2. THỤY ĐIỂN ( SWEDEN)

VƯƠNG QUỐC THỤY ĐIỂN

Diện Tích : 450.000 km2    Dân số : 9.031.000 người(2007)         Thủ đô : Stockholm

map thuy dien

I. THỤY ĐIỂN LÀ QUỐC GIA NÔNG – LÂM NGHIỆP VÀ CÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN

1. Vị trí địa lí thuận lợi cho việc xây dựng hải cảng và phát triển kinh tế

Thụy Điển là quốc gia ở phía bắc châu Âu, chiếm phần phía đông của bán đảo Scandinavia. Thụy Điển chia sẻ biên giới đồi núi với Na Uy ở phía tây, Phần Lan ở đông bắc, vịnh Bothnia và biển Baltic ở phía đông. Về phía nam và tây nam Thụy Điển ngăn cách Đan Mạch bằng eo Skagerrak, Kattegat, và Oresund. Hai đảo có diện tích khá lớn là Gotland ( 3140km2 ) và Otland ( 1344 km2 ) ở biển Baltic cũng là một phần của Thụy Điển. Các đảo này có khí hậu ôn hoà và là nơi cư trú của nhiều loài cây hiếm hoi. Viền quanh đảo nhiều nơi là bãi cát, tạo thành các địa điểm nghỉ mát nổi tiếng. Ngoài ra là nhiều đảo nhỏ.

Thụy Điển trước kia là nước nông nghiệp nghèo nàn, từ cuối thế kỷ XIX quốc gia này đã mau chóng công nghiệp hoá. Thụy Điển đã tận dụng nguồn nguyên liệu từ rừng, nguồn thủy điện phong phú và quặng sắt để xây dựng nền kinh tế tập trung vào hàng xuất khẩu. Ngày nay, ngành dịch vụ là ngành kinh tế phát triển của Thụy Điển, nhưng nhiều ngành công nghiệp vẫn rất quan trọng, nhất là ngành xây dựng và thiết kế công nghiệp của Thụy Điển rất được ca ngợi. Thụy Điển còn nổi tiếng về ngành kinh tế hỗn hợp mà trong đó chính phủ đóng vai trò năng động trong việc dẫn dắt nền kinh tế.

Nhìn trên bản đồ chúng ta thấy có sự khác nhau giữa Thụy Điển và Na Uy. Thụy Điển có nhiều vùng đất thấp bằng phẳng hơn Na Uy. Những vùng đất thấp, bằng phẳng này phần lớn nằm ở phía nam. Điều này cho thấy Thụy Điển có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp hơn Na Uy. Thụy Điển có dân số nhiều gấp đôi Na Uy, không những hơi lớn hơn về diện tích, mà cũng có nhiều đất đai thích hợp cho nông nghiệp, đồng thời nó cũng có những quặng có giá trị mà Na Uy thiếu. Do đó, Thụy Điển có nhiều cơ hội để phát triển các ngành công nghiệp quan trọng cũng như ngành nông nghiệp. Khi chúng ta đọc những phần sau đây, chúng ta sẽ thấy nhiều điều khác nhau của hai quốc gia này.

2. Thụy Điển có nhiều đồi núi và đồng bằng hơn Na Uy.

Imacon Color Scanner

Đỉnh Kebnekaise, đỉnh cao nhất của dãy Kjolen

Toàn bộ diện tích Thụy Điển là 450.000km2. Nơi dài nhất từ bắc xuống nam là 1575km, và từ đông sang tây là 500km. Chiều dài bờ biển là 3.218km. Phần lớn bờ biển Thụy Điển có nhiều đá, gồ ghề lởm chởm, nhưng ở phía nam bờ biển có nhiều cát và mở rộng.

bang a bac thuy dien

Băng hà và băng tích phía bắc Thụy Điển

 Dọc biên giới Na Uy, Thụy Điển là dãy Kjolen cao trung bình 2000m. Đỉnh cao nhất là Kebnekaise cao 2123 m. Dãy đồi núi này thoải dần về phía đông nam xuống vịnh Bothnia và biển Baltic. Ngoại trừ vài đỉnh cao nhất, đỉnh núi thường tròn do bị băng hà bào mòn khi nó rút lui cách đây 8.000 năm. Các mảng băng nạo vét các thung lũng và tạo nên hàng ngàn hồ băng. Hoạt động của băng hà đã để lại các băng tích ( các đống đá, sỏi, cát và sét ) ở nhiều vùng ngang qua lãnh thổ. Người ta vẫn còn trông thấy một số cánh đồng băng ở miền núi cao. Ở cực bắc Thụy Điển, trên vòng cực Bắc là nơi hoang vắng và băng tuyết quanh năm. Vùng đồng bằng ở phía nam Thụy Điển là vùng nông nghiệp trù phú, vùng công nghiệp và là nơi dân cư đông đúc.

3 Ảnh hưởng của biển đối với khí hậu Thụy Điển

Mặc dù 1/7 diện tích Thụy Điển nằm ở phía bắc của vòng cực Bắc và Stockholm có cùng vĩ độ với bắc Labrador của Canada, khí hậu Thụy Điển ôn hòa hơn so với phần lớn các vùng của quốc gia ở phía bắc khác. Nguyên nhân là do tác động của gió Tây ôn đới từ Bắc Đại Tây Dương thổi qua dòng biển ấm Gulf Stream vào Thụy Điển. Về mùa đông, gió tây mang khí ấm làm dịu khối không khí lạnh quét từ phía đông vào, nhờ vậy khí hậu Thụy Điển ấm áp hơn.

Khí hậu phía bắc Thụy Điển được xem là khắc nghiệt hơn các vùng ở phía nam, chủ yếu là do độ cao và do núi cản trở tác động điều hòa của biển. Nhiệt độ trung bình vào tháng hai, tháng lạnh nhất ở Stockholm dao động từ -5oC đến -1oC, ở Goteborg – 4oC đến 1oC ; và ở Pitea, phía bắc Thụy Điển từ -14oC đến – 6oC. Vào tháng bảy, tháng nóng nhất nhiệt độ trung bình của Stockholm là 13 đến 22oC ; Goteborg từ 13oC đến 21oC ; Pitea từ 12oC đến 21oC. Vào mùa hè, số ngày có ngày dài suốt 24 giờ tăng dần khi càng lên các vĩ độ bắc. Ở phía bắc của vòng cực Bắc số ngày có ngày dài suốt 24 giờ diễn ra liên tục trong hai tháng. Vào mùa đông, số ngày có đêm dài suốt 24 giờ kéo dài khoảng hai tháng.

Ở phía nam băng đóng ở tất cả các hồ hơn 100 ngày, và hơn 200 ngày ở phía bắc. Tiêu biểu là vịnh Bothnia bị đóng băng gần bờ vào cuối tháng mười một, và thời kỳ đóng băng kéo dài đến gần tháng sáu. Dọc bờ biển Thụy Điển thường có sương mù.

Lượng mưa khá thấp ở khắp Thụy Điển ngoại trừ ở sườn núi cao. Ở Stockholm mưa trung bình 540mm /năm ; ở Goteborg mưa trung bình 790mm. Mưa nhiều ở phía tây nam và miền núi dọc biên giới Na Uy. Phần lớn mưa là vào cuối mùa hè. Ở trung tâm và phía bắc Thụy Điển tuyết rơi nhiều.

4. Sông ngòi và hồ là đường thủy nội địa và nguồn thủy điện quan trọng

suoi chay xiet o Norrland thuy dien

Suối chảy xiết ở Norrland, Thụy Điển.

Thụy Điển có khoảng 100.000 hồ và nhiều con sông nước chảy xiết, thay đổi thất thường. Phần lớn các con sông bắt nguồn ở Norrland và chảy theo hướng đông nam, đổ vào vịnh Bothnia và biển Baltic. Các sông này thường nối với các hồ hẹp và dài, là nguồn thủy điện có giá trị. Chúng thường được dùng để chuyên chở các khúc gỗ mới đốn tới cho các nhà máy cưa xẻ gỗ. Các sông chính là Angermanalven, Dalalven, Trysilelva, Ume Alven và Tornealven.

Hồ lớn nhất là Vanern, chiếm diện tích 5.684km2, là hồ lớn thư ba của châu Âu, và hồ Vattern, diện tích 1.910km2, là hồ lớn thứ hai của Thụy Điển . Hai hồ này cùng vài hồ nhỏ hơn, các con sông và kênh đào, hình thành đường thủy nội địa quan trọng. Hồ lớn khác ở vùng hồ gồm Malaren và Hjalmaren và hồ Siljan là hồ đẹp nổi tiếng.

5. Nguồn tài nguyên phong phú của Thụy Điển.

vung dong reu bac thuy dien

Vùng đồng rêu phía bắc Thụy Điển

Nguồn tài nguyên thiên nhiên chính của Thụy Điển là quặng sắt và các khoáng sản khác, sức nước phong phú để sản xuất thủy điện và các khu rừng rộng lớn bao phủ gần ¾ diện tích quốc gia. Chỉ 10% diện tích đất đai của Thụy Điển thích hợp cho việc trồng các vụ mùa, còn lại là đất xấu nghèo nàn. Tuy nhiên, nhờ các biện pháp khoa học và việc quản lý đất có hiệu quả, nông nghiệp Thụy Điển thường đạt năng suất cao.

cay thich la do vao mua thu

Lá thích đỏ vào mùa thu. Cây thích là loại cây thông thường vùng ôn đới.

Phía bắc Thụy Điển nổi bật là thực vật miền núi Alp và thực vật vùng cực. Miền núi cao thực vật trơ trụi. Nơi cao nhất là vùng đồng hoang lạnh giá có nhiều loại rêu, địa y, và vài loài hoa. Bên dưới vùng đồng hoang là vành đai của cây du, liễu lùn còi cọc. Thấp hơn nữa là vành đai rộng lớn nhất của cây quả nón, chủ yếu là vân sam Na Uy, thông Scotch. Về phía nam, ta thấy rừng rụng lá gồm sồi, du, thích. Ở đảo Gotland và Oland, khí hậu ôn hòa thuận lợi cho cây óc chó, keo, dâu tằm tăng trưởng.

Hoẵng, nai sừng tấm có nhiều ở miền rừng Thụy Điển. Tuần lộc rất nhiều ở phía bắc, chúng được nuôi bởi người Lapp ( Saami ). Gấu, cáo, chó sói ngày nay rất hiếm. Nhiều loài được bảo vệ ở khu bảo tồn thiên nhiên.

rung la kim thuy dien

Rừng lá kim, Thụy Điển

Vùng biển Baltic và sông hồ Thụy Điển có nhiều cá. Các loài cá biển chính là cá trích, cá tuyết, cá thu. Cá nước ngọt có cá chó, cá rô, cá hồi. Có hàng ngàn hải cẩu sống ở vùng biển quanh Thụy Điển.

6. Dân cư, xã hội :

Thụy Điển là một quốc gia khá thịnh vượng, không những lớn

nguoi Lapp - saami thuy dien

Người Lapp, Thụy Điển

nhất mà còn đông dân nhất ở bán đảo Scandinavia, mật độ dân số 22 người / km2 ( 2007). Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,16%. Ngoài người Thụy Điển còn có hai nhóm dân thiểu số. Ở vùng đông bắc dọc biên giới Phần Lan là những dân nói tiếng Phần Lan và dân tộc Lapp ( Saami). Dân tộc Lapp sống rải rác suốt vùng nội địa bắc Thụy Điển và gần miền bắc Na Uy. Đa số người Thụy Điển sống ở phía nam là vùng khí hậu ôn hòa nhất đất nước, nơi mà rừng thường xanh quanh năm hỗn hợp với rừng rụng lá và rừng lá kim. Đây cũng là nơi tập trung thủ đô, các thành phố quan trọng, các khu công nghiệp chính và vùng nông nghiệp trù phú.

 

II. CÁC MIỀN ĐỊA HÌNH THỤY ĐIỂN.

map vungVề phương diện địa lý và lịch sử, Thụy Điển có thể được chia thành ba vùng: Norrland ở phía bắc ; Svealand (vùng hồ) ở trung tâm và Gotaland ở phía nam.

1. VÙNG NORRLAND

vung lappland

Vùng Lappland

Phía bắc của vùng hồ trung tâm là vùng Norrland. Vùng nầy chiếm 2/3 diện tích Thụy Điển nhưng dân số chỉ có 1/6. Phía bắc của vùng này, trong giới hạn của vòng cực Bắc là vùng Lappland (Saamiland ), là nơi cư trú của người Lapp ( người Saami ). Nơi đây phần lớn trơ trụi không cây cối, với các cao nguyên rộng có nhiều khoáng sản. Đỉnh cao nhất của Thụy Điển là Kebnekaise nằm ở Lappland.

Trung tâm của vùng Norrland khá bằng phẳng và có nhiều đầm lầy, bãi than bùn, và các khu rừng dầy _ chủ yếu là thông Scotch và vân sam Na Uy. Địa hình thường bị gián đoạn bởi nhiều hồ hẹp và dài, các dòng sông chảy xiết và các đống đá có nguồn gốc là trầm tích băng hà. Phía nam của vùng này là vùng nông nghiệp và công nghiệp phát triển hơn do đất màu mỡ hơn. Dọc theo biên giới là các mỏ sắt và mỏ khác. Các mỏ nầy đã đáp ứng cho vùng công nghiệp cổ nhất của Thụy Điển, vùng Bergslagen. Xa hơn về phía bắc là các mỏ đồng, chì, kẽm của vùng Vasterbotten và vùng mỏ sắt lớn Kiruna và Gallivare – Malmberget.

Công nghiệp giấy và bột giấy vùng Norrland.

Một trong những ngành công nghiệp chính của Thụy Điển là làm giấy và bột giấy. Phần lớn xí nghiệp giấy và bột giấy đều nằm ở vùng Norrland. Đó là miền rừng giống như nội địa Canada và Alaska. Ở Norrland mùa hè ngắn, mùa đông dài lạnh lẽo và có nhiều tuyết. Thời gian tăng trưởng của cây trồng ngắn đến nổi mà thông và cây vân sam có thể chỉ mọc khoảng 2 – 3 cm mỗi năm.

Trong khi Na Uy có nông – ngư dân, thì Thụy Điển có nông – lâm dân. Nói rõ hơn người nông dân Thụy Điển trồng khoai và cỏ trong suốt mùa hè ngắn ngủi ở miền đất này. Về mùa đông họ bắt đầu công việc làm rừng để kiếm thêm tiền.
Chú ý rằng địa hình Thụy Điển thoải dần từ vùng núi dọc biên giới Na Uy về phía đông tới vịnh Bothnia. Nhiều con sông chảy từ núi ra vịnh. Những con sông này là vị trí tuyệt vời cho các nhà máy thủy điện. Sông điển hình là sông Lulea bắt nguồn ở phía bắc Thụy Điển dài 450km, chảy về phía đông nam vào vịnh Bothnia ở thành phố Lulea. Sông này là nguồn thủy điện quan trọng, với các nhà máy thủy điện chính ở Porjus và Harspranget.

Một số sông ngòi thường được dùng để thả nổi những đẵn gỗ lớn tới các xưởng gỗ và những đẵn gỗ nhỏ tới nhà máy giấy trong thời kỳ không có băng tuyết đóng. Tuy nhiên, ngày nay đa số những đẵn gỗ được đưa tới các phân xưởng bằng xe tải. Vào mùa đông, các sà lan chở hàng đỗ lại ở các nhà máy gần cửa sông cho tới khi vịnh Bothnia thoát khỏi băng nên các sản phẩm gỗ phải được đưa về phía nam bằng xe lửa. Các sản phẩm này là hàng xuất khẩu chính bao gồm gỗ dán, giấy báo, diêm quẹt, tăm xỉa răng, dĩa salad và đồ gỗ. SCA (Svenska Cellulosa Aktiebolaget ) là công ty giấy và bột giấy nổi tiếng của Thụy Điển, có khoảng 44.000 công nhân. Mười thị trường lớn nhất của công ty là Đức, Anh, Mĩ, Pháp, Thụy Điển, Italy, Hà Lan, Đan Mạch, Tây Ban Nha, và Bỉ. Việt Nam cũng là bạn hàng của Thụy Điển.

Vùng mỏ sắt Kiruna

mo sat kiruna

Vùng mỏ sắt Kiruna

Bản đồ cho thấy một đường xe lửa trải dài về phía bắc Thụy Điển, thậm chí trải dài đến bờ biển phía bắc Na Uy. Đường sắt này đi xuyên qua thành phố

Gallivare và Kiruna. Đây là những thành phố khai thác quặng sắt. Nơi đây quặng sắt đang được tiến hành khai thác. Ở Kiruna bạn có thể quan sát được cảnh vật gần cửa công trường bằng cách dùng xe điện hay taxi đến ven thành phố.

Vào mùa hè quặng sắt được chở bằng xe lửa đến cảng Lulea của Thụy Điển trên vịnh Bothnia. Cảng Lulea đặc biệt quan trọng trong việc chuyển quặng sắt từ công ty khai thác khoáng sản LKAB ở Kiruna và Gllivare – Malmberget. Về mùa đông, dù vịnh Bothnia bị đóng băng việc chuyên chở bằng đường biển hầu như không thay đổi tốc độ với sự trợ giúp của các tàu phá băng. Trong khi đó công việc ở các hầm mỏ tối tăm vẫn tiếp tục. Vào lúc này đèn điện phải thắp sáng suốt 24 giờ trong ngày và quặng sắt được bốc dỡ lên xe lửa điện tới cảng Narvik của Na Uy. Nhờ dòng biển nóng chạy dọc bờ, cảng này không bị đóng băng. Cảng Narvik với những dụng cụ bốc dỡ hiện đại, đã bốc dỡ quặng sắt nhiều gấp đôi cảng Lulea. Điều lạ lùng nhưng có thực rằng cảng chính bốc dỡ quặng sắt của Thụy Điển là cảng Narvik của Na Uy. Từ Narvik và Lulea sắt được chở tới Anh, Đức và Bỉ.

cang Narvik na uy

Cảng Narvik của Na Uy

Mỏ sắt LKAB s Kiruna là mỏ lớn và hiện đại nhất thế giới. Việc khai thác được tiến hành cách đây hơn 100 năm. LKAB s Kiruna đã khai thác hơn 950 triệu tấn quặng sắt. Vào năm 2005 Kiruna đã bán ra 22 triệu tấn, trong đó 16 triệu tấn được xuất khẩu và 5,6 triệu tấn sử dụng trong nước.

Ngoài quặng sắt, vàng cũng được khai thác ở Norrland. Một trong những mỏ vàng lớn của châu Âu nằm dọc sông Skellefte. Sông này là một trong những con sông bốc dỡ gỗ và cũng có các nhà máy thủy điện dọc bờ. Sông Skellefte chảy qua thành phố công nghiệp Skelleftea, còn được mệnh danh là thành phố vàng. Công ty khai thác khoáng sản Boliden ở thành phố này thuê mướn hơn 1.200 công nhân .

2. VÙNG SVEALAND – VÙNG HỒ TRUNG TÂM THỤY ĐIỂN

canh dong vien theo ho Vattern

Cánh đồng viền theo hồ Vattern gần Granna , Gotaland

Trên bản đồ ta thấy vài hồ lớn nhỏ trải ngang qua Thụy Điển dọc vĩ tuyến 59oB. Có hai hồ lớn là hồ Vanern (5655km2 ) và hồ Vattern (1912 km2 ) dài hơn 96 km. Những hồ này nối nhau bởi kênh đào Gota giúp tạo nên một con đường thủy nội địa quan trọng. Kênh Gota dài 386 km được xây dựng vào thế kỷ XIX, sau kênh Erie ở Mĩ, nối liền biển Baltic ở Stockholm và eo Kattegat. Giống như kênh Erie, kênh Gota vẫn còn được sử dụng.

Vùng hồ cũng là nơi rừng cây dầy đặc, dù nhiều nơi của vùng này bị phát quang để xây dựng nông trại, khu công nghiệp, và phát triển đô thị ( đặc biệt quanh thành phố Stockholm và Uppsala ). Địa hình ở trung tâm Svealand thường thấp và bằng phẳng, đất đai màu mỡ. Có năm ba thành phố được xây dựng ở vùng lân cận của hồ. Đây là những thành phố công nghiệp của Thụy Điển. Sản phẩm của những thành phố này nổi tiếng khắp thế giới, như máy đo sức gió, vải, xe đạp, súng phòng không, đồ gỗ.

Thép Thụy Điển nổi tiếng khắp thế giới.

Ngay ở phía Bắc của vùng hồ là mỏ sắt. Tuy nhiên Thụy Điển thiếu than để luyện sắt, thép. Dù vậy, Thụy Điển lại có nền công nghiệp sắt thép quan trọng. Họ dùng than củi và thủy điện thế cho than đá và có thể làm cho chất lượng thép cao hơn. Thép này gọi là thép Thụy Điển. Nó được bán với giá cao và được sử dụng vì mục đích đặc biệt. Giống như thép Sheffield, nó được sử dụng phần lớn để làm dao, dụng cụ mổ, ổ bi chịu lực và những dụng cụ đẹp. Công ty sản xuất thép lớn nhất Thụy Điển là SSAB (Svenskt Stal AB ), (Swedish Steel Corporation).

Công nghiệp thủy tinh Thụy Điển.

xuong lam thuy tinh thuy dien

Xưởng làm thủy tinh, Thụy Điển

Công nghiệp thủy tinh đặc biệt quan trọng ở Smaland, vùng phía nam của hồ. Trước khi có công nghiệp thủy tinh, vùng này nổi tiếng về nghề làm gốm vì đất đai nhiều sỏi đá không thích hợp cho ngành nông nghiệp thịnh vượng. Ngày nay công nhân sống trong một ngôi nhà hay căn hộ tiện nghi gần nhà máy thủy tinh. Họ thường làm việc từ 6 giờ sáng đến 3 giờ chiều. Thủy tinh Thụy Điển nổi tiếng khắp thế giới, phần lớn chúng được sản xuất ở quanh Kosta, thành phố nhỏ nằm ở phía đông Vaxjo. Nơi đây người ta thấy hơn 20 xưởng làm thủy tinh. Các xưởng nổi tiếng như Kosta, Boda, Orrefors, Skruf, Bergdala, Johansfors, Bergdala, Sandvid.

Một chuyến tham quan đến nhà máy thủy tinh là một dịp thú vị. Thủy tinh được làm từ một loại cát đặc biệt, được nghiền nát thành một thứ bột trắng. Thụy Điển nhập cát thủy tinh từ Bỉ và Pháp. Người ta thêm chì vào để làm thủy tinh cho tốt. Thụy Điển cũng phải nhập cảng chì .

Trong nhà máy thủy tinh bột cát và chì được nấu trong lò luyện cho đến khi chúng trở thành thủy tinh lỏng. Khi hỗn hợp đã sẵn sàng, người công nhân nhúng ống thổi vào thủy tinh. Ống thổi là ống một ống kim loại rỗng dài khoảng 1,5 m. Người công nhân lấy ra một khối thủy tinh nóng ở đầu ống, lớn khoảng một quả banh chơi gôn. Anh ta mang cái ống với quả bóng thủy tinh nóngcho người thợ chính. Người thợ chính thổi vào ống, thủy tinh phồng ra và bắt đầu nguội. Người thợ chính xoay tròn cái ống và nắn khối thủy tinh thành hình dáng và kích thước mong muốn. Phần trên thường được cắt rời bằng một cây kéo để làm thành miệng một cái tô hay một cái đĩa. Sau đó nó được lấy ra khỏi ống thổi và được đưa vào phòng làm nguội.

Dù công nghiệp đồ dùng bằng thủy tinh của Thụy Điển không lớn và không thuê nhiều công nhân nhưng nó rất nổi tiếng trên thế giới. Các kỹ năng khéo léo rất cần thiết và thường thì con nối nghiệp cha trong nghề thổi thủy tinh ở Thụy Điển.

Stockholm : Thủ đô và thành phố lớn nhất của Thụy Điển

thu do stockholm

Stockholm, thủ đô của Thụy Điển

Thủ đô và thành phố lớn nhất của Thụy Điển là Stockholm. Stockholm nằm ở trên khoảng 20 đảo và bán đảo giữa một trong những hồ lớn của Thụy Điển, hồ Malaren và vịnh của biển Baltic. Stockholm đẹp nổi tiếng và có nhiều kênh rạch, công viên do đó nó thường được ví như là “Venice ở phía bắc”. Bức tranh sau đây sẽ cho chúng ta thấy rõ lý do của cái tên này. Những tòa văn phòng hiện đại và các căn hộ đẹp, đường phố sạch sẽ và nhiều công viên được trông thấy ở Stockholm. Nơi đây cũng vậy, bạn có thể thấy Cung điện hoàng gia, Viện bảo tàng quốc gia với bộ sưu tập tranh và các tác phẩm điêu khắc khổng lồ. Đại học Stockholm, Trường Cao đẳng Mỹ thuật và Qũy tài trợ Nobel cũng nằm ở thành phố này. Điều lý thú là đại sảnh của thành phố là một trong những tòa nhà đẹp nhất của Thụy Điển. Stockholm cũng có một sân vận động lớn, dăm ba công viên thể thao. Nhiều toà nhà được xây dựng bằng đá granit vững chắc. Vùng ngoại ô Stockhokm, trên hòn đảo giữa hồ Malaren là lãnh địa Drottningholm của Hoàng gia với vườn hoa, lâu đài là thí dụ điển hình nhất của các lâu đài Hoàng gia châu Au thế kỷ thứ XVIII theo mẫu của lâu đài Versailles.

lau dai hoang gia o Drottingholm

Lâu đài Hoàng gia ở lãnh địa Drottningholm thế kỷ thứ XVIII theo mẫu của lâu đài Versailles.

Stockholm còn là trung tâm thương mại, công nghiệp, tài chính, giao thông của Thụy Điển. Các nhà máy ở Stockholm sản xuất kim loại và giấy. Sách, báo, tạp chí cũng được phát hành ở đây. Stockholm còn là nơi tập trung các ngành công nghiệp sản xuất thiết bị điện, điện tử, hóa chất, vải, thực phẩm chế biến. Để cung cấp cho nhu cầu của trên một triệu dân, Stockholm phải nhập và chế biến một số lượng thực phẩm.

Dọc theo bến cảng ở Stockholm người ta thấy một số xưởng đóng tàu lớn. Những tàu đẹp thường được đóng ở đây và Thụy Điển có đội thương thuyền lớn. Mặc dù Stockholm đảm trách nhiều công việc buôn bán bằng đường biển nhưng cảng Goteborg quan trọng hơn.

3. VÙNG GOTALAND – VÙNG NÔNG NGHIỆP TRÙ PHÚ

dong co va nong trai o Gotaland

Đồng cỏ và nông trại ở Gotaland

Vùng Gotaland nằm ở phía nam Thụy Điển. Phía bắc Gotaland là các khu rừng dầy Tiveden, Tyloskog và Kolmarden tạo thành biên giới thiên nhiên với vùng Svealand (Vùng Hồ ) ở phía bắc và duyên hải Baltic ở phía nam.

Phía nam của vùng Svealand, địa hình lại nhô cao thành cao nguyên Smaland. Vùng này tương tự với vùng băng tích và bãi than bùn của Norrland, ngoại trừ có khí hậu ôn hòa hơn. Về phía nam ở cực nam của Thụy Điển, địa hình thấp dần hình thành vùng đồng bằng màu mỡ của tỉnh Skane. Đây là vùng đông dân và là vùng nông nghiệp phát triển mệnh danh là giỏ bánh mì của Thụy Điển.

coi xay gio vung Gotaland

Cối xay gió vùng Gotaland

Ở vùng này của Thụy Điển, mặt trời cao trên bầu trời và những ngày hè ấm áp hơn các miền phía bắc, mưa ít hơn các miền dọc duyên hải Na Uy, chỉ trung bình 400 – 700 mm nhờ vậy, những vụ mùa như lúa mì không bị cản trở bởi sự ẩm ướt. Một trong những vụ mùa được trồng luân canh thường nhất ở vùng này là lúa mì, theo sau là củ cải đường, và sau đó là cỏ để nuôi gia súc. Như những nước khác ở bán đảo Scandinavia, việc nuôi bò sữa rất quan trọng, và ở vùng này có nhiều đồng cỏ. Dù Thụy Điển có thể cung cấp gần như tất cả nhu cầu thực phẩm của dân chúng, một số thực phẩm như cà phê phải nhập khẩu từ những nước nhiệt đới. Thụy Điển cũng xuất khẩu lúa mì và bơ sang các nước khác.

Cảng Goteborg : Cửa ra biển về phía tây của các vùng hồ lớn.

cang Goteborg

Cảng Goteborg

Goteborg nằm ơ phía tây nam Thụy Điển, bên sông Gota thuộc tỉnh Vastra Gotaland. Goteborg là cảng chính của Thụy Điển, nó cũng là thành phố lớn thứ hai, dân số 478. 055 người. Những tàu chở hàng hóa vượt biển lớn có thể tránh chuyến đi dài vòng qua miền Nam Thụy Điển tới Stockholm bằng cách dừng lại ở Goteborg. Cảng của Stockholm chỉ tiếp tục mở khi băng tan trong mùa đông. Trên bờ phía tây cảng Goteborg không bị đóng băng. Các đường lộ tốt, đường xe lửa và kênh đào Gota nối Goteborg tới những thành phố công nghiệp của vùng hồ lớn và các vùng đất nông nghiệp trù phú ở phía nam.

Ngoài việc mua bán bằng đường thủy ở cảng của nó, Goteborg được mệnh danh là quê hương của công nghiệp làm ổ bi. Ổ bi làm bánh xe quay dễ dàng. Thụy Điển là một trong những nước sản xuất ổ bi đẹp nhất thế giới. Goterborg còn là nơi đặt nhà máy ô tô Volvo. Các ngành công nghiệp khác gồm đóng tàu, beer, dệt, da, thuốc lá, cưa xẻ gỗ.

Malmo : Cảng chính của vùng nông nghiệp phía nam

cau duong ham Malmo Copenhagen

Cầu, đường hầm dài 16km ngang eo biển Oresund giữa Malmo và Copenhagen

Sản phẩm nông nghiệp của miền Nam Thụy Điển được chuyển ra ngoài qua cảng Malmo. Nơi đây cũng có những nhà máy làm đường lớn. Trước kia Malmo nổi tiếng về công nghiệp đóng tàu, ngày nay Malmo là trung tâm công nghiệp dược phẩm.

Ngoài việc buôn bán và chế biến sản phẩm nông nghiệp, Malmo là trung tâm giao thông quan trọng. Từ bản đồ bạn có thể trông thấy rằng Malmo cách thành phố Copenhagen của Đan Mạch bởi eo biển Oresund. Malmo chia sẻ sự buôn bán năng động ở vị trí này và tàu chở hàng hóa thường xuyên qua lại giữa hai thành phố lớn. Ngày nay một chiếc cầu dài 16km đã nối các thành phố của Bắc Đan Mạch với thành phố Malmo khiến tăng thêm tầm quan trọng của thành phố nầy .

III. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ : Thụy Điển có nền kinh tế phát triển, mức sống dân cư cao.

he thong phun nuoc

Hệ thống tưới phun nước tự động của Thụy Điển đang vận hành để tưới cây

Như phần lớn các quốc gia phát triển khác, ngành dịch vụ – bao gồm viễn thông và giao thông vận tải, tài chính, giáo dục, y tế và du lịch – là những ngành kinh tế năng động quan trọng nhất đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Thụy Điển.

Thụy Điển có ngành công nghiệp khổng lồ. Lượng hàng công nghiệp của Thụy Điển hơi ít hơn hàng công nghiệp của Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch hợp lại. Thụy Điển không có dầu hoả và khí thiên nhiên, nhưng nó có nhiều quặng sắt, sức nước phong phú và nhiều khu rừng rộng lớn. Nhờ sự đổi mới kỹ thuật Thụy Điển đã trở thành một trong những nước công nghiệp và xuất khẩu hàng đầu thế giới. Các mặt hàng xuất khẩu truyền thống gồm giấy, bột giấy, sắt, thép. Trong những thập niên gần đây các ngành công nghiệp mới như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, và dược phẩm, đã trở nên quan trọng. Sự đa dạng về công nghiệp đã giúp kinh tế Thụy Điển ổn định. Thụy Điển theo đuổi chính sách thương mại tự do và là thành viên của Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (EFTA). Năm 1995 Thụy Điển trở thành thành viên của Liên minh châu Âu, cùng lúc đó Thụy Điển rút lui khỏi Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu.

Thụy Điển là một trong những nước có mức sống cao nhất châu Âu. Trung bình cứ 1000 dân có 478 ô tô, 770 máy điện thoại di động. Tuổi thọ trung bình cao trên 80 tuổi, hơn 90% đạt trình độ văn hóa cấp 2. Trong thế giới các nước tư bản phương Tây, Thụy Điển là một thí dụ điển hình về sự phân chia phúc lợi xã hội khá đặc biệt. Mọi người dân đều được hưởng hệ thống giáo dục, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc người già và đa số đều do nhà nước trợ giá. Tổng sản phẩm quốc nội của Thụy Điển năm 2005 là 357.7 tỉ USD.

– Nông nghiệp : Chỉ 7% diện tích đất đai được canh tác. Tuy nhiên, sản lượng nông nghiệp khá cao. Nhờ sử dụng máy móc, phân bón rộng rãi nên dù đất trồng nhìn chung xấu, địa hình gồ ghề lởm chởm và thời gian tăng trưởng của cây trồng ngắn, Thụy Điển vẫn có thể đạt sản lượng cao. Nông nghiệp phát triển rộng rãi ở vùng đồng bằng phía nam, đặc biệt ở đồng bằng Skane. Phần lớn sản phẩm nông nghiệp để tiêu dùng trong nước.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Nông nghiệp Thụy Điển được cơ giới hóa và dưới sự tài trợ của Chính sách nông nghiệp chung ( CAP ) của EU

Mãi đến thập niên 1930 nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế trong nền kinh tế ở Thụy Điển, nhưng ngày nay chỉ ít hơn 2% lực lượng lao động làm nghề nông. Các nông trại Thụy Điển có nhiều diện tích khác nhau, từ mảnh đất lớn đến các mảnh đất nhỏ chỉ vài hecta. Trong những năm gần đây, các nông trại nhỏ đã kết hợp lại thành nông trại lớn. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ngành chăn nuôi bò sữa là lĩnh vực quan trọng của Thụy Điển đã trở nên giảm sút so với việc sản xuất ngũ cốc và rau. Các mặt hàng nông nghiệp hàng đầu là gia súc, sản phẩm sữa. Vụ mùa chính là lúa mì, lúa mạch, yến mạch, khoai tây, và củ cải đường. Thụy Điển cũng là nước hàng đầu sản xuất da chưa thuộc, đặc biệt là da con mink.

– Lâm nghiệp và ngư nghiệp : Thụy Điển có trữ lượng gỗ lớn nhất Tây Au và là nước sản xuất nhiều gỗ nhất. Năm 2005 Thụy Điển sản xuất 98,7 triệu m3 gỗ. Phần lớn được dùng làm giấy và bột giấy. Vùng sản xuất nhiều gỗ nhất là ở các sườn núi thấp Norrland, vùng này bao gồm 2/3 diện tích lãnh thổ phía bắc. Thụy Điển sử dụng mạng lưới sông ngòi, kênh đào, và thác để thả nổi gỗ xuống vùng ven biển vịnh Bothnia, là nơi tập trung các nhà máy cưa xẻ gỗ và các nhà máy giấy và bột giấy. Vùng Smaland cũng là vùng có trữ lượng gỗ quan trọng.

Ngành ngư nghiệp cũng quan trọng ở Thụy Điển. Năm 2004 Thụy Điển đánh bắt 275.911 tấn cá. Cá trích chiếm 2/3 sản lượng đánh bắt hàng năm. Các loài cá khác gồm cá trích cơm, cá tuyết. Cảng Goteborg là cảng đánh cá quan trọng.

– Khai khoáng : Việc khai thác sắt và đồng rất quan trọng ở Thụy Điển từ thời Trung cổ. Mỏ đồng nổi tiếng phong phú nằm ở Falun, trung tâm Thụy Điển, được khai thác liên tục trong 650 năm đến nay gần cạn kiệt. Mỏ sắt rộng lớn và có chất lượng cao nằm ở trung tâm và bắc Thụy Điển, đáng kể là quanh Kiruna và Malmberget. Thụy Điển cũng có ước tính 15% trữ lượng uranium của thế giới, cung cấp nhiên liệu cho ngành công nghiệp năng lượng nguyên tử của Thụy Điển. Năm 2004 Thụy Điển sản xuất 14,7 triệu tấn sắt, 293 tấn bạc, 85.500 tấn đồng, và 33.900 tấn chì. Ngoài ra là kẽm, vàng, dầu hỏa và quặng pyrite.

– Công nghiệp : Lực lượng công nhân có kỹ thuật của Thụy Điển đã sử dụng nguồn tài nguyên thiên của quốc gia để xây dựng nền tảng công nghiệp đa dạng và hiện đại. Công nghiệp luyện kim, cơ khí , gỗ, bột giấy, và giấy, là lãnh vực từ lâu rất nổi bật của Thụy Điển. Các sản phẩm của Thụy Điển là sắt, thép chất lượng cao, bạc đạn, xe hơi, máy nông nghiệp, máy bay, máy đo chính xác (sức gió, chiều cao của thủy triều, lượng nước mưa … ), và thiết bị viễn thông. Công ty xe hơi Volvo và Saab được tín nhiệm cao vì máy móc tốt. Thụy Điển cũng là nước có ngành công nghiệp hóa chất và công nghiệp dược phẩm nổi tiếng. Các hàng công nghiệp nổi tiếng khác của Thụy Điển gồm đồ gỗ có thiết kế hiện đại, thủy tinh, dệt, và vô số đồ thủ công, dao kéo, và thực phẩm chế biến. Các trung tâm công nghiệp quan trọng gồm Stockholm, Goteborg, Linkoping, Malmo, và Trollhattan .

– Dịch vụ : Như ở các nước phát triển, ngành dịch vụ _ bao gồm phương tiện liên lạc và giao thông, tài chính, giáo dục, y tế, và du lịch _ là hoạt động kinh tế quan trọng nhất của Thụy Điển. Lĩnh vực dịch vụ rộng lớn của Thụy Điển được cung ứng bởi các công ty tư nhân.

– Năng lượng : thủy điện chiếm khoảng 41%; khoảng 49% là năng lượng nguyên tử. Sau thảm họa nguyên tử của nhà máy Chernobyl năm 1986 ở Liên bang Xô Viết cũ, chính phủ Thụy Điển quyết định đóng cửa các nhà máy năng lượng nguyên tử trong nước vào thế kỷ XXI. Tuy nhiên, sự suy thoái kinh tế thập niên 1990 do hậu quả việc tạm ngưng chương trình này, nhiều nhà máy năng lượng nguyên tử vẫn hoạt động. Năm 2004 sản lượng điện của Thụy Điển là 150,5 tỉ kWh.

Do các luật lệ nghiêm khắc về môi trường, việc khai thác nguồn năng lượng thủy điện sẵn có, và yêu cầu ngưng chương trình hạt nhân. Thụy Điển đang phát triển nguồn năng lượng khác như khí đốt, sức gió, và năng lượng mặt trời.

– Ngoại thương : Năm 2006 hàng xuất khẩu đạt 173 tỉ USD và nhập khẩu 151, 8 tỉ USD. Các nước mua hàng hàng đầu của Thụy Điển là Đức, Mĩ, Anh, Na Uy, Đan Mạch, và Phần Lan. Các nước cung cấp hàng cho Thụy Điển là Đức, Anh, Đan Mạch, Na Uy, Hà Lan, Mĩ , Pháp.

– Giao thông : Phương tiện giao thông của Thụy Điển tuyệt vời và rất phát triển. Phần lớn đường bộ đường xe lửa, kênh đào đều tập trung ở phía nam. Thụy Điển có khoảng 424. 981km đường bộ, trong đó có 14.577 km đường quốc lộ và 9.895 km đường xe lửa. Đường thủy nội địa bao gồm kênh Gota, nối hai bờ biển đông tây Thụy Điển. Kênh này là con đường du lịch chính, và nó cũng phục vụ cho ngành thương mại địa phương. Stockholm và Gotebora là hai cảng chính. Nhiều phà vượt biển giữa Thụy Điển và các nước lân cận. Năm tháng 6 năm 2000, hoàn thành cầu đường hầm Oresund dài 16 km, nối thành phố Malmo của Thụy Điển với thành phố Copenhagen của Đan Mạch .

Các phi trường quốc tế chính của Thụy Điển là Arlanda ( gần Stockholm), Landvetter ( gần Goteborg ), và Sturup ( gần Malmo ).

* Yêu cầu các bạn tham khảo bài viết nếu có copy nên trích dẫn nguồn www.cacnuocchauau.com/home. Đề tài này đã đăng ký ở Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, đã được Hội đồng khoa học thẩm định tháng 9/2006, xin đừng dùng nó lập website riêng, cướp công sức người khác, người tự trọng không làm vậy. Mỗi bài tác giả phải mất công sức dịch rất lâu, sắp xếp bố cục, lựa chọn hình ảnh thích hợp với nội dung, với tâm huyết yêu nghề  tác giả mong muốn đóng góp chút công sức biên soạn nó  dành cho các bạn yêu thích bộ môn địa lý, dùng để giảng dạy, tham khảo.