TRUNG QUỐC

PHẦN 1

CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA

Diện tích: 9.596.961 km² – Dân số : 1.364.038.000 người ( 2014) – Thủ đô: Bắc Kinh

China 1 copy2I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

Trung Quốc mở rộng từ đông sang tây khoảng 5.250km và từ bắc xuống nam khoảng 5.500km. Biên giới của nó dài 20.000km, và bờ biển dài 14.000km. Về phía bắc Trung Quốc giáp Mông Cổ; phía đông bắc giáp Nga và Bắc Hàn: phía đông giáp biển Hoàng Hải, biển Đông Trung Quốc; đông nam giáp biển nam Trung Quốc; phía nam giáp Việt Nam, Laos, Myanmar (Burma), India, Bhutan, and Nepal, tây Nam giáp Pakistan; tây giáp Afghanistan, Tajikistan, Kyrgyzstan, Kazakhstan. Ngoài 14 nước có biên giới trực tiếp với nó nó còn đối diện với Nam Hàn và Nhật ngang qua biển Hoàng Hải và Philippines ở biển Nam Trung Quốc.

II. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN

1. ĐỊA HÌNH

Nhìn chung địa hình Trung Quốc cao ở phía tây và thấp ở phía đông, do đó hướng chảy của các sông chính thường về phía đông. Bề mặt địa hình có thể chia làm ba bậc. Bậc thứ nhất tiêu biểu là Cao nguyên Tây Tạng ( Plateau of Tibet), nằm ở Vùng tự trị Tây Tạng (Tibet Autonomous Region ) và Tỉnh Thanh Hải (Qinghai), có độ cao trung bình 4000m, là cao nguyên cao nhất trên thế giới. Phần phía tây của vùng này là Thanh Tạng (Qiangtang), có độ cao trung bình 5000m, và được mệnh danh là nóc nhà của thế giới.

Đồng cỏ dưới chân núi Con Luân

Đồng cỏ trên dãy núi Côn Luân

Bậc thứ hai nằm ở phía bắc dãy núi Côn Luân ( Kunlun) và Nam Sơn (Qílián Shān= Kỳ Liên Sơn) cho tới Cung Lai Sơn ( Qionglai Shan) và Đại Ba Sơn ( Daliang Shan). Nơi đây núi hạ thấp chỉ còn từ 1800-900m, sau đó là bồn địa xen lẫn với cao nguyên. Bậc này bao gồm Cao nguyên Mông Cổ ( Mongolian Plateau), Bồn địa Tarim (Tarim Basin), Cao nguyên hoàng thổ ( Loess Plateau) – đất hoàng thổ lẫn phù sa màu vàng xám hình thành do gió , Bồn địa Tứ Xuyên ( Sichuan Basin) và Cao nguyên Vân Nam- Quý Châu (Yunnan-Guizhou).

Bậc thứ ba mở rộng từ phía đông của rặng núi Đại Lâu ( Dalou), Thái Hằng (Taihang), và Vu Sơn ( Wu) và từ vành đai phía đông của Cao nguyên Vân Nam- Qúy Châu tới biển. Hầu hết vùng này là đồi và đồng bằng nằm ở độ cao 450m.

Điểm nổi bật nhất của địa hình Trung Quốc là phạm vi rộng lớn của các dãy núi của nó. Thực vậy, núi có ảnh hưởng sâu sắc đến chính trị, kinh tế, và sự phát triển văn hóa. Ước tính 1/3 diện tích Trung Quốc là đồi núi. Trung Quốc có những dãy núi cao nhất thế giới và những cao nguyên cao và rộng lớn nhất thế giới, ngoài ra là những đồng bằng ven biển rộng lớn. Do địa hình da dạng Trung Quốc có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú.

800px-Everest_North_Face_toward_Base_Camp_Tibet_Luca_Galuzzi_2006

Mặt bắc của Everest nhìn từ Cao nguyên Tây Tạng

Địa hình Trung Quốc cũng nổi bật bởi sự tráng lệ huy hoàng của nó. Everest nằm ở biên giới giữa Trung Quốc và Nepal, là đỉnh núi cao nhất trên thế giới, với độ cao 8850m. Tương phản với nó là phần thấp nhất của bồn địa Thổ Lỗ Phiên (Tufan depression) ở Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương ( Uygur Autonomous Region of Xinjian ) – Hồ Ayding có độ sâu 155m dưới mực nước biển. Vùng duyên hải Trung Quốc cũng có sự tương phản lớn giữa Nam và Bắc. Về phía nam của vịnh Hàng Châu (Hangzhou), bờ biển ghồ ghề lởm chởm với nhiều vịnh và đảo ngoài khơi. Về phía bắc, ngoại trừ bờ biển dọc bán đảo Sơn Đông (Shandong ) và Liêu Đông ( Liaodong) bờ biển bằng phẳng có nhiều bãi cát.

117264-004-4F6187D9Four days after a major earthquake struck China’s Sichuan province on May 12, 2008, rescue workers in the town of Yingxiu search for survivors.

4 ngày sau trận động đất chính xảy ra ở tỉnh Tứ Xuyên vào ngày 12/5/2008. Các đội cứu hộ ở thị trấn Yingxiu tỉnh Tứ Xuyên đang tìm kiếm những người còn sống sót.

Trung Quốc thường xuyên chịu những trận động đất ở khắp phần lớn đất nước. Nguyên nhân chính của sự không ổn định về địa chất này là kết quả của sự chuyển dịch về phía bắc của mảng nền Ấn độ, đã va đập vào các dãy núi và cao nguyên tây nam Trung Quốc. Trong suốt lịch sử của mình Trung Quốc đã trải nghiệm những trận động đất lớn giết chết hàng triệu người. Chỉ riêng hai trận động đất vào thế kỷ 20 ở tỉnh Cam Túc (Gansu) , năm 1920 và ở thành phố Đường Sơn (Tangshan), phía đông tỉnh Hà Bắc ( Hebei) năm 1976 đã khiến cho 250.000 người chết ở mỗi nơi, và trận động đất ở phía đông tỉnh Thành Đô năm 2008 giết chết mười ngàn người và tàn phá một vùng động lớn.

137498-004-EBD952FE-Road on the southern Plateau of Tibet near Mount Everest, Tibet Autonomous Region, China.

Con đường ở phía nam Cao nguyên Tây Tạng gần dãy núi Everest, Khu tự trị Tây Tạng, Trung Quốc.

Địa hình Trung Quốc cũng ảnh hưởng đến sự phát triển về nhiều phương diện. Nền văn minh của người Hoa gốc Hán khởi đầu ở phía nam của Cao nguyên Hoàng thổ, và từ đó lan rộng mãi cho tới khi nó gặp những chướng ngại về địa hình và khí hậu. Các hành lang nổi tiếng như Cam Túc, Hà tây (Hexi) đã minh chứng điều này. Về phía nam của hành lang này là Cao Nguyên Tây Tạng, quá cao và quá lạnh khiến văn minh Trung Quốc không thể đạt được chỗ đứng. Ở phía bắc hành lang là Sa mạc Gobi, cũng tạo thành rào chắn. Vì vậy, nền văn minh Trung Quốc bị buộc phải lan ra dọc hành lang, nơi tuyết và băng ở núi Nam Sơn tan chảy cung cấp nước cho nông nghiệp ốc đảo. Về hướng tây những nơi tận cùng hành lang trở thành nơi gặp gỡ của phương Đông cổ đại và phương Tây.

wikiimg.ashx-Sand dunes of the Gobi Desert near Dunhuang, in Gansu Province.

Đụn cát ở Sa mạc Gobi gần thành Đôn Hoàng, Tỉnh Cam Túc

Do đó, trong một thời gian dài trung tâm chính trị cổ của Trung Quốc nằm dọc hạ lưu Hoàng Hà ( Huang He). Vì rào chắn địa hình chính quyền trung ương khó có thể đạt được sự khiểm soát hoàn toàn đối với toàn bộ quốc gia, trừ khi một triều đại mạnh mẽ khác thường nắm quyền. Như trường hợp của Bồn địa Tứ Xuyên (Sichuan Basin ) một khu vực bị cô lập ở phía tây nam Trung Quốc, diện tích gấp hai Scotland, được bảo vệ bởi các dãy núi cao và là nơi tự cung tự cấp các sản phẩm nông nghiệp – đã trở thành một vương quốc độc lập. Tình huống tương tự này cũng phát sinh ở Bồn địa Tarim phía tây bắc. Liên kết với các phần còn lại của Trung Quốc chỉ bằng hành lang Cam Túc, bồn địa này thậm chí còn xa xôi hơn Tứ Xuyên, và, khi chính quyền trung ương đã không thể có được ảnh hưởng của nó, bang ốc đảo đã được thành lập; chỉ có ba triều đại mạnh – Hán, Đường và nhà Thanh, hay Mãn Châu có khả năng kiểm soát khu vực.

Ngoài ba độ cao địa hình đã được đề cập, có thể – trên cơ sở của cấu trúc địa chất, điều kiện khí hậu, và sự khác biệt trong sự phát triển về địa mạo-chia Trung Quốc thành ba khu vực địa hình chính: khu vực phía đông, khu vực tây bắc, và tây nam. Khu vực phía đông được hình thành bởi các con sông, mà đã xói mòn địa hình ở một số nơi và đã bồi tụ phù sa ở những nơi khác; khí hậu của nó là gió mùa (đặc trưng bởi những cơn gió gây mưa theo mùa). Khu vực Tây Bắc là vùng khô hạn bị xói mòn bởi gió; nó tạo thành một lưu vực thoát nước nội địa. Khu vực Tây Nam là miền núi cao sừng sửng và lạnh lẽo, giữa núi là các cao nguyên và hồ nội địa.

2. KHÍ HẬU

a/ Các khối khí

Các vùng đất rộng lớn và địa hình đa dạng của Trung Quốc nằm ở châu Á, lục địa lớn nhất thế giới, trông ra Thái Bình Dương, đại dương lớn nhất thế giới, dọc theo một bờ biển rộng lớn. Khí hậu của đất nước vì thế, ảnh hưởng nặng nề bởi sự chuyển dịch theo mùa của các khối khí lớn giữa Thái Bình Dương và Trung Quốc đại lục. Các khối không khí địa cực, có nguồn gốc ở phía bắc ở Siberia, chi phối một phần lớn của khí hậu Trung Quốc trong suốt mùa đông; tương tự như vậy, các khối không khí nhiệt đới Thái Bình Dương gây sức ảnh hưởng của mình trong suốt mùa hè. Các điều kiện khí hậu chiếm ưu thế rõ rệt và đa dạng thịnh hành trong mùa hè và mùa đông là một kết quả trực tiếp của sự tương tác của hai khối không khí, mà hoàn toàn khác nhau về bản chất tự nhiên.

Các khối không khí Siberia, mà khá ổn định, rất lạnh và khô thường đã đánh dấu lớp nghịch nhiệt. Sau khi vượt qua cao nguyên Mông Cổ, khối không khí lan tràn xuống phía nam và bắt đầu xâm chiếm bắc Trung Quốc, nơi mà nó trải qua một loạt các thay đổi nhanh chóng; nhiệt độ của nó tăng lên một chút, và sự ổn định của nó giảm. Trong ngày không khí có thể khá ấm áp, nhưng vào ban đêm hoặc ở những nơi râm mát rất khắc nghiệt. Nói chung, trong năm ban ngày phạm vi nhiệt độ là hơn 10° C; có khi đến 25oC . Do Bắc Trung Quốc chịu ảnh hưởng bởi khối không khí này hầu hết thời gian, nên trời thường khô, thời tiết trong trẻo và ánh sáng mặt trời phong phú trong suốt những tháng mùa đông.

Từ tháng Mười đến tháng Ba gió mùa đông chiếm ưu thế, nhưng gió thay đổi hướng khi di chuyển về phía nam. Ờ bắc và đông bắc Trung Quốc gió thổi theo hướng tây bắc, ở đông Trung Quốc, và trên các bờ biển phía đông nam gió thổi theo hướng đông bắc.Chiều cao của các vành đai gió mùa đông thường không vượt quá 4.000 m. Khi nó di chuyển về phía nam, chiều cao giảm; ở Nam Kinh là khoảng 2.000 m, và ở nam Trung Quốc nó ít hơn 1.500 m. Núi Tần Lĩnh trở thành một rào cản hữu hiệu đối với những con gió lạnh thổi về phía nam, đặc biệt là ở phần phía tây, nơi độ cao trung bình của các dãy núi chủ yếu giữa 2.000 và 2.700 m.

Ở Trung Quốc, khối không khí nhiệt đới Thái Bình Dương là nguồn cung cấp chính của lượng mưa mùa hè. Khi nó chiếm ưu thế, nó có thể bao gồm nửa phía đông của Trung Quốc và thâm nhập sâu vào khu vực biên giới của cao nguyên Mông Cổ và trên rìa phía đông của cao nguyên Tây Tạng. Vào mùa hè, khối không khí Siberian rút lui vào cuối phía tây của Mông Cổ, mặc dù thỉnh thoảng thâm nhập xuống phía nam và đôi khi có thể đến thung lũng sông Hoài, tạo thành một sự xung đột mùa hè giữa khối khí nhiệt đới Thái Bình Dương và khối không khí ở Siberia.

Sự chuyển động của hai khối khí có ý nghĩa to lớn đối với khí hậu của miền trung và bắc Trung Quốc. Vào mùa hè, khi khối không khí nhiệt đới chiếm ưu thế, diện hội tụ giữa hai khối khí dịch chuyển lên phía bắc; kết quả là, phía bắc Trung Quốc nhận được lượng mưa lớn. Tuy nhiên khi gió mùa đông nam dịu bớt, diện hội tụ di chuyển xuống phía nam, và miền trung Trung Quốc nhận được lượng mưa nhiều hơn, mà có thể gây ra lũ lụt. Các hoạt động của khối không khí nhiệt đới Thái Bình Dương vào mùa đông chỉ giới hạn ở khu vực phía đông nam ven biển; do đó trong suốt mùa đó, trời thường xuyên có mưa phùn ở vùng đồi phía nam của dãy núi Nam Lĩnh, và sương mù buổi sáng là phổ biến.

Bên cạnh hai khối không khí, ba khối không khí khác cũng ảnh hưởng đến khí hậu của Trung Quốc : khối khí lục địa xích đạo (gió mùa tây nam rất không ổn định), khối không khí hải dương ở cực, và các khối không khí hải dương xích đạo. Hơn nữa, vì Trung Quốc rộng lớn và có địa hình phức tạp như vậy, sự tương tác giữa các khối không khí và địa hình đã tạo nên một loạt các điều kiện khí hậu.

b/ Nhiệt độ

BÌNH NGUYÊN ĐÔNG BẮC 2

Mùa đông ở Bình nguyên Đông Bắc

Nhiệt độ nói chung giảm từ nam đến bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm là trên 20° C trong thung lũng sông Châu Giang (Pearl River valley) . Nó giảm xuống từ 15 đến 20° C, ở vùng trung và hạ lưu của sông Dương Tử (Yangtze River) , đến khoảng 10° C ở bắc Trung Quốc và một phần phía nam của Tân Cương (Xinjiang) , và 5° C ở khu vực phía nam của vùng Đông Bắc, vùng phía bắc Tân Cương, và các nơi gần Vạn lý Trường thành. Nó giảm xuống dưới 0° C; tức là, ở phía bắc Hắc Long Giang (Heilongjiang). Nhiệt độ giữa các vùng cực nam và bắc khoảng 48° C. Với vài ngoại lệ, tháng Giêng là tháng lạnh nhất và tháng Bảy là nóng nhất.

Phía nam của dãy Tần Lĩnh ( Qin Mountains) và sông Hoài (Huai River), nhiệt độ tháng Giêng tăng dần đến 22 ° C trên bờ biển phía nam của đảo Hải Nam (Hainan Island). Tuyết hiếm khi rơi, và những dòng sông không đóng băng. Bắc của đường này, nhiệt độ xuống – 28 ° C ở phía bắc Hắc Long Giang.

800px-吉林雾凇- Snow in Jilin City

Tuyết rơi ở tỉnh Cát Lâm ( Jili), Vùng Đông Bắc Trung Quốc.

Vào tháng tư nhiệt độ trung bình trên 0o C cho toàn bộ Trung Quốc, ngoại trừ cực bắc Hắc Long Giang. Suốt thời gian đó nhiệt độ trung bình cho các đồng bằng Đông Bắc là từ 2 và 8 ° C, và cho các đồng bằng rộng lớn giữa Bắc Kinh (Beijing) và Thượng Hải (Shanghai ) là từ 12 và 15 °C. Nam của rặng núi Nam Lĩnh (Nan Mountains) nhiệt độ trung bình hơn 20°C. Dọc theo bờ biển phía nam Quảng Đông (Guangdong), cây liễu bắt đầu nảy chồi vào cuối tháng Giêng, nhưng ở Bắc Kinh các mầm của cây liễu đâm chòi muộn vào đầu tháng tư.

Vào mùa hè nhiệt độ chênh lệch giữa Bắc và Nam Trung Quốc là khá nhỏ. Trong tháng Bảy, chênh lệch nhiệt độ giữa Quảng Châu ( Guangzhou ) và Bắc Kinh là chỉ khoảng 3 °C, và các đường đẳng nhiệt vào tháng Bảy gần như song song với bờ biển. Trong tháng Bảy, các đường đẳng nhiệt 28 ° C được ghi nhận ở một khu vực rộng lớn. Những nơi nóng nhất ở Trung Quốc được tìm thấy dọc theo các thung lũng trung và hạ lưu sông Dương Tử. Nhiệt độ trung bình tháng bảy của Nam Xương ( Nanchang ) và Trường Sa (Changsha ) cũng là ở trên 29 °C, và trong nhiều năm nó vượt quá 30 °C.

Ở bắc Trung Quốc mùa thu thường lạnh hơn mùa xuân. Nhiệt độ trung bình tháng Mười ở Bắc Kinh là khoảng 13 ° C, và tháng Tư là khoảng 14 ° C. Ở nam Trung Quốc thì ngược lại. Nhiệt độ trung bình tháng Mười ở Quảng Châu là 24 ° C, nhưng vào tháng Tư chỉ khoảng 21 ° C.

Ở trung lưu và hạ lưu của sông Hoàng Hà (Huang He ) là nơi mà nền văn minh nông nghiệp của Trung Quốc được phát triển đầu tiên. Có nhịp điệu theo mùa cũng biểu hiện khá rõ, và thời gian của mỗi mùa có khoảng cách đều nhau.

Tuy nhiên, ở những khu vực khác nhau của Trung Quốc, thời gian cũng như sự khởi đầu và kết thúc ngày của mỗi mùa khác nhau giữa các vùng khác nhau. Mùa hè là không tồn tại ở phía bắc Hắc Long Giang, trong khi không có mùa đông ở miền nam Quảng Đông. Tại Côn Minh (Kunming), Vân Nam ( Yunnan ) ở miền núi, khí hậu ôn hòa quanh năm, với giai đoạn hè và đông rất ngắn.

Nhìn chung, phía nam của dãy núi Tần Lĩnh sông Hoài nhiệt độ trung bình ngày ít khi dưới 0o C, vì vậy nông nghiệp có thể tiến hành quanh năm. Trong thung lũng sông Dương Tử hàng năm thường trồng hai vụ mùa, nhưng phía bắc của Vạn lý Trường Thành chỉ có thể duy nhất một mùa.

c/ Lượng mưa

ichecho001p4

Đập ngăn lũ trên sông Hoàng Hà

Lượng mưa ở Trung Quốc thường diễn biến tùy theo nhiệt độ , giảm dần từ đông nam đến tây bắc. Tổng lượng hàng năm của khu vực dọc theo bờ biển phía đông nam chiếm tới hơn 2.000 mm. Thung lũng sông Dương Tử nhận được khoảng 1.000 đến 1.150 mm/n. Xa hơn về phía bắc, trong thung lũng sông Hoài, lượng mưa hàng năm giảm khoảng 880 mm. Vùng hạ lưu của Hoàng Hà, chỉ 500-650 mm/ năm. Đông Bắc thường nhận được lượng mưa nhiều hơn Đồng bằng Hoa Bắc, lên tới 900mm/n hoặc hơn ở núi Trường Bạch (Changbai Mountains).

Gió mùa đông nam mất nhiều độ ẩm khi nó đến phía bắc của Cao nguyên Hoàng Thổ, nơi lượng mưa hàng năm giảm xuống còn từ 300 và 500 mm. Tây Bắc của một đường nối liền Đại Hưng An ( Da Hinggan), Yin, Lang, Kỳ Liên, và dãy Altun , lượng mưa hàng năm ít hơn 250 mm. Bởi vì những khu vực này xa biển, núi cao ngăn chặn gió mùa từ phía nam tiếp cận chúng, và chỉ có đồng cỏ được tìm thấy ở đó. Ở tây Nội Mông ( (Inner Mongolia), Hành lang Cam Túc, và Bồn địa Tarim, lượng mưa hàng năm giảm xuống 100 mm hoặc ít hơn. Đây là khu vực của sa mạc thật sự, nơi mà đôi khi không có một giọt hơi ẩm nhận được trong nhiều năm.

Bồn địa Junggar và thung lũng sông Ili của miền bắc Tân Cương là nơi chịu ảnh hưởng của gió tây, và lượng mưa nơi đó rất lớn. Lượng mưa trên cao nguyên Tây Tạng giảm dần từ đông nam đến tây bắc. Mưa hàng năm trên 900mm ở các thung lũng phía đông nam của cao nguyên, và rìa phía đông nhận được 450mm/n. Tuy nhiên, trong vùng quanh Bồn địa Sài Đạt Mộc (Qaidam Basin) ở phía bắc, tổng số hàng năm chỉ 100 – 250mm.

Sự biến đổi cao của lượng mưa là một đặc tính của khí hậu của Trung Quốc. Thông thường, độ biến thiên tăng khi lượng mưa hàng năm giảm, trường hợp đó liên quan chặt chẽ với hạn hán và lũ lụt diễn ra thường xuyên của đất nước. Mưa mùa xuân có ý nghĩa to lớn cho nông dân Trung Quốc, nhưng mùa xuân cũng là mùa có sự thay đổi cao nhất. Ở Nam Trung Quốc sự biến đổi vượt quá 40%, dọc theo sông Dương Tử là khoảng 45%, và ở bắc Trung Quốc, nó là hơn 50 %. Các thay đổi của một khu vực rộng lớn ở bắc Trung Quốc vượt quá 70 % ở một số nơi; phía đông của Bắc Kinh, ví dụ, sự thay đổi lượng mưa vào mùa xuân có thể thậm chí vượt quá 80 phần trăm, vì nó nằm giữa trung tâm của cao nguyên Vân Nam-Quý Châu.

Mưa rơi chủ yếu là trong những tháng mùa hè, khi cây cần nước nhiều nhất. Điều này rất quan trọng đối với người nông dân, nhưng lượng mưa hè thường quá dữ dội. Vào tháng Bảy, khi diện hội tụ dịch về phía bắc, lốc xoáy hoạt động nhiều ở bắc Trung Quốc hơn ở nam Trung Quốc, và bắc Trung Quốc bắt đầu nhận nhiều mưa. Hơn một nửa diện tích của đồng bằng Hoa Bắc nhận lượng mưa 20 mm /ngày, và ở một số nơi nó có thể đạt tới 25 mm hoặc hơn mỗi ngày. Trong thời gian đó, khu vực phía nam của sông Dương Tử được bao phủ bởi khối không khí nhiệt đới Thái Bình Dương, do đó, thời tiết trở nên tương đối ổn định, lượng mưa thường giảm, và cường độ mưa trung bình là ít hơn so với tháng Sáu. Cường độ của lượng mưa tháng Tám nói chung ít hơn so với tháng Bảy.

Ở các vùng ven biển đông nam, quanh Phúc Châu ( Fuzhou ) và Sán Đầu ( Shantou) lượng mưa tối đa hàng ngày thậm chí có thể đạt tới 300 mm. Sự tích tụ đó có liên quan trực tiếp đến các cơn bão nhiệt đới thường xuyên đập vào vùng duyên hải, thường là trong khoảng thời gian từ tháng Năm đến tháng Mười Một; Tháng Bảy, tháng Tám và tháng Chín là ba tháng thường có bão nhất .

Trong tháng Năm , bão thường đập vào phía nam bờ biển của Sán Đầu. Cuối tháng Sáu chúng di chuyển về hướng bắc, đến giữa Sán Đầu và Ôn Châu (Wenzhou) và sau tháng Bảy chúng xâm nhập khu vực phía bắc của Ôn Châu. Tháng Tám bão xâm nhập nhiều nhất, lúc đó hơn 1/3 các cơn bão đến Trung Quốc. Sau tháng chín tần số của các trận bão giảm, và bão lại chuyển dịch xuống phía nam. Trong tháng mười, bão thường đổ bộ vào phía nam của Ôn Châu; Các cơn bão cuối cùng đến vào tháng Mười một và tháng Mười hai đập vào phía nam của Sán Đầu.

3. SÔNG NGÒI

800px-Hukou_Waterfall-Hukou Waterfall of Yellow River, China

Thác Hukou trên sông Hoàng Hà

Trung Quốc có hơn 50.000 sông có lưu vực rộng hơn 100km2. Hàng năm sông đem ra biển khoảng 95% lượng nước ( hơn 80% vào Thái Bình Dương, 12% vào Ấn Độ Dương, và ít hơn 1 % vào Bắc Băng Dương) và 5 phần trăm biến mất trong đất liền.

Ba con sông chính của Trung Quốc, tất cả đều chảy thường từ tây sang đông, ra biển ở phía đông, là Hoàng Hà (Huang He), sông Dương Tử (Yangtze ), và Tây Giang ( Xi). Sông Hoàng Hà bắt nguồn từ Côn Luân chảy ra biển Bột Hải ( Vịnh Chihli), phía bắc của bán đảo Sơn Đông. Sông Dương Tử là sông dài nhất, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng chảy ngang qua giữa Trung Quốc, ra biển Đông Trung Quốc ở phía bắc Thượng hải. Sông Tây Giang nằm ở phía nam bắt nguồn từ Cao nguyên Vân Nam – Quý Châu và chảy vào biển Nam Trung Quốc qua châu thổ sông Châu Giang ( Pearl River) ở Quảng Đông.

The first turn of the Yangtze at Shigu (石鼓) in Yunnan Province, where the river turns 180 degrees from south- to north-bound

Khúc uốn đầy tiên của sông Dương Tử ở Shigu ở Tỉnh Vân Nam, nơi sông uốn khúc 180 o từ nam đến bắc.

Sự phân bố dòng chảy bề mặt ở Trung Quốc là rất không đồng đều. Chỉ có một phần nhỏ lãnh thổ có đủ số lượng nước quanh năm. Phần lớn lãnh thổ có nhiều dòng chảy nhưng chỉ trong suốt lúc mưa mùa hè, là lúc nó nhận được lượng nước dồi dào. Từ đông nam đến tây bắc dòng chảy bề mặt giảm khi địa hình trở nên nhiều đồi núi hơn. Vùng rộng lớn ở phía tây bắc thiếu nước quanh năm. Bắc Trung Quốc (phía bắc của dãy Tần Lĩnh- sông Hoài) với địa hình bằng phẳng và có lịch sử nông nghiệp lâu đời, chứa hầu như 2/3 diện tích đất canh tác của Trung Quốc; nghịch lý là, do mưa ít và thất thường, dòng chảy trung bình hàng năm ở miền bắc chỉ chiếm khoảng một phần sáu so với toàn lãng thổ.

Bản đồ hệ thống sông Châu Giang. Tây giang ở đây viết là Xi, được coi như là hợp lưu của các sông Tầm giang

Bản đồ hệ thống sông Châu Giang. Tây giang ở đây viết là Xi, được coi như là hợp lưu của các sông Tầm giang (Xun trên bản đồ), Quế giang (Gui trên bản đồ) và Hạ giang (He trên bản đồ).

Các núi phía Đông Nam và đảo Hải Nam, miền núi có dòng chảy bề mặt dồi dào nhất. Trong năm chúng nhận được lượng mưa hơn 1.500 mm (ở một số nơi thậm chí hơn 2.000 mm), trong đó gần hai phần ba đã cấu thành dòng chảy, do đó, hệ sông ngòi dày đặc. Lượng mưa là cao nhất ở phía đông nam, vượt hơn 1.000 mm. Nó dần dần giảm đi về phía tây và phía bắc, do đó trong sa mạc thật sự của phía tây bắc mưa thường là ít hơn 10 mm. Khí hậu khô cằn của vùng Tây Bắc được phản ánh trong các cảnh quan của thảo nguyên khô, được đặc trưng bởi cỏ phong phú hơn ở phía đông, trong khi ở phía tây phong cảnh dần dần thay đổi sang sa mạc khô khan và trơ trụi.

800px-1_li_jiang_guilin_yangshuo_Li River connects Guilin and Yangshuo County

Sông Quế Giang ( Li Jiang ) kết nối Quế Lâm (Guilin) và Dương Sóc ( Yangshuo). Sông Quế chảy qua khu vực đông bắc khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Guangxi Zhuang), Trung Quốc. Sông Quế chảy qua khu vực có nhiều đá vôi nên hai bờ có nhiều hang động đá vôi, với nước trong xanh và phong cảnh đẹp, vì thế nó là khu vực du lịch có tiếng tại Trung Quốc.

Ở đoạn hạ lưu của sông Dương Tử, Châu thổ sông Châu Giang, và đồng bằng Thành Đô một mạng lưới đường thủy dày đặc đã được phát triển. Ở đồng bằng Hoa Bắc và vùng Đồng bằng Đông Bắc hầu hết các sông có luồng thẳng, các nhánh rất ít và rời rạc.Trong khu vực thoát nước nội địa có rất ít sông vì lượng mưa ít ỏi. Khu vực rộng lớn như lòng chảo Tarim và đông bắc tỉnh Cam Túc thường hoàn toàn không có dòng chảy. Trong những khu vực đó các con sông phụ thuộc vào tuyết tan chảy và băng; chúng chủ yếu là sông nhỏ và chỉ được tìm thấy ở các vùng núi và đồi chân núi. Khi chúng chảy ngày càng xa vùng núi, hầu hết trong số chúng cuối cùng biến mất trong sa mạc, trong khi một số hình thành hồ nội địa. Bởi vì phần phía bắc của cao nguyên Tây Tạng là một sa mạc lạnh, tốc độ bốc hơi chậm, vì vậy mà một mạng lưới sông ngòi dày đặc hơn đã phát triển; tuy nhiên hầu hết trong số này, chảy vào chỗ trũng phủ băng, hình thành nhiều hồ.

4. THỰC VẬT VÀ ĐỘNG VẬT
a/ Thực vật

Địa hình và khí hậu đa dạng của Trung quốc đã tạo nên một loạt các loại thực vật tự nhiên. Tổng số loài thực vật có hạt của đất nước là khoảng 30.000, đại diện cho khoảng 2.700 chi; hơn 200 các chi là loài đặc hữu của Trung Quốc. Có khoảng 2.500 loài cây rừng, trong đó có khoảng 95 phần trăm các loại cây lá rộng. Nhiều rong số những cây này có tầm quan trọng kinh tế, chẳng hạn như cây trẩu ( dầu trẩu chiết suất từ hạt của nó làm sơn và vécni mau khô) , cây long não, cây sơn (Rhus verniciflua), hoa hồi (trong đó sản lượng dầu được sử dụng như một chất phụ gia hương liệu), và cây thủy lạp bóng (Ligustrum lucidum).

Góp phần vào sự đa dạng và sự hòa lộn với nhau của loài thực vật nhiệt đới và ôn đới ở Trung Quốc là những yếu tố như thiếu các rào cản địa hình không thể vượt qua, chẳng hạn như sự trải rộng của sa mạc, giữa các vùng nhiệt đới, ôn đới, và dưới núi cao; các hệ thống gió mà luân phiên vào mùa đông và mùa hè; và xuất hiện thường xuyên của các trận bão. Nếu, ví dụ, các thảm thực vật của tỉnh Hắc Long Giang ở phía bắc và các tỉnh Quảng Đông ở miền nam được so sánh, ta thấy khó có thể tìm thấy một loài thực vật phổ biến nhất, ngoại lệ duy nhất chỉ có cỏ dại. Trong rừng taiga (rừng phương bắc) khu vực của khu vực biên giới phía bắc của Trung Quốc hay ở vùng núi cao, mặt khác, có rất nhiều loài thực vật cũng được tìm thấy trong các vùng đất trong vòng Bắc cực, trong khi ở các vùng nhiệt đới của Trung Quốc có những loài cũng phát triển phía nam của đường xích đạo.Tuy nhiên, từ quan điểm sinh thái, các khu rừng nhiệt đới của nam Trung Quốc nói chung không khác nhau lớn với Indonesia và các nước Đông Nam Á khác, và thực vật sa mạc và thảo nguyên của vùng tây bắc Trung Quốc cũng giống như các loài tìm thấy ở Mông Cổ hay Kazakhstan. Hơn nữa, rừng taiga Trung Quốc ở khu vực biên giới giáp với Nga về cơ bản giống như của Siberia.

Ở Trung Quốc ta có thể bắt gặp tất cả các loại thực vật tự nhiên bản địa Bắc bán cầu, ngoại trừ các loài của vùng lãnh nguyên Bắc cực. Có cây đước của rừng ngập mặn dọc theo bờ biển nam Trung Quốc; rừng nhiệt đới trên đảo Hải Nam và nam Vân Nam; và sa mạc, thảo nguyên, đồng cỏ, và savan, cũng như các khu vực mà cây lá kim và rừng thường xanh nhiệt đới và ôn đới và cây lá rộng chiếm ưu thế.

Trung Quốc có thể được chia – khoảng dọc theo một đường chéo từ phía tây nam đến đông bắc-thành hai khu vực thực vật mạnh khác nhau: phía tây bắc khô và đông nam ẩm. Các khu vực nhiệt đới, tiếp giáp phía đông nam ẩm, về phương diện địa lý có liên quan nhiều hơn đến Đông Nam Á. Ở phía Tây Bắc, nơi mà có điều kiện địa lý giống như sa mạc chiếm ưu thế, là khu vực rộng lớn của thảm thực vật chịu hạn thưa thớt; bên trong các vùng này, trong khu vực đất thấp, trũng, là những mảng cây chịu mặn, đặc biệt là ở các vùng Junngar, Bồn địa Sài Đạt Mộc (Qaidam-or Tsaidam, từ tiếng Mông Cổ: Цайдам, “dầm muối” hay “thung lũng rộng” ), và Gobi. Rìa phía nam của Gobi là một vành đai rộng đồng cỏ rộng lớn.

b/ Đời sống động vật

800px-A giant panda, China's most famous endangered and endemic species, at the Chengdu Research Base of Giant Panda Breeding in Sichuan

Gấu trúc cực lớn được nuôi ở Tứ Xuyên

Sự phong phú của các loại thực vật và sự đa dạng của địa hình đã tạo điều kiện cho một sự đa dạng tuyệt vời của đời sống động vật phát triển và cho phép động vật tồn tại nơi đó mà ở nơi khác đã tuyệt chủng.

Nổi bật trong số những loài tồn tại là cá tầm thìa của sông Dương Tử, cá sấu châu Mỹ ở miền đông và trung Trung Quốc, và kỳ nhông khổng lồ (liên quan đến kỳ nhông khổng lồ Nhật Bản và kỳ nhông to ở Mỹ- tên la tinh là cryptobranchus alleganiensis) ở miền tây Trung Quốc.

800px-Takin_1427- dê linh dương

Dê linh dương

Sự đa dạng của đời sống động vật có lẽ tuyệt vời ở trong các dãy núi và thung lũng Tây Tạng và Tứ Xuyên, là tỉnh nổi tiếng như là nhà của gấu trúc khổng lồ. Linh ngưu (một loại dê linh dương), nhiều loài chim trĩ, và nhiều loài chim hét cười được, được tìm thấy ở khắp các dãy núi Trung Quốc. Trung Quốc dường như là một trong những trung tâm chính của sự gieo rắc các loài cá chép và cá da trơn của thế giới cổ.

III. DÂN CƯ , XÃ HỘI

1/ DÂN SỐ

wikiimg.ashx-A 2009 population density map of the People's Republic of China. The eastern coastal provinces are much more densely populated than the western interior.

Bản đồ dân cư dày đặc của Trung Quốc. Vùng ven biển dân cư đông đúc hơn vùng nội địa phía tây

Theo kết quả điều tra nhân khẩu toàn quốc năm 2014, dân số nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 1.364.038.000 người. Khoảng 16,60% dân số từ 14 tuổi trở xuống, 70,14% từ 15 đến 59 tuổi, và 13,26% từ 60 tuổi trở lên. Do dân số đông và tài nguyên thiên nhiên suy giảm, chính phủ Trung Quốc rất quan tâm đến tốc độ tăng trưởng dân số, và từ năm 1978 họ đã nỗ lực tiến hành chính sách kế hoạch hóa gia đình nghiêm ngặt được gọi là “chính sách một con.” Trước năm 2013, chính sách này hạn chế mỗi gia đình có một con, ngoại trừ các dân tộc thiểu số và linh hoạt nhất định tại các khu vực nông thôn.

Chinese_family_with_one_child_at_Beihai_Park,_Beijing2

Gia đình Trung Quốc có một con

Một nới lỏng lớn về chính sách được ban hành vào tháng 12 năm 2013, cho phép các gia đình có hai con nếu một trong song thân là con một. Năm 2010 tỉ lệ sinh ở Trung Quốc là khoảng 1,4. Chính sách một con cùng với truyền thống trọng nam có thể góp phần vào mất cân bằng về tỷ suất giới tính khi sinh. Theo điều tra nhân khẩu năm 2010, tỷ suất giới tính khi sinh là 118,06 nam/100 nữ, cao hơn mức thông thường là khoảng 105 nam/100 nữ. Kết quả điều tra nhân khẩu vào năm 2013 cho thấy nam giới chiếm 51,27% tổng dân số.

2/ DÂN TỘC

Untitled-1 copy

Khu nhà mô phỏng các lều du mục (yurt) và trang phục truyền thống của người Mông Cổ tại Nội Mông

Trung Quốc là một lãnh thổ đa quốc gia, với dân số bao gồm nhiều dân tộc và nhiều ngôn ngữ. Trung Quốc chính thức công nhận 56 dân tộc riêng biệt, dân tộc đông dân nhất là người Hán, chiếm khoảng 91,51% tổng dân số. Người Hán, do đó, tạo thành khối đồng nhất lớn của nhân dân Trung Quốc, chia sẻ cùng một văn hoá, cùng truyền thống, và cùng ngôn ngữ viết. Vì lý do này, các cơ sở chung để phân loại dân số của đất nước phần lớn là ngôn ngữ chứ không phải sắc tộc. Khoảng 55 nhóm dân tộc thiểu số đã lan ra trên khoảng ba phần năm tổng diện tích của đất nước. Nơi mà các nhóm thiểu số tập trung với số lượng lớn, họ đã có được một số vẻ tự chủ và tự quản; khu tự trị của một số loại đã được thành lập trên cơ sở của sự phân bố địa lý của các dân tộc.

Chính quyền đã đạt được sự tín nhiệm trong việc đối xử với các dân tộc thiểu số; đã nâng cao kinh tế phồn vinh của họ, nâng cao mức sống, cung cấp cơ sở giáo dục, quảng bá ngôn ngữ và văn hóa, và nâng cao trình độ văn hoá của họ, cũng như giới thiệu ngôn ngữ viết ở những nơi không tồn tại trước đó. Tuy nhiên, người ta ghi nhận rằng, một số dân tộc thiểu số (ví dụ, người Tây Tạng) đã bị đàn áp với mức độ khác nhau.

Cũng vậy trong số 50 ngôn ngữ của dân tộc thiểu số, chỉ có 20 dân tộc có chữ viết trước khi có sự xuất hiện của chế độ Cộng sản vào năm 1949; và chỉ có tương đối ít các ngôn ngữ viết – ví dụ như Mông Cổ, Tây Tạng, Uighur, Kazakhstan (Hasake), Đại, và Hàn Quốc (Chaoxian) được sử dụng hàng ngày. Ngôn ngữ viết khác đã được sử dụng chủ yếu cho mục đích tôn giáo và bởi số lượng hạn chế người. Cơ sở giáo dục cho dân tộc thiểu số là một đặc điểm của nhiều thành phố lớn, đặc biệt là Bắc Kinh, Vũ Hán, Thành Đô, và Lan Châu (Lanzhou).

3/ NGÔN NGỮ :

Trung Quốc có 292 ngôn ngữ đang tồn tại. Các ngôn ngữ phổ biến nhất thuộc nhánh Hán của ngữ hệ Hán-Tạng, gồm có Quan thoại (bản ngữ của 70% dân số), và các ngôn ngữ Hán khác: Ngô, Việt (hay Quảng Đông), Mân, Tương, Cám, và Khách Gia. Các ngôn ngữ thuộc nhánh Tạng-Miến như Tạng, Khương, Lô Lô được nói trên khắp cao nguyên Thanh Tạng và Vân Quý. Các ngôn ngữ thiểu số khác tại tây nam Trung Quốc gồm các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Tai-Kadai như tiếng Choang, H’Mông-Miền và Nam Á. Tại khu vực đông bắc và tây bắc của Trung Quốc, các dân tộc thiểu số nói các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Altai như tiếng Mông Cổ và ngữ hệ Turk như tiếng Duy Ngô Nhĩ. Tiếng Triều Tiên là bản ngữ tại một số khu vực sát biên giới với Bắc Triều Tiên, và tiếng Sarikoli của người Tajik ở miền tây Tân Cương là một ngôn ngữ Ấn-Âu.

Tiếng phổ thông là một dạng của Quan thoại dựa trên phương ngôn Bắc Kinh, là quốc ngữ chính thức của Trung Quốc và được sử dụng làm một ngôn ngữ thông dụng trong nước giữa những cá nhân có bối cảnh ngôn ngữ khác biệt. Chữ Hán được sử dụng làm văn tự cho các ngôn ngữ Hán từ hàng nghìn năm, tạo điều kiện cho người nói các ngôn ngữ và phương ngôn Hán không hiểu lẫn nhau có thể giao tiếp thông qua văn tự. Năm 1956, chính phủ Trung Quốc đưa ra chữ giản thể, thay thế cho chữ phồn thể. Chữ Hán được latinh hóa bằng hệ thống bính âm. Tiếng Tạng sử dụng chữ viết dựa trên mẫu tự Ấn Độ, các dân tộc Hồi giáo tại Trung Quốc thường sử dụng mẫu tự Ba Tư-Ả Rập, còn tiếng Mông Cổ tại Trung Quốc và tiếng Mãn sử dụng chữ viết bắt nguồn từ mẫu tự Duy Ngô Nhĩ cổ.

4/ TÔN GIÁO

BIEU DO2 copyTrong hàng thiên niên kỷ, văn minh Trung Hoa chịu ảnh hưởng từ nhiều phong trào tôn giáo khác nhau, Tam giáo Trung Hoa bao gồm Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo trên phương diện lịch sử có tác động quan trọng trong việc định hình văn hóa Trung Hoa. Các yếu tố của Tam giáo thường được kết hợp vào các truyền thống tôn giáo quần chúng hoặc dân gian. Hiến pháp Trung Quốc đảm bảo quyền tự do tôn giáo, song các tổ chức tôn giáo không được chính thức chấp thuận có thể phải chịu bách hại ở quy mô quốc gia.

5/ ĐÔ THỊ HÓA

Trung Quốc trải qua đô thị hóa đáng kể trong các thập niên vừa qua. Tỷ lệ dân số trong các khu vực đô thị tăng từ 20% vào năm 1990 lên 46% vào năm 2007, và dân số đô thị của Trung Quốc dự tính đạt một tỷ vào năm 2030. Năm 2012, có trên 262 triệu công nhân di cư tại Trung Quốc. Trung Quốc có trên 160 thành phố có dân số đô thị trên một triệu, trong đó có bảy siêu đô thị (dân số hành chính trên 10 triệu) là Trùng Khánh, Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Châu, Thiên Tân, Thâm Quyến, và Vũ Hán. Đến năm 2025, ước tính Trung Quốc sẽ có 221 thành phố có trên một triệu dân cư đô thị.

* Yêu cầu các bạn tham khảo bài viết nếu có copy nên trích dẫn nguồn www.cacnuocchauau.com/home. Đề tài này đã đăng ký ở Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, đã được Hội đồng khoa học thẩm định tháng 9/2006, xin đừng dùng nó lập website riêng, cướp công sức người khác, người tự trọng không làm vậy. Mỗi bài tác giả phải mất công sức dịch rất lâu, sắp xếp bố cục, lựa chọn hình ảnh thích hợp với nội dung, với tâm huyết yêu nghề  tác giả mong muốn đóng góp chút công sức biên soạn nó  dành cho các bạn yêu thích bộ môn địa lý, dùng để giảng dạy, tham khảo.

———————————————————————————————————————-

THƯ VIỆN HÌNH ẢNH