800px-Lake_Kanas.jpg2

Sông Kanas chảy vào hồ Kanas, sau đó hợp lưu với sông Hemu hình thành sông Burqin . Sông Burqin hợp lưu với sông Irtysh chảy qua thị trấn Burqin.

Khu vực này rất khô khan và chỉ nhận được lượng mưa 150-300 mm hàng năm. Nó cũng trải nghiệm nhiệt độ cực lớn. Tuy nhiên, Những dãy núi xung quanh nhận được lượng mưa lớn hơn nhiều, và nhiều trong số dãy núi phía bắc và dãy núi Altai được bao phủ bởi rừng. Phần phía đông và trung tâm của bồn địa là một Sa mạc Dzungarian Gobi nhưng không hoàn trơ trụi. Bao quanh nó là thảo nguyên (đồng cỏ) và bán thảo nguyên được tưới nước bằng các con sông bán thời gian thường chảy vào đầm lầy mặn. Có vài con sông trong bồn địa .

Các dân cư chủ yếu là người Duy Ngô Nhĩ và người Turkic hoặc Mông Cổ. Người Hán là chỉ là công nhân công nghiệp và định cư trên các ốc đảo phía nam và nông trường quốc doanh.

3. THIÊN SƠN (Tien Shan)

800px-West_Tian_Shan_mountains-The Tian Shan range on the border between China and Kyrgyzstan with Khan Tengri (7,010 m) visible at center.

Mặt tây của Thiên Sơn nằm ở biên giới Trung Quốc và Kyrgyzstan

Thiên Sơn là hệ thống núi hùng vĩ ở Trung Á. Nó trải dài khoảng 2.500 km theo hướng tây- tây nam tới đông-đông bắc, chủ yếu nằm giữa biên giới Trung Quốc – Kyrgyzstan và chia cắt lãnh thổ Turkistan cổ. Nó rộng 500km ở phía đông và tây nhưng ở trung tâm thu hẹp khoảng 350km. Thiên Sơn là một phần của đai kiến tạo sơn Himalaya được hình thành do va chạm của các mảng kiến tạo Ấn Độ và Á-Âu trong đại Tân sinh.

Thiên Sơn được bao bọc ở phía bắc bởi Bồn địa Junggar, đồng bằng nam Kazakhstan và phía đông nam là Bồn địa Tarim. Về phía tây nam các rặng núi Hisor (Gissar) và Alay của Tajikistan mở rộng vào Thiên Sơn, tạo thành thung lũng Alay, Surkhandarya, và Hisor ranh giới của hệ thống với dãy Pamirs ở phía nam. Thiên Sơn cũng bao gồm các rặng núi Shū-Ile và Dãy Qarataū, mở rộng xa về phía tây bắc vào đồng bằng đông Kazakhstan. Tổng diện tích của Thiên Sơn khoảng 1.000.000 km2.

800px-Tian_Shan_Mountains_(4224424202)

Thiên Sơn

Đỉnh cao nhất của dãy núi Thiên Sơn là đỉnh Jengish Chokusu ( đỉnh Victory, hay Pobeda) với độ cao 7.439 m, và là đỉnh cao nhất ở Kyrgyzstan, nằm trên biên giới với Trung Quốc. Đỉnh cao thứ hai của Thiên Sơn là đỉnh Khan Tengri (thần linh hồn), có độ cao 7.010 m, nằm trên biên giới Kazakhstan-Kyrgyzstan. Đây là hai đỉnh cao nhất ở phía bắc của thế giới.

Đèo Torugart, nằm ở độ cao 3.752 m, nằm trên biên giới giữa Kyrgyzstan và khu tự trị Tân Cương của Trung Quốc. Rặng núi Alatau bao phủ rừng cây, nằm ở cao độ thấp hơn ở phần phía bắc của Thiên Sơn, nơi đây có những bộ lạc nói tiếng Turk dân cư sinh sống bằng cách chăn thả gia súc.

Portion of the ruins of the ancient city of Jiaohe, near Turfan, Uygur Autonomous Region of Xinjiang, western China.

Một phần của phế tích một thành cổ nằm ở Bồn địa Turfan – Khu tự trị Duy ngô nhĩ Tân cương

Địa hình Thiên Sơn : Địa hình Thiên Sơn là sự kết hợp của các dãy núi và thung lũng xen lẫn các bồn địa có hướng chung là từ đông sang tây. Bồn địa sâu nhất là Bồn địa Turfan nằm ở phía đông của Thiên Sơn, sâu 154m dưới mực nước biển. Như vậy, sự khác biệt về độ cao của Thiên Sơn rất lớn, vượt quá 7 km. Phần mở rộng của Bồn địa Turfan là Bồn địa Hami; cả hai bồn địa được bao bọc ở phía bắc bởi rặng núi Bogda, có độ cao lên đến 5.445m, và bởi rặng núi ở cực đông của Thiên Sơn là Karlik, đạt độ cao tối đa là 4925m. Ở Trung Quốc dãy Thiên Sơn bắt đầu phía bắc của thành phố Hami (Kumul) với núi Barkol hình chữ U, phía đông của Ürümqi.

Thiên Sơn là dãy núi cùng loại với dãy núi Alps, với sườn dốc đứng; băng hà thường xảy ra dọc theo đỉnh của chúng. Sườn núi cũng phát triển băng đáng kể, cũng như rất nhiều dạng địa hình cho thấy rằng khu vực này là địa bàn của băng hà cổ xưa.

1024px-Tianchi_LakeTianchi Lake or Heaven Lake, Xinjiang, China

Hồ Thiên Sơn ở Tân Cương. Hồ nằm ở sườn bắc của rặng núi Bogda ( Bác Cách Đạt ), phần đông của Thiên Sơn ở Tân Cương cách Duy Ngô Nhĩ 60km về phía đông. Đỉnh cao nhất là Bogda Feng 5445 m.

Phía tây kinh độ 84 ° Đ, Thiên Sơn chia nhánh, xu hướng về phía tây nam và tây bắc, bao bọc Bồn địa  Ili (Kazakhstan, Ile; Trung Quốc, Yili) thung lũng sông ở Kazakhstan, nó dần dần mở rộng và giảm độ cao khi tiến về phía tây. Phía bắc của bồn địa là rặng núi Borohoro, có băng hà ở phía đông và đặc trưng bởi các sườn núi dốc. Rặng núi này hạ thấp dần xuống phía tây, nơi có độ cao 2.073 m nằm ở Hồ Sayram cực lớn không thoát nước. Về phía nam Bồn địa Ili được bao bọc bởi ngọn núi cao nhất ở trung tâm Thiên Sơn – rặng Halik, đạt độ cao đến 6.811m, và rặng núi riêng lẻ Ketpen (Ketmen), độ cao lên đến 3.474 m nằm ở trung tâm của bồn địa.

800px-Yili, Xinjiang, China Also named Sayram Lake There will be more and more yellow flowers covering the lakefront by end of May.

Hồ Sayram nằm ở Quận Bortala gần dãy Thiên Sơn, Tân Cương, Trung Quốc . Đó là hồ lớn nhất diện tích 458 km² – thuộc dạng hồ miền núi Alps ở Tân Cương

Phần cực bắc của Thiên Sơn thuộc Kazakhtan hình thành rặng Zhonggar Alataū (Dzungarian) cao 4.464m, phụ thuộc vào hoạt động đáng kể của băng hà. Về phía nam rặng Ile Alataū nhô cao đột ngột đến 4.973m trên Bồn địa Ile. Sự chuyển tiếp của các vùng khí hậu, xác định bởi độ cao, từ vùng khô nóng đến thảo nguyên ở độ cao thấp hơn đến vùng băng hà ở đỉnh, là hiển nhiên trên sườn phía bắc của rặng núi này.

Rặng Kyrgyzstan Ala và Talas Alataū, nhô cao 4000m và nằm xa hơn về phía tây, cũng thuộc chuỗi ngoài của bắc Thiên Sơn. Có một sự khác biệt lớn về độ cao giữa các dãy núi bên ngoài và các đồng bằng ở chân núi của chúng. Các dòng suối vì thế thường lao từ sườn núi xuống hẽm vực sâu và, khi chúng chảy xuống đồng bằng tạo thành lớp trầm tích hình cánh quạt rộng lớn. Trên mảnh đất màu mỡ được hình thành bởi quá trình này là nhiều ốc đảo và trung tâm dân cư, bao gồm các thành phố Almaty ở Kazakhstan và Bishkek ở Kyrgyzstan. Rặng Küngöy Ala (Küngey Alataū) và Teskey Ala (Terskey-Alataū) cũng thuộc về phía bắc Tien Shan. Teskey Ala có độ cao khoảng 5.300 m giáp với lưu vực Hồ Ysyk rộng lớn.

800px-Jengish Chokusu (7439 m), aka Pik Pobedy (or Pik Pobeda) in the Tian Shan mountain range from base camp on the south Inylchek glacier, Kyrgyzstan-China

Đỉnh Victoria ( hay Jengish Chokusu hay Pobeda) ở Thiên Sơn nhìn từ phía nam của băng hà Inylchek, , Kyrgyzstan-Trung Quốc

Phần phía tây của lưu vực sông Ak-Say (Toxkan ở Trung Quốc) và phần lớn lưu vực sông Naryn nằm trong phạm vi nội Thiên Sơn. Khu vực này đặc trưng bởi sự xen kẽ của các rặng núi tương đối ngắn và thung lũng, cả hai mở rộng theo hướng đông và tây. Độ cao chiếm ưu thế của các núi thay đổi khoảng 3.000 – 4.600 m, trong khi độ cao của bồn địa ngăn cách chúng thay đổi từ 1.800 – 3.200 m. Quan trọng nhất là rặng Borkoldoy, Dzhetym, At-Bashy, và Kakshaal (Kokshaal- Trung Quốc), trong đó đỉnh Dankova đạt độ cao tới 5.982 m. Độ cao của núi tăng ở rặng Sary-Jaz trung tâm trung tâm Thiên Sơn. Các rặng núi phân cách dần dần hội tụ, tạo thành mê cung núi cao, trong đó bao gồm các đỉnh cao nhất là Khan Tängiri và Victory.

Fergana Valley near the Kamchik Pass in Uzbekistan

Thung lũng Fergana gần đèo Kamchik ở Uzbekistan . Fergana nằm giữa hệ thống núi Thiên sơn dài 300km rộng 70km

Trái ngược với hầu hết các rặng chạy theo chiều đông-tây của Thiên Sơn, khối núi Kyrka Fergana, kéo dài từ đông nam đến tây bắc, ngăn cách các khu vực bên trong từ phía tây và phía nam Thiên Sơn. Độ cao tối đa của nó là 4.940 mét. Các sườn núi phía tây nam hiển thị một loạt các vùng khí hậu khác nhau trong quá trình giảm dần độ cao của chúng.
Các rặng tây Thiên Sơn nằm ở phía bắc của thung lũng Fergana. Một số ngắn nhưng cao và dốc theo hướng tây nam-đông bắc tiếp giáp với sườn nam của rặng núi chạy về hướng tây và hướng tây bắc. Đỉnh cao nhất là Chatkal 4503 m, và các cao độ khác nhau chủ yếu giữa 2.300 và 3.200 m.

Các rặng nam Thiên Sơn (bao gồm các rặng Turkistan, Zeravshan, và Alay) giáp với thung lũng Fergana ở phía nam và mở rộng chủ yếu theo hướng đông tây. Độ cao tối đa là 5.621 m, một số đỉnh cao trên 15.000 feet. Về phía nam Thiên Sơn tiếp giáp với dãy Pamirs. Vùng đồi chân núi tiếp cận sườn phía bắc của dãy, và có những ốc đảo trên vùng đồng bằng bên dưới các rặng núi.

800px-Glacier_in_Tian_Shan_AB

Băng hà ở Thiên Sơn

Băng Hà : Tổng diện tích của các sông băng ở Thiên Sơn khoảng 10.100 km2, trong đó bốn phần năm là ở Kyrgyzstan và Kazakhstan. Lớn nhất trong số các sông băng là những khu vực xung quanh Khan Tängiri , đỉnh Victory và núi Habirg Eren. Ngoài ra còn có rất nhiều sông băng ở rặng Kakshaal, dãy Ak-Shyyrak, Ile Alataū, và nam Thiên Sơn. Băng hà lớn nhất ở Thiên Sơn là băng Engil’chek, dài khoảng 60 km; nó đổ từ sườn tây của khối núi Khan Tängiri xuống và chia ra thành nhiều nhánh. Các băng hà lớn khác trong khu vực gồm Bắc Engil’chek dài 39 km và một tại Đèo Muzat dài 34 km.

Các băng hà thường được cung cấp bởi tuyết rơi trên chính băng hà hoặc bởi tuyết lở trên sườn núi xung quanh. Băng hà hoạt động trong Thiên Sơn dường như đang giảm dần; hầu hết các sông băng đang hoặc lùi hoặc đứng yên. Tuy nhiên kể từ giữa thế kỷ 20 băng hà ở khu vực nội Thiên Sơn đã có những bước tiến ngắn hạn. Các sông băng của Thiên Sơn cung cấp nước cho nhiều con sông lớn, bao gồm Naryn, Sarydzhaz, Ili, Aksu, và Zeravshan.

800px-Khujand-the Syr Darya river bridge at Khujand, Tajikistan, in the far west of the Fergana Valley.

Cầu bắc qua sông Syr Darya ở Khujand, Tajikistan, nằm ở cực tây của Thung lũng Fergana

Sự dẩn lưu : Các con sông chính chảy trong khu vực Thiên Sơn là sông Syr Darya, sông Ili và sông Tarim. Sông Syr Darya dài 2.212km chảy theo hướng tây, tây bắc qua miền nam Kazakhstan tới phần còn lại của biển Aral. Dọc theo luồng chảy của nó, nó tưới tiêu cho phần lớn các vùng trồng bông màu mỡ của toàn bộ khu vực Trung Á, cùng với việc cấp nước cho các thành phố như Kokand, Khujand, Kyzyl-Orda và Turkestan.

Chính quyền địa phương khác nhau trong suốt lịch sử đã xây dựng và duy trì một hệ thống rộng lớn của các kênh rạch. Các con kênh đó có tầm quan trọng đặc biệt trong khu vực khô cằn này. Nhiều hệ thống kênh đào, chủ yếu xây dựng trong thế kỷ 18 bởi Hãn quốc Kokand, mở rộng các khu vực mà con sông này chảy qua. Việc mở rộng đáng kể các kênh tưới tiêu trong thời kỳ Liên bang Xô viết để tưới tiêu cho các cánh đồng bông đã làm trầm trọng thêm các vấn đề sinh thái trong khu vực, làm cho con sông này cạn kiệt nhanh trước khi chảy tới biển Aral và làm cho con sông này nhỏ bé lại so với kích thước trước đây của nó. Cùng với hàng triệu người đang định cư trong các khu vực trồng bông thì những vấn đề này đối với con sông hiện nay vẫn chưa có lời giải đáp.

1024px-TianShanRoad-The Road from Yining to Kucha over the Tian Shan, Xinjiang, China.

Con đường từ Yining tới Kucha băng qua Thiên sơn ở Tân Cương

Sự can thiệp của con người ở các độ cao thấp hơn đã biến đổi nghiêm trọng đến toàn bộ hệ thống thoát nước của Thiên Sơn. Công trình thủy lợi rộng rãi ở các thung lũng chân núi đã làm giảm lượng nước của các con sông tới Biển Aral và Bồn địa Tarim. Sự chuyển hướng dòng nước sử dụng cho cả nông nghiệp và đô thị là điểm đặc trưng của sông Ili và sông Kaidu ở phía đông Thiên Sơn. Các dòng chảy vào nguồn nước cũ là không đáng kể. Thậm chí hồ nước mặn Ysyk mực nước cũng hạ thấp xuống do các tác động bên ngoài. Nhà máy thủy điện được xây dựng ở một số hẻm núi; các dự án Toktogul trên sông Naryn là lớn nhất. Ngoài ra, các cơ sở nhỏ khai thác năng lượng của các con sông phía tây vào mùa nước lũ do tuyết tan vào mùa hè như Kashgar, Ak-Say, và Aksu.

Khí hậu : Do Thiên Sơn nằm ở trung tâm của lục địa Á – Âu nó có khí hậu lục địa rất rõ nét, đặc trưng bởi sự chênh lệch lớn của nhiệt độ trong mùa hè và mùa đông. Tính chất khô cằn đặc trưng của khu vực này là hiển nhiên trong sa mạc xung quanh và khu vực khô. Khu vực này hấp thụ nhiệt lượng mặt trời nhiều, và có khoảng 2500 giờ nắng mỗi năm. Khí hậu dần dần trở nên lạnh và ẩm hơn khi độ cao của núi tăng.

1024px-TianShanYaks

Trâu Yak trên đồng cỏ Thiên Sơn

Các khối không khí phổ biến được vận chuyển qua Thiên Sơn bởi gió tây ẩm mang từ Đại Tây Dương. Hầu hết lượng mưa rơi trên những sườn núi đón gió phía tây và tây bắc ở độ cao từ 2.300 m – 2750m; lượng mưa thay đổi từ 790 mm – 2.000 mm . Phía đông và trong khu vực nội Thiên Sơn, tổng lượng mưa giảm xuống từ 200 – 400 mm.

Lượng mưa tối đa ở sườn nam Thiên Sơn vào tháng Ba và tháng Tư, và mùa hè khô hạn. Ở phía tây và phía bắc Thiên Sơn, hầu hết các cơn mưa rơi trong khoảng thời gian ấm áp của năm, với tối đa vào tháng Tư hoặc tháng Năm. Hầu hết các cơn mưa ở các vùng nội Thiên Sơn và phía đông là vào các tháng mùa hè. Nhiều thung lũng núi được sử dụng như đồng cỏ mùa đông vì số lượng nhỏ của tuyết rơi vào mùa đông.

Nhiệt độ khác nhau của Thiên Sơn, chủ yếu phụ thuộc vào độ cao. Mùa hè thường nóng ở chân đồi : nhiệt độ trung bình tháng Bảy trong thung lũng Fergana có thể đạt đến 27 ° C, trong Bồn địa Ili là 23 ° C, và lên đến 34 ° C về phía đông, trong Bồn địa Turfan, nơi có khí hậu lục địa thậm chí nhiều hơn. Nhiệt độ trong tháng Bảy tại độ cao khoảng 3.200 m ở nội Thiên Sơn giảm xuống 5 ° C, và băng giá có thể trong suốt mùa hè. Nhiệt độ trung bình trong tháng Giêng tại thung lũng Fergana là – 4 ° C, trong Bồn địa Ili là – 10 ° C, và rơi xuống – 23 ° C ở các vùng núi cao bên trong Thiên Sơn; ở những nơi (đặc biệt là các thung lũng Ak-Say) nhiệt độ thấp như – 50 ° C đã được ghi nhận.

Old houses near Turfan, Uygur Autonomous Region of Xinjiang, western China.

Nhà cổ gần Bồn địa Turfan ( Bồn địa Thổ Lỗ Phiên) , Khu Tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương

Đời sống thực vật : Thực vật của Thiên Sơn chủ yếu là thực vật đặc thù của vùng cao, trong đó bao gồm đa dạng các loại đất và các thảm thực vật. Ở chân đồi và đồng bằng chân núi bán hoang mạc và hoang mạc thường phát triển; các khu vực này tiếp tục đến độ cao khoảng từ 1.500 đến 1.800 mét ở phần phía đông. Thực vật đặc trưng của Thiên Sơn là thực vật phù du chết vào đầu mùa hè; cỏ chịu hạn, ngải cứu, và các loài cây bụi của sa mạc chi Ephedra thường được phân phối rộng. Quang cảnh thông thường ở Thiên Sơn là thảo nguyên, thường hiện diện ở độ cao 1.050m – 3.350m. Ở Trung Quốc và các nước cộng hòa Trung Á đã nổ lực khôi phục lại khu vực rộng lớn của thảo nguyên đồng cỏ đã bị hủy hoại do chăn thả quá mức.

Rừng được tìm thấy chủ yếu ở sườn phía bắc và ở độ cao 1.500 – 3.000 m. Trên sườn thấp hơn của phạm vi bên ngoài, chủ yếu là rừng rụng lá, bao gồm phong và dương, mọc lẩn các cây ăn quả hoang dã (táo và quả mơ). Khu vực rộng lớn của các sườn tây nam của rặng Kyrka Fergana đang bị chiếm đóng bởi các khu rừng phỉ cổ đại. Cây hồ trăn, óc chó, và cây bách xù được tìm thấy ở độ cao lên đến 2.000 m trên sườn núi rợp bóng cây ở tây và nam của Thiên Sơn.

Phía bắc và đông của thung lũng, rừng cây quả nón chiếm ưu thế. Tại ranh giới trên chúng thường được thay thế bởi rừng cây bách xù thưa thớt. Các khu rừng đầm lầy trong các thung lũng sông, trong đó dương lá rụng, bạch dương, dương, và các loại cây bụi khác nhau phát triển, nằm xa bên ngoài khu vực rừng. Trong hàng thiên niên kỷ, việc đốn cây làm nhiên liệu đã làm giảm độ che phủ rừng trong một số khu vực, mặc dù việc di dời bắt buộc dân cư vùng núi, và thung lũng bắt đầu trong nửa sau của thế kỷ 20 đã thay đổi mô hình cư trú này.

Các rừng đầm lầy và khu vực tiếp giáp với các rừng cây trên cao thường được phủ thảm thực vật đồng cỏ. Đồng cỏ hỗn hợp dưới núi cao mở rộng lên đến gần 3.000 m trên sườn phía bắc ẩm nhưng trên sườn phía nam thường được thay thế bởi những thảo nguyên núi. Đồng cỏ núi cao lên đến 3.500 mét. Trong vùng nội Thiên Sơn và phía đông Thiên Sơn, ở độ cao từ 3.400 – 3.700 m và đôi khi cao hơn, các khu vực dốc thoải là “sa mạc lạnh”, với thảm thực vật thưa thớt và ngắn. Rêu và địa y được tìm thấy trong các khu vực của vùng băng giá không có những lớp đất bao phủ.

Đời sống động vật : Sự đa dạng và phạm vi của động vật và các loài chim ở Thiên Sơn tăng rõ rệt sau khi di dời dân đến độ cao thấp hơn. Loài tiêu biểu cho khu hệ núi bao gồm sói, cáo, và chồn ermine. Ngoài ra còn có nhiều loài đặc trưng của Trung Á, chủ yếu sống ở vùng núi cao; những loài này bao gồm báo tuyết, dê núi, hoẵng Mãn Châu, và cừu núi. Các khu rừng-đồng cỏ thảo nguyên-là nơi sinh sống của gấu, lợn rừng, lửng, chuột đồng, chuột nhảy. Nhiều loài chim bao gồm chim đa đa núi, chim bồ câu, con qụa đỏ mỏ, quạ, chim chìa vôi núi, chim đuôi đỏ, đại bàng vàng, kền kền, gà tuyết Himalaya, và các loài khác. Ở các vùng thấp hơn – vùng sa mạc và bán khô hạn có được viếng thăm bởi động vật từ các đồng bằng lân cận, như linh dương, linh dương gazen, thỏ rừng Tolai, và chuột đồng màu xám. Thằn lằn và rắn cũng được tìm thấy.

122464-004-7ABD9AFECentral Ürümqi, Uygur Autonomous Region of Xinjiang, China.

Trung tâm Duy Ngô nhĩ Tân Cương

Dân cư : Nằm dọc theo ranh giới giữa Đông và Tây Turkistan, Thiên Sơn là nơi có nhiều dân tộc ít người. Nhiều nhất trong số này là người Kyrgyz và người Uighur, trước kia tập trung ở phía Tây và sau này ở phía đông. Nhóm khác định cư dọc theo mặt ngoài của dãy bao gồm Kazakhs, Mông Cổ, và Uzbekistan. Các phần của Trung Quốc trong những thung lũng sông Ili đã thu hút được một số dân nhập cư khá lớn, bao gồm cả những người tị nạn từ rối loạn dân sự ở các khu vực khác. Khu tự trị Mông Cổ, đạo Phật tử vẫn còn, tồn tại ở miền đôngThiên Sơn; Hồi giáo Sunni chiếm ưu thế trong các cộng đồng người Kyrgyz và người Uighur, trong khi còn sót lại nhóm nhỏ cộng đồng Chính thống giáo của người Do Thái và Nga trong và quanh Ürümqi trong khu tự trị Uygur Tân Cương, Trung Quốc. Trong Thế chiến II của nhiều dân tộc Nga, Ukraine, người Do Thái, Tatars, và Caucasus đã được di dời đến các thị trấn ốc đảo Thiên Sơn Xô Viết từ phần phía tây của Liên Xô. Với việc củng cố quyền kiểm soát của Trung Quốc ở đông Turkistan, Người Trung Hoa (Hán) đã trở nên có mặt khắp nơi trong các khu định cư đô thị của miền đôngThiên Sơn.

Trung tâm dân cư lớn có dân tộc đa dạng. Các thành phố trong thung lũng Fergana thu hút lao động nhập cư có tay nghề cao từ các lãnh thổ xung quanh, cũng như các vùng thủ đô Bishkek, Kyrgyzstan, và Almaty, Kazakhstan; ở vùng núi phía đông Trung Quốc nổi bật là thành phố lớn của Ürümqi. Việc bắt buộc các dân du mục định cư và chuyển dân cư lên núi được thực hiện trước đây bởi cả chính quyền Trung Quốc và Soviet, nhưng một số di động theo mùa đã được phục hồi, và canh tác đã được điều chỉnh thích hợp để đáp ứng với việc sử dụng đất khác nhau. Bất chấp đất đai khó trồng trọt ở rìa Thiên Sơn, các di dân từ đông Trung Quốc, Siberia và Trung Á tiếp tục di chuyển vào khu vực này với số lượng lớn. Vùng đồi núi và vùng hồ, đặc biệt là những trung tâm đô thị gần, thu hút rất nhiều du khách trong ngày nghỉ.

Kinh tế : Thủy lợi cung cấp cơ sở cho con người sinh sống, cho dù có các hệ thống cống ngầm truyền thống dẫn nước ngầm chảy qua thể nền chứa nước tiếp giáp các kênh rạch hay không. Trong thung lũng, thủy lợi cho phép nông dân trồng bông, lúa mì, cỏ cho gia súc và tưới nước cho đồng cỏ. Trên sườn núi không có sương giá của vùng phù sa hình cánh quạt , cây ăn quả được trồng ở tất cả các khu định cư ở nước cộng hòa Trung Á. Chăn nuôi gia súc lớn đã thay thế chăn gia súc truyền thống ở vùng núi phía tây, trong khi một mô hình chăn nuôi cừu và ngựa chiếm ưu thế trong các dãy phía đông; bò Tây Tạng và những con lạc đà Bactria cũng được nuôi ở phía đông.

Thiên Sơn giàu khoáng sản. Dầu mỏ, khí tự nhiên và than đá được tìm thấy ở các thung lũng, trong khi những ngọn núi cao có lượng kim loại màu đáng kể (antimon, thủy ngân, chì, kẽm, niken, và vonfram) và phốt phát. Việc khai thác dầu mỏ, khí đốt và chế biến kim loại màu đã thúc đẩy công nghiệp hóa nhanh chóng trên sườn bắc của các dãy núi phía đông; chế biến thực phẩm và công nghiệp dệt may là ngành công nghiệp chính khác của thành phố ở các nước cộng hòa. Sản xuất xe cơ giới, sản xuất hóa dầu, chế biến thực phẩm chiếm ưu thế ở khu vực Ürümqi ở Trung Quốc.

Giao thông : Kể từ khi kết thúc Thế chiến II, cơ sở hạ tầng giao thông của khu vực đã được đầu tư đáng kể. Đường sắt ở các nước cộng hòa bây giờ liên kết với Trung Quốc thông qua Cổng Dzungaria (một đèo ở biên giới giữa Trung Quốc và Kazakhstan) và bờ hồ Ysyk. Tuyến đường sắt phía Trung Quốc lan vào hướng tây đến Bồn địa Tarim và thung lũng Fergana. Đường giao thông kết nối với đa số các thung lũng bên trong, và dịch vụ hàng không hàng ngày là có sẵn cho hầu hết các thị trấn. Hồ Ysyk và sông Ili được sử dụng trong giao thông đường thủy.

* Yêu cầu các bạn tham khảo bài viết nếu có copy nên trích dẫn nguồn www.cacnuocchauau.com/home. Đề tài này đã đăng ký ở Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, đã được Hội đồng khoa học thẩm định tháng 9/2006, xin đừng dùng nó lập website riêng, cướp công sức người khác, người tự trọng không làm vậy. Mỗi bài tác giả phải mất công sức dịch rất lâu, sắp xếp bố cục, lựa chọn hình ảnh thích hợp với nội dung, với tâm huyết yêu nghề  tác giả mong muốn đóng góp chút công sức biên soạn nó  dành cho các bạn yêu thích bộ môn địa lý, dùng để giảng dạy, tham khảo.