21. TÂY BAN NHA ( SPAIN )

VƯƠNG QUỐC TÂY BAN NHA

Diện tích : 504.782 km – Dân số : 40.450.000 ( 2007 ) – Thủ đô : Madrid

MAP TAY BAN NHA copy

I. QUỐC GIA Ở VÙNG CAO NGUYÊN CỦA BÁN ĐẢO IBERIA

Khi nghĩ về Tây Ban Nha, có lẽ bạn sẽ nghĩ đến nhiều điều. Có thể bạn sẽ nghĩ đến Chirstopher Columbus, người đã theo lệnh vua và nữ hoàng Tây Ban Nha du hành bằng thuyền khám phá Tân Thế Giới. Và có lẽ bạn cũng sẽ nghĩ đến các trận đấu bò, một môn thể thao được ưa thích ở Tây Ban Nha.

1. Núi bao bọc phần lớn các rìa của Tây Ban Nha

1

Bán đảo Iberia

Trên bản đồ ta thấy hai nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha chiếm hoàn toàn bán đảo lớn Iberia. Bán đảo này nhô về phía tây nam châu Âu, giữa Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải. Ở eo Gibraltar, nó gần chạm với châu Phi. Phía bắc Tây Ban Nha được bao bọc bởi vịnh Biscay, Pháp, Andorra. Phía đông và nam là Địa Trung Hải, Đại Tây Dương, phía tây là Bồ Đào Nha.

Một dãy núi cao ngăn cách Tây Ban Nha và Pháp. Đó là dãy Pyrenees. Dãy Pyrenees trải từ vịnh Biscay ở Đại Tây Dương tới mũi Creus ở Địa Trung Hải, dài 430km. Đỉnh cao nhất là Anteto 3404m, nằm ở phía bắc Aragon. Ngoài ra còn các đỉnh cao khác Pico Posets 3.375m, Perdido 3.355 m.

1280px-Aneto

Vùng núi Pyrenees với đỉnh Aneto phủ băng tuyết quanh năm.

Không giống như dãy núi Alps của miền Bắc Italy, Pyrenees không có nhiều đèo nên khó vượt qua. Dãy núi này là một trở ngại thiên nhiên đối với các cuộc du hành bằng đường bộ hàng thế kỷ. Thậm chí ngày hôm nay con đường dễ nhất băng ngang qua đất liền là đi vòng ở vùng cuối cùng của dãy núi gần Địa Trung Hải hay đi dọc vịnh Biscay.

Ngoài dãy Pyrenees, ở phía bắc có dãy Cantabrian lan về phía tây, được xem như là một phần của Pyrenees.

Sierra Nevada desde el refugio de El Hornillo

Rặng Sierra Nevada

Phía đông nam Tây Ban Nha, thuộc vùng Andalusia là Sierra Nevada, với đỉnh Mulhacén cao 3482m. Rặng  Sierra Nevada ở California được đặt theo tên của rặng núi này, nó có nghĩa là “Núi tuyết”.

Sierra Nevada hấp dẫn nhiều du khách do các đỉnh núi cao của nó thích hợp cho việc trượt tuyết, và các vùng khí hậu ấm áp tràn ngập ánh nắng dọc Địa Trung Hải. Ngay chân đồi là thành phố Granada, xa hơn một chút là thành phố MálagaAlmeria là những thành phố nổi tiếng về du lịch.

Giữa Cantabrian ở phía bắc và Sierra Nevada ở phía nam là vài rặng núi khác. Trung tâm Tây Ban Nha chủ yếu là cao nguyên. Vùng cao nguyên này gọi là Meseta, nằm ở độ cao từ 600 – 1500m so với mực nước biển. Cao nguyên có bề mặt bằng phẳng được phân chia thành hai phần bắc và nam bởi các rặng núi Sierra de Guadarrama, Sierra de Gredos, Montes de Toledo. Giữa các dãy núi là các thung lũng hẹp và các dòng suối chảy xiết.

2. Tây Ban Nha có nhiều kiểu khí hậu khác nhau

Tây Ban Nha rất rộng lớn và có vài kiểu khí hậu khác nhau. Miền Tây Bắc của Tây Ban Nha có khí hậu hải dương ấm áp, mưa nhiều. Nơi đây gió ẩm từ Đại Tây Dương và vịnh Biscay mang đến vùng đồi núi này lượng mưa khoảng 1000 – 1500 mm / năm. Phía nam và phía đông có khí hậu địa trung hải, có mưa mùa đông và khô khan vào mùa hè. Các miền núi Pyrenees, Cantabrian, Sierra Nevada và vài miền núi nhỏ khác có khí hậu miền núi. Nơi đây nhiệt độ thay đổi theo độ cao, và điều kiện mưa, tuyết thay đổi theo hướng gió chiếm ưu thế. Giống như các vùng khác ở châu Âu, các sườn núi hướng về phía nam nhiều nắng và ấm áp hơn các sườn hướng về phía bắc. Vùng cao nguyên Meseta có khí hậu bán hoang mạc. Mưa rất ít, khí hậu khô khan. Thậm chí các dòng sông có nguồn từ núi đổ xuống, sau một khoảng thời gian dài không mưa, chúng chỉ còn là những dòng nước nhỏ.

3. Sông ngòi

1280px-The Ebro River in Zaragoza

Sông Ebro chảy qua thành phố Zaragoza

Trên bản đồ, bạn có thể trông thấy một vài con sông chảy từ cao nguyên Meseta xuống. Sông Ebro dài 910 km, sông Guadalquivir dài 800 km, sông Tagus dài 1038 km và sông Douro dài 897km. Ơ gần cửa sông, thung lũng của chúng thường mở rộng thành đồng bằng. Ngoại trừ những vùng đất thấp của các con sông này và vài mảnh đất dọc bờ biển, Tây Ban Nha có vài đồng bằng.

Aerial view of Arija and the Ebro dam

Quang cảnh vùng Arija nhìn từ trên không và đập trên sông Ebro

Sông Ebro là sông dài nhất ở Tây Ban Nha (910km), bắt nguồn từ dãy Cantabria. Sông chảy theo hướng đông nam hình thành châu thổ Tarragona ven Địa Trung Hải.

Sông Ebro có lưu lượng lớn hơn bất kỳ con sông nào khác ở Tây Ban Nha, và lưu vực của nó rộng 85.500km2. Do sông chảy từ các rặng núi ven biển xuống qua nhiều hẽm núi hẹp và sâu nên sự giao thông trên sông chỉ thuận tiện từ châu thổ của thành phố Tortosa ngược dòng 25km.

1280px-song ebro o Aragon

Sông Ebro chảy qua đồng bằng Aragon

Sông Ebro có hơn 200 phụ lưu, phụ lưu lớn nhất được sử dụng để làm thủy điện và thủy lợi. Hệ thống đập thủy điện lớn nhất Tây Ban Nha chủ yếu đặt tại thung lũng thượng nguồn La Noguera. Một mỏ than nâu rộng lớn ở đông nam, nơi thấp nhất của lưu vực được sử dụng để sản xuất nhiệt điện.

Vùng nằm sâu trong đất liền thuộc lưu vực sông Ebro thì khô hạn, nghèo nàn và dân cư thưa thớt. Việc xây dựng các con kênh tiêu nước đã được thực hiện ở đó kể từ giữa thế kỷ 20- dù rằng nó vẫn còn hạn chế đối với vùng đồng bằng chính ở vùng trung lưu của sông giữa Tudela, Navarra, và Zaragoza ( nằm bên kênh Impire- Imperial canal- được xây dựng thế kỷ 16).

II. CÁC MIỀN ĐỊA HÌNH CHÍNH CỦA TÂY BAN NHA

dia hing tbnKhi nghiên cứu các miền địa hình chính và khí hậu của Tây Ban Nha chúng ta nhận thấy những điểm cơ bản của quốc gia này. Cả người Tây Ban Nha và những người nghiên cứu về Tây Ban Nha khác đều chia Tây Ban Nha ra làm nhiều vùng. Ở đây, có thể chia Tây Ban Nha làm ba vùng chính : duyên hải Tây Bắc; cao nguyên Meseta và miền núi; Vùng duyên hải phía nam, phí đông và các thung lũng.

1. DUYÊN HẢI TÂY BẮC

Bờ biển gồ ghề lởm chởm có nhiều cảng tốt và các ngọn đồi xanh

Duyên hải Tây Bắc là miền đồi núi hỗn hợp. Rừng sồi, dẻ bao phủ nhiều sườn núi. Ơ sườn núi thấp hơn là vườn táo, đồng cỏ. Cây lanh, lúa mạch đen, rau và một số loại nho khác nhau được trồng trong các thung lũng xanh hướng về phía biển.

Ở góc tây bắc của Tây Ban Nha là nơi cư trú của dân tộc Galicia. Ở miền gồ ghề lởm chởm với các vách đá duyên hải và vịnh sâu này, dân chúng sống chủ yếu bằng nghề nông và đánh cá. Các nông trại thu gọn bên trong các thung lũng nhỏ giữa đồng cỏ, vườn nho, vườn cây ăn trái, và ở dưới các khu rừng. Nơi đây mùa hè ẩm ướt nhưng ấm áp, có thể trồng được bắp. Việc nuôi bò cho các cuộc đấu bò là hoạt động rất quan trọng.

Nhiều lạch nước sâu và vịnh biển cung cấp các cảng tốt cho tàu đánh cá nhỏ. Các ngư dân thường dong thuyền đến vịnh Biscay để đánh bắt cá, đặc biệt là cá Sardines.

Miền Bắc Tây Ban Nha có nhiều khoáng sản cần thiết cho công nghiệp.

Txindoki_mountain_from_Lazkaomendi

Núi Txindoki hay Larrunarri ở vùng Goierri, Gipuzkoa biểu tượng của xứ Basque. Đôi khi nó được gọi là Matterhorn của xứ Basque do đỉnh núi có hình nón giống Matterhorn.

Mỏ sắt cũng được khai thác ở miền núi Cantabrian ở phía bắc Tây Ban Nha, gần thành phố Bilbao và Santander vào thế kỷ 19. Phần lớn quặng này được khai thác bởi dân tộc Basques. Sắt ở vùng này có chất lượng cao, phần lớn xuất khẩu sang Anh. Người ta cũng khai thác được mỏ than ở miền Bắc Tây Ban Nha, gần Oviedo. Tây Ban Nha có nhiều than nhưng việc sản xuất của nó ít hơn so với những nước khác ở châu Âu. Đôi khi quốc gia này thiếu than do lượng than sử dụng nhiều hơn lượng than khai thác. Lượng mưa dư thừa và thung lũng sông dốc cũng cung cấp điều kiện thích hợp để phát triển thủy điện. Tây Ban Nha cũng có thể sản xuất thủy điện nhiều như Thụy Điển hay Thụy Sĩ nếu như họ đầu tư thêm nhiều về nó.

Do có nhiều quặng sắt hoạt động công nghiệp tập trung vào việc sản xuất sắt thép và đóng tàu. Tuy nhiên do khủng hoảng kinh tế thập niên 1970 và 1980 ngành này sa sút, nhường lại cho lãnh vực dịch dụ và công nghệ mới. Ngày nay lãnh vực công nghiệp mạnh nhất của nền kinh tế xứ Basque là sản xuất máy công cụ như máy tiện… ngành hàng không và năng lượng.

Người Basques có ngôn ngữ riêng và là dân tộc rất độc lập. Họ là những người đi biển xuất sắc, nhiều người kiếm sống bằng nghề đánh cá. Một số khác làm nghề nông và chăn nuôi cừu.

2. CAO NGUYÊN MESETA VÀ MIỀN NÚI : Vùng lớn nhất Tây Ban Nha

Peñalara, the highest peak of Sierra de Guadarrama

Peñalara, đỉnh cao nhất của Sierra de Guadarrama

Meseta là một cao nguyên rộng lớn nằm ở trung tâm Tây Ban Nha có diện tích 210.000km2, độ cao từ 610m – 760m. Nó là một kiến trúc địa chất cổ và phức tạp nhất của bán đảo. Sườn phía tây của cao nguyên thoải dần về phía Đại Tây Dương tạo thành các lưu vực của sông Douro, Tagus, và sông Guadiana. Phía bắc cao nguyên nhô cao đột ngột về phía dãy Cantabria, và về phía đông là một chuỗi các rặng núi. Ở đông bắc và nam cao nguyên là hai lòng máng đối xứng : lòng máng Ebro nằm dưới các rặng núi phía đông và lòng máng Guadalquivir nằm bên dưới rặng Sierra Morena.

1280px-view of Sierra de Gredos (2)

Quang cảnh của rặng Sierra de Gredos

Giữa cao nguyên Meseta là Hệ thống núi trung tâm, bao quanh thủ đô Marid, với rặng núi chính là Sierra de Guadarrama, Sierra de Gredos, và Montes de Toledo. Đỉnh cao nhất của  Sierra de Gredos là Pico Almanzor phía tây Marid, cao 2.592m, phủ tuyết quanh năm. Hệ thống núi trung tâm của bán đảo đã chia cao nguyên Meseta thành hai miền : bồn địa Castile-León ở phía bắc và hai cao nguyên thấp hơn ở phía nam là Castile–La Mancha và Extremadura.

A dehesa, traditional pastoral management in the Montes de Toledo

Dehesa ở vùng núi Toledo (Montes de Toledo) , Tây Ban Nha. Dehesas là hệ thống đồng cỏ đa chức năng được sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp.

Do núi bao bọc chung quanh nên cao nguyên Meseta có mùa đông lạnh và dài hơn nhiều miền duyên hải. Và cũng do ít mưa nên mùa trồng tỉa ở đây ngắn hơn. Do đó phần lớn đất đai ở miền Meseta được dùng để làm đồng cỏ chăn nuôi. Cừu Merinos nổi tiếng được nuôi ở vùng này hàng thế kỷ. Ta có thể nhận biết cừu Merinos bởi nếp gấp lớn ở cổ của chúng. Lông dài, đẹp của nó được dùng làm loại vải hảo hạng.

1280px-Stipa_tenacissima-esparto grass

Cỏ giấy ( esparto grass)

Phần lớn lượng mưa nhận được ở Meseta là vào mùa đông. Vụ lúa mì mùa đông là vụ mùa quan trọng ở một vài nơi. Một sản phẩm lý thú khác của Meseta là cỏ giấy ( esparto grass). Loại cỏ dai này cao từ 1 – 1,5m. Nó được dùng để làm giấy, dây thừng nhỏ, rổ rá, giày. Phần lớn giấy làm từ cỏ giấy thường phải trộn từ 5 – 10% bột giấy. Hải quân Tây Ban Nha dùng dây thừng làm từ sợi dẻo dai của loại cỏ này.

Madrid : Thủ đô của Tây Ban Nha

Madrid_May_2014-The Royal Palace of Madrid. East facade, view from the Plaza de Oriente

Lâu đài Hoàng gia Tây Ban Nha. Lâu đài có diện tích 135.000m2 và có 3.418 phòng. Đó là lâu đài lớn nhất ở châu Âu về diện tích. Tuy nhiên lâu đài chỉ dành cho nghi lễ. Gia đình hoàng gia ở một lâu đài hiện đại hơn -lâu đài La Zarzuela ở ngoại ô Madrid.

Nằm giữa vùng đồng cỏ và vùng trồng lúa mì là thủ đô Madrid, thành phố lớn nhất của Tây Ban Nha. Vua Philip của Tây Ban Nha đã ra lệnh xây dựng thủ đô ở vùng trung tâm cách đây hơn 400 năm. Vị trí gần trung tâm có nghĩa là tất cả mọi nơi trong đất nước có thể đến thủ đô ở khoảng cách như nhau.

Dân chúng sống ở Madrid và những vùng lân cận là người Castile, và ngôn ngữ của họ được xem là ngôn ngữ chính. Là thủ đô của đế quốc Tây Ban Nha trước kia, Madrid chiếm ưu thế về văn hoá. Nó có nhiều dinh thự chính phủ quan trọng. Cung điện hoàng gia là một kiến trúc khổng lồ chứa nhiều tác phẩm nghệ thuật quí giá, gần đó là Tu viện hoàng gia San Lorenzo de El Escorial. Ngoài dinh thự chính phủ, thành phố cũng có một số viện bảo tàng nổi tiếng và là những điểm thu hút khách du lịch chính. Nổi tiếng nhất là Viện bảo tàng Prado, chứa bức tranh của El Greco và Velásquez và nhiều tác phẩm nghệ thuật khác.

1280px-Prado is the main Spanish national art museum

Bảo tàng Prado chứa 7.600 bức tranh, 1.000 bức tượng, 4.800 tác phẩm in ấn và nhiều tác phẩm khác. Năm 2012 bảo tàng trưng bày 1.300 tác phẩm ở tòa nhà chính, có 2,8 triệu khách tham quan.

Ngoài các khu phố tấp nập  với nhiều văn phòng chính phủ, cửa hàng, khách sạn, rạp hát, nhà hàng, và viện bảo tàng  là những khu ngoại ô ít đông đúc hơn. Đại lộ lớn và nhà cửa có sân rộng là đặc điểm của vùng ngoại ô này. Phía tây bắc ngoại ô thành phố là khu đại học. Đây là nơi đặt các toà nhà mới của Đại học Madrid. Đại học này là một trong những đại học lớn nhất châu Âu.

1280px-Cybele Palace- City Hall of Madrid and iconic monument of the city

Lâu đài Cybele, tòa thị chính của thủ đô Madrid

Mãi đến năm 1990 Madrid hầu như chỉ là trung tâm hành chính chỉ có vài ngành công nghiệp sản xuất hàng hoá cho nhu cầu của thành phố. Đến đầu thế kỷ XX, Madrid phát triển thành trung tâm công nghiệp. Sản phẩm công nghiệp chính của thành phố gồm ô tô, máy bay, hoá chất, dược phẩm, thực phẩm chế biến, nguyên liệu in ấn, đồ da. Vì các vùng quanh Madrid có vài nguyên liệu công nghiệp như sắt, than, dầu mỏ, nên thành phố cũng phát triển ngành công nghiệp nặng. Công nghiệp nhẹ gồm công nghiệp lắp ráp ô tô, xe tải, thiết bị, và đồ gỗ .

Calle_de_Alcalá_(Madrid)_Calle de Alcalá, seen from Plaza de Cibeles

Calle de Alcalá là con đường dài nhất ở thủ đô Madrid

Madrid còn là trung tâm của các hoạt động dịch vụ như ngân hàng, in ấn, bảo hiểm, tài chính, du lịch. Năm 1996, Madrid có lượng du khách hơn 40 triệu.

Thủ đô Madrid, kể cả ngoại ô với khoảng 3.228.359 người ( 2005), còn là đầu mối giao thông quan trọng. Trên bản đồ bạn có thể thấy năm ba đường xe lửa dẫn vào thành phố. Để phục vụ nhanh cho hành khách giữa Madrid và các thành phố quan trọng khác, một kỹ sư Tây Ban Nha đã phát minh một loại xe lửa nhanh chở hành khách gọi là “Talgo”

Xe lửa “Talgo”

Xe lửa “Talgo”

(Talgo là tên viết tắt của chữ Tren Articulado Ligero Goicoechea Oriol. Goicoechea và Oriol là tên những người sáng lập công ty ). Đường xe lửa Tây Ban Nha có đường ray rộng hơn xe lửa của Pháp và các nước châu Âu khác. Khi đường ray này gặp những đường xe lửa thông thường ở biên giới, nó không thể tiếp tục đi xa hơn nữa trừ phi người ta phải sử dụng những toa chở hàng và toa hành khách được thiết kế đặc biệt. Từ giữa thập niên 1970, chính phủ cũng nâng cấp các hệ thống giao thông nối Madrid đến các thành phố quan trọng. Talgo gần đây cũng đã đưa vào thị trường sản xuất loại xe lửa tốc độ cao “Talgo 350”, có tốc độ tối đa 320km/ giờ hoạt động trên đường Madrid- Barcelona.

Thủy ngân được khai thác ở Almadén

Cách Madrid khoảng 241km về phía tây nam là thành phố nhỏ Almadén. Nơi đây, giữa các ngọn núi là mỏ thủy ngân có trữ lượng lớn nhất thế giới. Nếu bạn cầm thủy ngân trong tay bạn sẽ biết nó nặng như thế nào. Bạn cũng có thể chia cắt nó ra và đặt nó liền nhau trở lại. Nó là một kim loại duy nhất có thể lỏng ở nhiệt độ thông thường.

Thủy ngân có nhiều công dụng thiết thực. Dụng cụ đo nhiệt độ dùng thủy ngân để ghi nhiệt độ. Thủy ngân cũng được dùng làm sơn, mực, dược phẩm, chất nổ và trong công nghiệp chế biến. Thủy ngân đã được khai thác ở Almadén trong hơn hai ngàn năm .

3. VÙNG DUYÊN HẢI PHÍA NAM PHÍA ĐÔNG VÀ CÁC THUNG LŨNG.

Vùng duyên hải phía nam, phía đông và các thung lũng có ba đồng bằng lớn: Đồng bằng Andalusia,  Đồng bằng Valencia, Đồng bằng Aragon

 Đồng bằng Andalusia : Nổi tiếng về cây ôliu

1280pxDunes in the park

Đụn cát ở Công Viên quốc gia Donana

Đồng bằng Andalusia nằm ở phía tây nam dọc sông Guadalquivir. Phần lớn đồng bằng, đặc biệt là vùng tiếp giáp Đại Tây Dương, thì lầy lội có nhiều phá và cồn cát ngầm. Cực tây của đồng bằng mở rộng về phía Đại Tây Dương ngay ở phía bắc của eo Gibralta. Sông Guadalquivir chảy ngang qua đồng bằng và đổ vào Đại Tây Dương ở Bắc Cádiz. Dù bờ biển thấp và lầy lội, thuyền bè có thể ngược dòng sông Guadalquivir lên tận Seville.

1280px-Olive orchards in Baños de la Encina province of Jaén.

Vườn trồng olive ở Baños de la Encina, tỉnh Jaén phía nam Tây Ban Nha. Jaén là một trong những tỉnh sản xuất dầu olive lớn nhất trên thế giới. Nó sản xuất khoảng 60% lượng dầu olive của toàn Tây BanNha.

Phía nam của thung lũng sông Guadalquivir là dãy Sierra Nevada. Phía bắc sông là dãy Seirra Morena hình thành ranh giới với vùng cao nguyên Extremadura. Phần lớn đồng bằng Andalusia rất màu mỡ. Khí hậu cận nhiệt ven bờ Địa Trung Hải, ấm về mùa đông và nóng về mùa hè, rất thích hợp cho cây ôliu. Nước từ các nhánh của sông Guadalquivir được dẫn vào để tưới cây. Nhiều người có việc làm nhờ vào việc hái trái ôliu.

1280px-Doñana_-_Vista_aérea-Doñana - Aerial view of Doñana National Park and surrounding areas

Công viên quốc gia Donana và vùng chung quanh. (hình chụp không ảnh)

Vùng cực tây nam là Công viên quốc gia Donana, công viên lớn nhất Tây Ban Nha có diện tích 758km2. Một phần của công viên nằm trong vùng Las Marismas, vùng châu thổ nhiều đầm lầy của sông Guadalquivir. Phần lớn quang cảnh của công viên là rừng và cây bụi, rừng thông, sồi, và đụn cát. Công viên này là nơi trú đông quan trọng cho các loài chim di cư và là khu di sản thiên nhiên thế giới của UNESCO vào năm 1994.

1280px-Las_Marismas,_Villafranco_del_Guadalquivir-Rice field in Las Marismas, near Isla Mayor

Cánh đồng lúa ở vùng Las_Marismas ,vùng châu thổ nhiều đầm lầy của sông Guadalquivir thuộc Công viên quốc gia Donana

Phía đông nam là Công viên quốc gia Sierra Nevada ( thành lập năm 1999). Địa hình núi của công viên tạo thành môi trường sống an toàn cho vài loài chim hiếm hoi như đại bàng vàng, chim cắt, kền kền châu Phi, và chim đầu rìu.

Thành phố Seville : Hải cảng của sông Guadaquivir.

Seville là trung tâm hành chính của vùng Andalusia và của tỉnh Seville. Nó còn là thành phố lớn thứ tư của Tây Ban Nha. Các sản phẩm xuất khẩu của thành phố là rượu vang, ôliu, cam, quặng kim loại. Các ngành công nghiệp gồm nhà máy đóng cá hộp, sản xuất rượu, thép, đồ sứ, thuốc lá, vải, xà phòng, đồ gỗ. Du lịch cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Seville.

Tháp Giralda, Seville

Tháp Giralda có kiến trúc Moors

Từ lâu Seville bị ảnh hưởng mạnh bởi người Moors ( người Ma rốc). Người Moors là người Hồi giáo từ Bắc Phi vượt eo biển Gibraltar và truyền bá ảnh hưởng của họ lên phần lớn Tây Ban Nha khoảng giữa thế kỷ thứ VIII. Cuối cùng người Thiên chúa giáo đã đẩy lui người Moors về Phi châu, nhưng ảnh hưởng của người Moors vẫn còn trông thấy tại nhiều nơi ở Tây Ban Nha.

Người Moors đã mang sự hiểu biết về việc dẫn thủy nhập điền và thiên văn học đến cho Tây Ban Nha. Họ cũng mang đến xứ sở này khoa kiến trúc của họ. Dấu vết của nền văn minh Moors vẫn còn hiện diện ở các con đường nhỏ ngoằn ngoèo, các ngôi nhà thấp màu trắng có ban công, sân rộng, và suối phun, cũng như di tích còn sót lại của bức tường cổ đã có thời bao bọc thành phố.

Khu phố cổ Seville

Khu phố cổ ở Seville

Nhiều di tích thành phố xuất phát từ thời Trung cổ, như Lâu đài Hoàng gia Alcázar được xây dựng bởi người Moors từ năm 1181. Đối diện với lâu đài là nhà thờ có kiến trúc gothic khổng lồ, bắt đầu xây dựng năm 1402 và hoàn tất năm 1519 trên vị trí của nhà thờ Hồi giáo thế kỷ XII. Nhà thờ đã dùng lại các cột và và một số kiến trúc của nhà thờ Hồi giáo. Nổi tiếng nhất là tháp Giralda cao hơn 91m, nguyên thủy là tháp nhà thờ hồi giáo, được biến đổi thành tháp chuông, là thí dụ điển hình của kiến trúc Moors.

Từ thế kỷ XVII -XVIII, Seville đã trở thành trung tâm văn hoá của Tây Ban Nha. Năm 1929, cuộc triển lãm Tây Ban Nha – Mĩ, một sự bày tỏ về mối quan hệ Hispano – Mĩ, được tổ chức ở Seville. Hội chợ thế giới Expo 92, mở ở Sevile vào tháng tư năm 1992.

Đồng bằng Valencia : trồng các các loại nông sản cận nhiệt đới khác nhau.

Albufera_de_valencia_SatNASA-The Albufera lagoon, in a satellite image.

Phá Albufeira ( ảnh chụp từ vệ tinh)

Dọc bờ biển phía đông Tây Ban Nha là đồng bằng Valencia. Đây là đồng bằng hẹp có nhiều khu rừng nhỏ, vườn cây ăn trái nằm giữa sườn dốc của cao nguyên Meseta và vùng duyên hải. Tuy nhiên vùng ven biển thấp có nhiều cồn cát ngầm, nhiều phá lầy lội.

Chảy ngang qua Valencia từ tây sang đông là nhiều con sông. Sông Turia chảy về phía đông, đổ vào vịnh Valencia ở thành phố Valencia. Phía nam là sông Júcar, bắt nguồn từ đỉnh Universales, đổ ra vịnh Valencia ở Cullera. Sông Segura chảy ngang qua phía nam Valencia,  vào Địa Trung Hải ở phía nam Alicante. Không xa về phía nam của Valencia là La Albufeira, một phá nước ngọt ngăn cách Địa Trung Hải bởi hàng chuỗi đụn cát và các rừng thông nhỏ. Phá này nằm ở trung tâm khu bảo tồn thiên nhiên Ramsar, bao phủ khoảng 21.120 hecta. Công viên này là vùng cư trú quan trọng cho nhiều loài chim khác nhau và loài chim săn bắt .

Trái hạnh

Trái hạnh

Đồng bằng hẹp Valencia nhắc chúng ta nhớ đến một vài nơi dọc bờ Địa Trung Hải ở Pháp, Italy, Hy Lạp. Nơi đây bạn có thể trông thấy các vụ mùa Địa Trung Hải thông thường như nho, cam, chanh, và rừng ôliu nhỏ bao phủ các sườn đồi thấp. Trên các cánh đồng nhỏ nông dân trồng lúa mì và các vụ mùa khác. Lúa được trồng ở những vùng đất thấp, ẩm ướt gần biển. Lúa trồng ở vùng này là loại lúa đặc biệt ngon, và nó là sản phẩm xuất khẩu quan trọng của Tây Ban Nha.

Vụ mùa xuất khẩu khác là trái hạnh. Những quả này mọc trên cây tương tự như đào. Trái hạnh đem bán sang các nước Bắc Âu là nơi không trồng được loại trái này. Ở Mĩ, trái hạnh được trồng ở nhiều vùng của California.

Valencia : Thành phố lớn thứ ba của Tây Ban Nha

800px-Queen Square with a view of the Cathedral and its tower the Miguelete, Business Offices in France Avenue, the America's Cup port and the Malvarrosa beach.

Quảng trường Queen với nhà thờ và tháp chuông của nó

Valencia là một trong những thành phố lớn nhất của Tây Ban Nha, nằm ở cửa sông Turia bên bờ Địa Trung Hải. Valencia còn là trung tâm nông nghiệp, công nghiệp và viễn thông. Các cơ sở công nghiệp của thành phố gồm nhà máy dệt vải, hoá chất, luyện kim, đóng tàu. Nó cũng sản xuất hàng len, rượu brandy, rượu vang và dầu ôliu. Việc khai thác muối mỏ, và phốt phát cùng với ngành đánh cá và du lịch là ngành côngnghiệp hàng đầu.

Đồng bằng Aragon : Là vùng có lượng mưa ít .

Aerial photograph of the Ebro River as it reaches the Mediterranean sea by the Ebro Delta

Sông Ebro chảy vào Địa Trung Hải và phù sa của nó ở cửa sông ( chụp từ vệ tinh)

Đồng bằng thứ ba, đồng bằng lớn nhất, là đồng bằng Aragon, do sông Ebro và các sông nhánh bồi đắp. Nơi đây sông Ebro rời đồng bằng rộng, chảy vào một thung lũng hẹp, cắt ngang qua vùng đồi ven biển trước khi vào Địa Trung Hải. Nước sông đã mang phù sa bồi đắp các đồng bằng và cung cấp nguồn nước quí báu cho nông nghiệp. Phía bắc của đồng bằng này là núi, phía nam là các thung lũng đẹp, khá trơ trụi.

Bị ngăn cách với biển do núi bao quanh, thung lũng sông Ebro rất khô khan. Một số vùng của thung lũng trắng xóa muối khoáng, và được gọi là những đồng bằng muối. Như ở cao nguyên Meseta, nông nghiệp nơi này rất hạn chế. Ở nhiều nơi dọc thung lũng sông Ebro và sông nhánh người ta trồng nho và các vụ mùa khác nhờ các công trình thủy lợi.

Dân tộc sống ở đồng bằng Aragon và miền đông bắc Tây Ban Nha được gọi là Catalans. Họ là những người tham vọng và đầy nghị lực. Ngôn ngữ của họ giống nhiều với người miền Nam nước Pháp, và họ cũng góp phần năng động vào thương mại hiện đại cũng như lãnh vực công nghiệp quan trọng.

Barcelona : Thành phố cảng, trung tâm công nghiệp chính ở đông bắc Tây Ban Nha.

1280px-Barcelona_port

Cảng Barcelona và đê chắn sóng

Barcelona là thành phố lớn thứ hai và là trung tâm công nghiệp thương mại chính của Tây Ban Nha. Nhờ xây dựng các đê chắn sóng, Barcelona đã trở thành một hải cảng quan trọng dành cho các thuyền đi biển lớn. Như những thành phố hiện đại khác lãnh vực dịch vụ từ lâu chiếm ưu thế hơn lãnh vực công nghiệp, dù rằng công nghiệp vẫn rất quan trọng. Các ngành công nghiệp hàng đầu là ngành dệt, hóa chất, dược phẩm, ô tô, điện tử, in ấn, xuất bản, viễn thông. Một trong những ngành công nghiệp phát triển đầu tiên ở Barcelona là công nghiệp dệt. Nguyên nhân là do nguyên liệu rẻ và có lực lượng lao động đông. Ngoài ra nghề dệt còn sử dụng thủy điện sẵn có. Người Catalans đã xây dựng các đập thủy điện trên các con suối miền núi Pyrenees và vùng đồi chung quanh Barcelona để cung cấp nguồn thủy điện cho các ngành công nghiệp của thành phố.

Vùng duyên hải hẹp phía đông bắc và tây nam Barcelona rất giống với đồng bằng duyên hải Valencia. Nơi đây các khu rừng nhỏ và các khu vườn trồng vụ mùa Địa Trung Hải, các bãi biển đẹp rực nắng và phong cảnh dễ yêu đã thu hút nhiều du khách mỗi năm. Như những miền Địa Trung Hải khác, vùng này của Tây Ban Nha nhận được doanh thu quan trọng từ du khách.

Du khách cũng bị lôi cuốn tới quần đảo Balearic, cách Barcelona khoảng 176km về phía đông nam. Trong quần đảo này lớn nhất là đảo Majoca, hình thành một tỉnh của Tây Ban Nha. Khí hậu thích hợp của đảo không những lôi cuốn nhiều du khách mà còn tuyệt vời đối với nhiều vụ mùa .

III. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ TÂY BAN NHA

A market garden of Murcia.

Chợ vườn ở vùng Murcia, phía nam Tây Ban Nha. Là vườn sản xuất theo qui mô nhỏ các loại trái cây, rau, hoa …thường là bán trực tiếp cho người tiêu dùng hay cho nhà hàng

Sau khi tìm được tân thế giới, Tây Ban Nha trở thành một đế quốc hùng mạnh. Tuy nhiên, do những cuộc chiến tranh liên miên với nước ngoài và do các cuộc nội chiến giành quyền lực trong nước, Tây Ban Nha trở nên suy yếu. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Tây Ban Nha giữ vai trò trung lập nên được sự chấp nhận của các quốc gia phương tây, nhưng nền kinh tế cũng rất trì trệ.

Tây Ban Nha là một quốc gia có truyền thống nông nghiệp và vẫn còn là một trong những nước sản xuất nông nghiệp lớn nhất châu Âu. Nhưng từ giữa thập niên 1950, công nghiệp phát triển nhanh. Năm 1964, hàng loạt nhà máy phát triển, giúp cho kinh tế mở rộng. Nhưng đến cuối thập niên 1970, kinh tế suy thoái do giá dầu tăng và tăng nhập khẩu. Do đó chính phủ nhấn mạnh đến việc phát triển công nghiệp luyện sắt thép, đóng tàu, dệt, và công nghiệp khai khoáng. Tây Ban Nha thu được nhiều lợi nhuận từ du lịch. Vào năm 2005 tổng sản phẩm quốc nội của Tây Ban Nha là 1.125 tỉ USD. Vào ngày 01-01-1986 Tây Ban Nha trở thành thành viên của Cộng đồng châu Âu (nay là Liên minh châu Âu ).

fish ebro

Cá sông Ebro

Nông nghiệp : là chỗ dựa chính của nền kinh tế . Kể cả lâm nghiệp và ngư nghiệp chiếm 6% lực lượng lao động. Sản phẩm nông nghiệp hàng đầu là nho, để làm rượu vang ; ôliu để làm dầu ôliu. Năm 2005, thu hoạch nông nghiệp của Tây Ban Nha gồm trái cây, đặc biệt là nho, ôliu, cam, và trái hạnh là 14,8 triệu USD ; ngũ cốc như lúa mạch, lúa mì, và lúa, 14 triệu USD ; rau như cà chua, hành 13,2 triệu USD ; khoai tây, củ cải đường 2,6 triệu USD.

Các điều kiện khí hậu và địa hình đã làm phần lớn các vùng nông nghiệp Tây Ban Nha bị khô hạn. Các tỉnh Địa Trung Hải đặc biệt là Valencia, có hệ thống thủy lợi là công trình tiêu biểu của nhiều thế hệ, và vành đai duyên hải khô cằn trước kia đã trở thành một trong những vùng sản xuất nông nghiệp có năng suất cao nhất của Tây Ban Nha. Ta thấy có sự kết hợp giữa các công trình thủy lợi và thủy điện với nhau đặc biệt là ở thung lũng sông Ebro. Các khu vực rộng lớn của vùng Extremadura được dẫn nước từ sông Guadiana.

Sồi bần là sản phẩm lâm nghiệp chính của Tây Ban Nha, và sản lượng hàng năm hơn 52.000 tấn vào cuối thập niên 1980, đặt Tây Ban Nha vào một trong số các nước dẫn đầu thế giới. Nguồn lợi từ rừng không hiệu quả đối với nhu cầu bột giấy và gỗ xẻ.

- Ngành đánh cá rất quan trọng đối với kinh tế Tây Ban Nha. Việc đánh bắt cá đạt 1,2 triệu tấn vào năm 2004, chủ yếu gồm cá sardine, trai, cá ngừ, cá tuyết, mực ống.

- Khai khoáng : Khoáng sản của Tây Ban Nha có số lượng đáng kể. Năm 2003 đạt 20,6 triệu tấn than, sắt 265.000 tấn, kẽm 70.000 tấn, đồng 5.000 tân, chì 2000 tấn. Tây Ban Nha cũng sản xuất 5.600 ký vàng và 2 tấn bạc. Ngoài ra Tây Ban Nha khai thác 2,4 triệu thùng dầu. Các mỏ than chính được nằm ở tây bắc, gần Oviedo ; mỏ sắt chính cũng nằm ở vùng này, quanh Santander và Bilbao ; trữ lượng lớn thủy ngân nằm ở vùng Almaden, tây nam Tây Ban Nha, và đồng chì được đào ở Andalusia .

- Công nghiệp : Trong số các sản phẩm hàng đầu được sản xuất ở Tây Ban Nha là vải, sắt, thép, xe ô tô, hoá chất, vải, giày dép, tàu thuyền, dầu mỏ và xi măng. Tây Ban Nha là một trong các nước sản xuất hàng đầu về rượu vang. Công nghiệp sắt thép, tập trung ở Bilbao, Santander, Oviedo, và Avilés, vào đầu thập niên 1990 sản xuất hàng năm khoảng 12,7 triệu tấn sắt thô và 5,7 triệu tấn gang.

1280px-Wind turbines in Galicia. Spain is the fourth producer of wind power in the world.[117]

Cánh quạt dùng sức gió để phát điện ở Galicia. Sản xuất năng lượng đứng hàng thứ tư của Tây Ban Nha.

- Năng lượng : Các nhà máy điện sử dụng than và dầu mỏ sản xuất 53% sản lượng điện vào năm 2003. Thủy điện 16%, điện gió và năng lượng nguyên tử 24%. Toàn bộ sản lượng điện được là 247tỉ kw.h.

- Ngoại thương : Năm 2003, Tây Ban Nha nhập khẩu hàng hoá trị giá 210,9 tỉ và xuất khẩu 158,2 tỉ. Hàng nhập khẩu chính gồm máy móc, nhiên liệu, phương tiện vận tải, thực phẩm, kim loại, và vải. Hàng xuất khẩu gồm ô tô, máy móc hoá chất . Bạn hàng buôn bán chính của Tây Ban Nha là Pháp, Đức, Italy, Vương Quốc Anh, Bỉ, Hoa Kỳ, và Nhật .

Tóm lại, Tây Ban Nha có đầy đủ điều kiện để trở thành một quốc gia công nghiệp mạnh. Tây Ban Nha có nguồn năng lượng cho công nghiệp như than, sắt và các khoáng sản khác. Tây Ban Nha cũng có tiềm lực thủy điện, thủy lợi dồi dào và với dân số đông trên 40 triệu. Với tất cả những điều kiện đó cùng với hiện trạng kinh tế của mình, Tây Ban Nha bị coi là một quốc gia “ phát triển chưa đầy đủ”. Một phần nguyên nhân của sự việc này là Tây Ban Nha có nhiều nhóm dân tộc khác nhau : người Galicians, Basques, Castile, Catalans, và những người khác thậm chí không nói cùng ngôn ngữ với nhau. Điều này làm cho sự giao tiếp trở nên khó khăn và cản trở tính thuần nhất của quốc gia.

 * Yêu cầu các bạn tham khảo bài viết nếu có copy nên trích dẫn nguồn www.cacnuocchauau.com/home. Đề tài này đã đăng ký ở Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, đã được Hội đồng khoa học thẩm định tháng 9/2006, xin đừng dùng nó lập website riêng, cướp công sức người khác, người tự trọng không làm vậy. Mỗi bài tác giả phải mất công sức dịch rất lâu, sắp xếp bố cục, lựa chọn hình ảnh thích hợp với nội dung, với tâm huyết yêu nghề  tác giả mong muốn đóng góp chút công sức biên soạn nó  dành cho các bạn yêu thích bộ môn địa lý, dùng để giảng dạy, tham khảo.