PAKISTAN

CỘNG HOÀ HỒI GIÁO PAKISTAN

Diện tích : 881.913 km 2 – Dân số: 201.995.540 người ( 2016) – Thủ đô : Islamabad

A. GIỚI THIỆU

Pakistan là  quốc gia đông dân và đa sắc tộc ở Nam Á. Đất nước này có lịch sử và văn hóa liên quan đến  các nước láng giềng Iran, Afghanistan, Ấn Độ, và ngôn ngữ chiếm ưu thế của họ là tiếng Ấn –Iran (Indo-Iran). Kể từ khi Pakistan và Ấn Độ giành được độc lập vào năm 1947, Pakistan đã bị phân biệt với người hàng xóm phía đông nam lớn hơn về dân số do áp đảo người Hồi giáo của nó (vì sự tương phản với người theo đạo Hindu chiếm ưu thế của Ấn Độ). Pakistan đã phải tranh đấu suốt vì sự tồn tại của nó để đạt được sự ổn định chính trị và phát triển xã hội bền vững. Thủ đô của Pakistan là Islamabad, nằm ở chân đồi của dãy Himalaya ở phía bắc của đất nước, và thành phố lớn nhất của nó là Karachi, ở phía nam trên bờ biển Ả Rập.

Pakistan ra đời vào lúc phân vùng của Ấn Độ thuộc Anh, để đáp ứng yêu cầu của những người theo chủ nghĩa dân tộc Hồi giáo: được nêu bởi Liên minh Hồi giáo toàn Ấn Độ dưới sự lãnh đạo của Mohammed Ali Jinnah, rằng người Hồi giáo của Ấn Độ sẽ là đại diện duy nhất của riêng Quốc gia họ. Từ khi độc lập mãi cho đến năm 1971, Pakistan gồm hai vùng – Tây Pakistan, ở lưu vực sông Indus nằm ở bộ phận tây bắc của tiểu lục địa, và Đông Pakistan, nằm hơn 1.600 km về phía đông ở vùng đồng bằng rộng lớn của hệ thống sông Hằng-Brahmaputra. Để đối phó với các vấn đề chính trị nội bộ nghiêm trọng nổ ra trong cuộc nội chiến năm 1971, Đông Pakistan đã tuyên bố trở thành đất nước Bangladesh độc lập.

Pakistan bao gồm một sự đa dạng phong phú của cảnh quan, bắt đầu ở phía tây bắc, từ dãy Pamirs cao vút tới dãy Karakoram xuyên qua một mê cung của các dãy núi, các thung lũng phức tạp và các cao nguyên có khí hậu khắc nghiệt, xuống bề mặt bằng phẳng đáng kể của đồng bằng màu mỡ sông Indus, con sông  chảy về phía nam vào biển Ả Rập. Nó chứa một phần của con đường tơ lụa cổ xưa và đèo Khyber, một hành lang nổi tiếng mà đã mang lại những ảnh hưởng bên ngoài vào tiểu lục địa bị cô lập. Các đỉnh cao sừng sững như K2 và Nanga Parbat, trong vùng Kasmir, thuộc Paskistan, tiêu biểu cho sự cám dỗ đầy thử thách đối với những người leo núi. Dọc theo sông Indus, đường giao thông chính của đất nước, nơi có địa điểm Mohenjo-daro cổ đại đánh dấu một trong những cái nôi của nền văn minh.

Cho đến nay, về chính trị và văn hóa, Pakistan đã đấu tranh để khẳng định bản thân. Pakistan đã thành lập một nền dân chủ nghị viện mà đã tán thành ý tưởng thế tục, đất nước đã trải qua các cuộc đảo chính quân sự lặp đi lặp lại, và tôn giáo – được cho là, tuân thủ các giá trị của Hồi giáo Sunni – đã ngày càng trở thành một tiêu chuẩn mà các nhà lãnh đạo chính trị được đo lường. Ngoài ra, phía bắc Pakistan – đặc biệt là Khu vực Bộ lạc liên bang cai trị đã trở thành một thiên đường cho các thành viên của chế độ Taliban bị lật đổ của nước láng giềng Afghanistan và cho các thành viên của nhiều nhóm Hồi giáo cực đoan khác. Trong nhiều vùng khác nhau của đất nước, sự xung đột sắc tộc, tôn giáo và xã hội chẳng hạn đã bùng lên tuỳ từng thời điểm, thường tách những khu vực này ra khỏi sự quản lý của cơ quan trung ương và các hành vi bạo lực đối với tôn giáo thiểu số đã tăng lên.

Tại thời điểm phân vùng vào năm 1947, có đến 10 triệu người tị nạn Hồi giáo rời bỏ nhà cửa của họ ở Ấn Độ và tìm nơi ẩn náu ở Pakistan – khoảng 8 triệu ở Tây Pakistan. Hầu như một số lượng tương đương của người Hindu và người Sikh đã bị buộc phải rời bỏ quê hương và môi trường quen thuộc của họ ở nơi mà trở thành Pakistan, và họ bỏ trốn sang Ấn Độ. Không giống như sự di cư mất nhiều thế kỷ trước đó, sự chuyển dân hỗn loạn này mất hầu như không đầy một năm. Kết quả đã tác động đến đời sống tiểu lục địa suốt từ sự tranh chấp kình địch giữa hai quốc gia, và mỗi nước tiếp tục tìm kiếm tạm ước lâu dài với nước kia. Pakistan và Ấn Độ đã chiến đấu bốn cuộc chiến tranh, ba trong số đó (1948-1949, 1965, và 1999) là tranh chấp Kashmir. Từ năm 1998 cả hai nước cũng đã sở hữu vũ khí hạt nhân, nâng cao hơn nữa căng thẳng giữa họ.

B. LÃNH THỔ

pakistan pic1Pakistan giáp Iran về phía tây, Afghanistan về phía tây bắc và bắc, Trung Quốc ở phía đông bắc, và Ấn Độ về phía đông và đông nam. Bờ biển của biển Ả Rập hình biên giới phía nam của nó.

Từ năm 1947, khu vực Kashmir, dọc theo phía tây dãy Himalaya, đã bị tranh chấp, giữa Pakistan, Ấn Độ và Trung Quốc mỗi nước kiểm soát một phần lãnh thổ. Phần lãnh thổ của Pakistan quản lý bao gồm vùng gọi là Azad Kashmir (“Free Kashmir”) vùng mà Pakistan vẫn coi là một bang độc lập, với thủ phủ là Muzaffarabad. Phần Kashmir còn lại của Pakistan –  gồm Gilgit và Baltistan, được gọi chung là Khu vực phía Bắc.

I. Địa hình và sông ngòi

Pakistan nằm ở cực tây của Đồng bằng Ấn Hằng. Khoảng 3/5 lãnh thổ là đồi núi và cao nguyên, và 2/5 còn lại là đồng bằng rộng lớn, bằng phẳng. Lãnh thổ Pakistan có thể chia làm năm vùng  chính: 1/ Dãy Himalaya, Karakoram và những dãy núi phụ cận; 2/ Dãy Hindu Kush và các rặng núi phía tây; 3/ Cao nguyên Balochistan; 4/ Các cao nguyên chân núi ( cao nguyên Potwar, dãy Salt, vùng chuyển tiếp đồng bằng sông Ấn, và vùng Sialkot);  5/ Đồng bằng sông Indus. Bên trong mỗi vùng được phân chia thành những vùng nhỏ, gồm một số vùng sa mạc.

1/ Dãy Himalaya và Karakoram

Dãy Himalaya từ lâu đã là một phân chia tự nhiên và văn hóa giữa Nam và Trung Á, tạo thành một thành lũy phía bắc của tiểu lục địa, và dãy phía tây của nó chiếm toàn bộ cực bắc của Pakistan, kéo dài khoảng 320 km vào nước này. Hệ thống tây Himalayalan lan rộng qua Kashmir và miền bắc Pakistan, chia thành ba dãy riêng biệt, từ nam đến bắc là dãy Pir Panjal, Zaskar, và Ladakh. Xa hơn về phía bắc là dãy Karakoram, là một hệ thống riêng biệt liền kề dãy Himalaya. Chuỗi dãy núi này có độ cao khác nhau từ 4.000m –  6.000m trên mực nước biển. Bốn trong số các đỉnh của khu vực vượt quá 8.000 m, và nhiều đỉnh cao hơn 4.500 m. Chúng bao gồm các đỉnh cao chót vót như Nanga Parbat 8126 m và K2, cũng gọi là Godwin Austen 8.611 m ( là đỉnh cao nhất của Karakoram), ở Khu vực phía Bắc.

Một số con sông quan trọng chảy từ, hoặc xuyên qua các núi của Kashmir vào Pakistan. Từ dãy Pir Panjal chảy xuống là sông Jhelum (chia đôi thung lũng nổi tiếng Kashmir); sông Indus chảy xuống giữa dãy Zaskar và Ladakh; và sông Shyok phát nguồn từ dãy Karakoram. Nam của dãy Pir Panjal là phần mở rộng phía tây bắc của dãy Shiwalik, mà mở rộng đến phần phía nam của ngọn đồi Hazara và Murree và bao gồm các ngọn đồi xung quanh Rawalpindi và vùng lân cận Islamabad.

Bên kia Karakoram ở miền cực bắc nằm trong khu tự trị Uygur Tân Cương, Trung Quốc; phía tây bắc, sau Hindu Kush, là Pamirs, nơi chỉ có hành lang Vākhān (hành lang Wakhan), một dải hẹp của lãnh thổ Afghanistan, ngăn cách Pakistan khỏi Tajikistan. Năm 1970 các kỷ sư Trung Quốc và Pakistan đã hoàn thành đường cao tốc Karakoram xuyên qua khối núi Himalaya,  ngang qua dãy Karakoram, nối thị trấn Gilgit ở Khu vực phía bắc với Kashgar (Kashi) ở Tân Cương. Đường cao tốc, một điều kỳ diệu của công nghệ hiện đại, mang lại sự trao đổi thương mại đáng kể giữa hai nước nhưng đã ít thúc đẩy sự trao đổi văn hóa.

Các rào cản núi phía Bắc ảnh hưởng đến lượng mưa ở Pakistan do chặn gió mùa mang mưa thổi từ phía nam đến. Tuyết và băng từ trên núi tan chảy cũng cung cấp nước cho các con sông, bao gồm cả sông Indus, mà chảy qua khỏi các dãy núi theo hướng tây đông về phía nam. Băng hà Siachen, một trong những băng hà  dài nhất thế giới, cung cấp nước cho sông Nubra, một nhánh của sông Shyok. Nhiều băng hà ở khu vực này, đặc biệt là băng hà của dãy núi Karakoram, là một trong số ít băng hà trên thế giới đã phát triển về kích thước từ cuối thế kỷ 20.

Các khu vực phía bắc và phía tây của nước này thường xuyên có động đất, hệ quả tự nhiên của một hệ thống núi trẻ. Những trận động đất nhỏ là phổ biến trong khu vực. Tuy nhiên, một số trận động đất nặng đã tàn phá khủng khiếp, do thực tế rằng nhiều tòa nhà được xây dựng kém và những toà nhà vùng núi thường là ở vách đá cheo leo.  Trận động đất lớn trong lịch sử gần đây ở Pakistan bao gồm những năm 1935, 1945, 1974, và 2005. Hai trận động đất sau ở xa về phía bắc của đất nước, và trận động đất năm 2005 tập trung ở vùng núi của tỉnh biên giới Khu vực phía bắc (ngày nay là  Khyber Pakhtunkhwa) và Azad Kashmir giết chết 80-90 ngàn người và khiến toàn bộ khu vực bị tàn phá.

Dân số trong Khu vực phía bắc khắc nghiệt này nói chung là thưa thớt, mặc dù ở một vài nơi thích hợp dân cư  dày đặc. Trong hầu hết các khu định cư nhỏ của khu vực này, các cây trồng thông thường là lúa mạch; cây ăn quả, đặc biệt là mơ, rất quan trọng. Gỗ, chủ yếu là loài thông, được tìm thấy ở một số nơi, nhưng sự hiện diện của chúng thay đổi tuỳ theo lượng mưa và độ cao. Nhiều sườn núi trở nên trơ trọc do đốn gỗ và chăn thả quá mức.

2/ Dãy Hindu Kush và các núi phía tây

Xa về phía bắc Pakistan Hindu Kush phân nhánh theo hướng tây nam từ sự nâng lên của tạo núi nút gọi là Nút Pamir. Từ điểm nút các rặng núi Hindu Kush nói chung theo hướng từ đông bắc – tây nam, trong khi các rặng núi của Karakoram chạy theo hướng đông nam -tây bắc. Hindu Kush được tạo thành từ hai dãy riêng biệt, dãy núi chính được cắt ngang bởi các con suối, và dãy núi hình thành đường chia nước phía tây của dãy núi chính, ở Afghanistan, mà đã phân chia hệ thống sông Indus với lưu vực sông Amu Darya ( sông Panj). Từ Hindu Kush, một số nhánh chạy về phía nam qua các khu vực Chitral, Dir và Swat, ở Khyber Pakhtunkhwa (trước năm 2010 được gọi là Tỉnh Biên giới Tây Bắc, nơi có đèo Khyber nổi tiếng kết nối với các tỉnh của Afghanistan). Những nhánh núi này có thung lũng hẹp và sâu dọc theo các con sông Konar, Panjkora, và Swat. Ở phần cực bắc, các dãy núi có đỉnh bao phủ băng tuyết vĩnh viễn; đỉnh núi cao bao gồm Tirich Mir, cao đến 7.690 m. Sườn các thung lũng thường trơ trụi vì sự cô lập chúng khỏi ảnh hưởng mưa. Phía nam khu vực này phần lớn được bao phủ bởi rừng thông tuyết (một loại tuyết tùng), thông và những cánh đồng cỏ rộng lớn.

Dãy núi Safid, nằm ở phía nam của sông Kabul và hình thành biên giới với Afghanistan, có hướng gần đông – tây và nhô lên đến độ cao khoảng 4.300 mét. Phần ngoài của nó mở rộng đến Kohat, một thành phố của tỉnh Khyber Pakhtunkhwa. Nam của dãy Safid là vùng đồi Waziristan, bị cắt ngang bởi các con sông Kurram và Tochi, và thậm chí xa hơn về phía nam là sông Gumal. Đường đèo tương đối rộng nằm ở phía nam của sông Kabul. Từ bắc vào nam là là đèo Khyber, Kurram, Tochi, Gomal, và Bolan. Đèo Khyber là địa danh lịch sử đặc biệt rộng đủ để lượng lớn quân đội ngang qua, nó thường là các điểm xâm nhập của các đội quân xâm lược tiểu lục địa.

Phía nam sông Gumal, dãy Sulaiman chạy theo hướng gần bắc –nam. Điểm cao nhất của dãy là Takht-e Sulaiman, gồm hai đỉnh đôi, độ cao đạt 5.633m. Dãy Sulaiman giảm độ cao dần vào vùng đồi Marri và Bugti ở phía nam. Sulaiman và, xa hơn về phía nam là dãy Kirthar thấp hơn ngăn cách cao nguyên Balochistan với đồng bằng sông Indus.

3/ Cao nguyên Balochistan

Cao nguyên Balochistan nằm ở tây nam Pakistan là vùng rộng lớn với diện tích 347.190km2. Đây là tỉnh lớn nhất của Pakistan, về phía bắc, tây bắc giáp với Afghanistan, tây nam giáp Iran, đông bắc giáp Punjab, Sindh, Khyber Pakhtunkhwa và Khu vực Liên minh các bộ lạc, phía nam là biển Arab. Thủ phủ của nó là thành phố Quetta nằm ở một bộ phận của dãy núi Sulaiman, nơi có dân cư dày đặc.

Vùng cao nguyên này chứa một loạt các đặc điểm tự nhiên: đông bắc là một bồn địa tập trung ở các thị trấn Zhob và Loralai bao quanh bởi núi. Về phía đông và đông nam là dãy Sulaiman, nối với dãy Trung Brahui gần Quetta, và ở phía bắc và tây bắc là dãy Toba Kakar (xa về phía tây trở thành dãy Khwaja Amran). Địa hình đồi núi trở nên ít hiểm trở ở hướng tây nam hình thành dải Ras Koh. Bồn địa nhỏ Quetta bao quanh là núi. Toàn bộ khu vực hình thành giao điểm của các dãy núi cao. Tây của dãy Ras Koh, địa hình chung của tây bắc Balochistan là một loạt các cao nguyên thấp bị chia cắt bởi những ngọn đồi. Ở phía bắc đồi Chagai tiếp giáp với vùng sa mạc, bao gồm khu vực thoát nước nội địa và một bồn địa trong sa mạc.

Nam Balochistan là một vùng hoang dã rộng lớn của các dãy núi, trong đó dãy trung  Brahui  là xương sống. Dãy núi cực đông Kirthar đâu lưng với dãy Pab ở phía tây. Dãy núi quan trọng khác của nam Balochistan là Trung Makran và dãy núi duyên hải Makran, dốc từng bậc xuống xuống phía nam chia cắt đồng bằng duyên hải với phần còn lại của cao nguyên. Đường mòn ven biển Makran gồm chủ yếu là miền đất thấp lầy lội bao quanh bởi rặng núi đá sa thạch. Sự cô lập của vùng đồng bằng khô cằn đã bị phá vỡ bởi một dự án đang phát triển ở Gwadar, nối với Karachi qua một hệ thống giao thông đường bộ được cải thiện.

4/ Cao nguyên dưới chân núi

Nằm ở phía nam của thành lũy núi phía Bắc, cao nguyên dưới chân núi có bốn khu vực khác biệt – vùng chuyển tiếp đồng bằng sông Indus, cao nguyên Potwar, dãy núi Salt, và khu vực Sialkot.

a/ Vùng chuyển tiếp đồng bằng sông Indus, phía tây sông Indus, bao gồm vùng đồi bao bọc cao nguyên của các thung lũng Peshawar, Kohat và Bannu, tất cả đều là những ốc đảo trong vùng khô hạn, cảnh quan cây bụi bao phủ của Khyber Pakhtunkhwa. Trong số này, thung lũng Peshawar là màu mỡ nhất. Sỏi hoặc phù sa đất sét bao phủ nhiều khu vực và được hình thành từ các hạt xốp mềm hoặc các mảnh vỡ tách ra từ khối đá bởi sự xói mòn và các ngoại lực khác. Lượng mưa hàng năm thường được giới hạn từ 250 và 380 mm, và hầu hết các khu vực canh tác ở thung lũng Peshawar được tưới nước từ kênh rạch.

Kohat ít phát triển hơn thung lũng Peshawar.  Lượng mưa chỉ khoảng 400mm/n. Chỉ một tỉ lệ nhỏ diện tích canh tác là tưới tiêu từ kênh đào, và nước ngầm của nó không được khai thác đầy đủ, mặc dù mực nước ngầm nói chung là cao. Phần lớn khu vực bao gồm cây bụi và đất chăn thả nghèo nàn. Vùng này phần lớn bị phá vỡ bởi các rặng núi đá vôi, và tầng đá vôi gồ ghề khác nhau lấp đầy đất sét thuộc về  hồ, sỏi hoặc tảng đá lăn.

Ở Bannu, chỉ ¼ diện tích đất canh tác được tưới tiêu. Lượng mưa hàng năm thấp, tổng lượng mưa chỉ 275mm/n. Cừu đuôi mập, lạc đà và lừa được nuôi ở Kohat và Bannu; len là nguồn thu hoa lợi quan trọng.

b/ Cao nguyên Potwar có diện tích khoảng 13.000 km2  và nằm ở độ cao khoảng 350-575m. Nó có giới hạn về phía đông là sông Jhelum và về phía tây là sông Indus. Phía bắc, dãy Kala Chitta và vùng đồi Margala cao từ 900 đến 1.500 m tạo thành ranh giới của nó. Về phía nam nó cao dần về phía  dãy Salt, độ cao tăng lên khoảng 600 m thậm chí xa hơn về phía nam. Giữa cao nguyên Potwar là lưu vực bị biến dạng về cấu trúc của sông Soan. Địa hình chung của lưu vực bao gồm khe núi chằn chịt, sâu hoắm trong bồn địa Shiwalik, địa phương gọi là khaderas. Lớp bề mặt của khu vực được hình thành bởi phù sa hoàng thổ do gió mang đến, về phía các sườn đồi lớp đất mặt xấu hơn gồm nhiều cát và sỏi. Đồng bằng nhỏ Rawalpindi ở phía bắc là vị trí của hai thành phố sinh đôi Rawalpindi và Islamabad.

Cao nguyên Potwar nhận được lượng mưa hàng năm trung bình từ 380-510 mm. Mặc dù lượng mưa hơi cao hơn ở phía tây bắc, phía tây nam rất khô cằn. Địa hình bị cắt xẻ và bị xói mòn bởi các con suối, trong suốt mùa mưa,nó xâm thực và rửa trôi đất. Các dòng suối thường sâu và có ít hoặc không sử dụng cho tưới tiêu. Nó thường là một khu vực nông nghiệp nghèo nàn, và dân số của nó tạo áp lực lớn vào tài nguyên của nó.

Cao nguyên Potwar là một trong những khu vực đông dân cư nhất của Pakistan. Nó chứa thành phố cổ Rawalpindi và thủ đô mới của quốc gia, Islamabad, được xây dựng từ năm 1961. Cao nguyên là vị trí của mỏ dầu lớn của Pakistan, mỏ đầu tiên trong số đó đã được phát hiện tại Khaur (1915) và Dhulian (1935); Mỏ Tut đã được phát hiện vào năm 1968, và việc thăm dò tiếp tục trong khu vực vào những năm 1970. Các mỏ dầu được kết nối bởi đường ống cho các nhà máy lọc dầu tại Rawalpindi.

c/ Dảy núi Salt là một  vùng vô cùng khô cằn đánh dấu ranh giới giữa các vùng núi thấp và đồng bằng sông Indus ở phía nam. Đỉnh cao nhất của dảy Salt là Sakesar, nằm ở độ cao 1.522 mét. Dảy Salt là mối quan tâm của các nhà địa chất bởi vì nó có chứa một chuỗi địa chất hoàn chỉnh nhất trên thế giới, trong đó đá từ thời đầu Cambri (cách đây khoảng 540 triệu năm) đến kỷ Pleistocen ( cách đây khoảng 2.600.000 đến 11.700 năm) được phơi bày trong một chuỗi liên tục.

d/ Khu vực Sialkot là một khu vực núi thấp hẹp ở phía đông bắc. Không giống như cao nguyên Potwar, nó là một vùng nông nghiệp trù phú. Lượng mưa thay đổi từ 650-900 mm năm, và mực nước ngầm cao, thuận tiện cho việc đào giếng thủy lợi; đất đai rất màu mỡ. Nơi đây dân cư phân bố dày đặc, và đất được chia thành các trang trại nhỏ mà trên đó thâm canh được thực hành.

5/ Đồng bằng sông Indus

 Đồng bằng sông Indus là một đồng bằng rộng lớn màu mỡ, diện tích khoảng 518.000 km2, thoải dần từ vùng chân đồi Himalayas ở phía bắc đến biển Arab ở phía nam. Độ dốc trung bình không quá 1 mét trên 5 km. Ngoại trừ sự chênh lệch về độ cao cực nhỏ, đồng bằng không có gì đặc biệt. Nó có thể chia thành hai phần, đồng bằng ở thượng lưu và hạ lưu sông Indus, do sự khác nhau về đặc điểm địa văn của chúng. Đồng bằng thượng lưu sông Indus do sông Indus cùng với các nhánh của nó, sông Jhelum, Chenab, Ravi, Beas, và Sutlej, tạo thành một hệ thống các voi đất phát triển, địa phương gọi là doabs, ở tỉnh Punjab (tiếng Ba Tư panj ab, có nghĩa là “năm nước, ám chỉ năm dòng sông).Vùng đồng bằng hạ lưu sông Indus có đặc điểm của con sông Nile; tức là, nó là một con sông lớn duy nhất không có sông nhánh đáng kể. Đồng bằng thu hẹp tạo thành một hành lang gần Mithankot, nơi dãy Sulaiman nằm sát với đồng bằng và sông Indus hợp lưu  với nhánh lớn cuối cùng của nó, sông Panjnad (mà bản thân nó chỉ là hợp lưu của năm con sông Punjab). Lũ lụt là một vấn đềluôn tái diễn, đặc biệt là dọc theo sông Ấn, hệ quả của mưa lớn (thường là trong tháng Bảy và tháng Tám).

Đồng bằng thượng lưu sông Indus bao gồm ba vùng: vùng chân núi Himalaya, các voi đất (doabs), và vùng chân núi Sulaiman (địa phương là gọi Derajat). Vùng chân núi Himalaya, hoặc vùng phụ cận Shiwalik, là một dải đất hẹp nơi các con sông từ tầng núi vào đồng bằng, do đó độ dốc hơi cao hơn. Khu vực này đặc trưng bởi nhiều dòng suối nhỏ, tạo thành địa hình nhấp nhô ở nhiều nơi. Các dòng suối này luôn khô,  ngoại trừ vào mùa mưa, khi đó nước suối dâng lên thành những dòng nước lũ hung hãn với sức mạnh xâm thực đáng kể.

Các voi đất (doabs) giữa các con sông khác nhau hiển thị địa hình trên phạm vi nhỏ giống nhau, trong đó bao gồm bốn vùng địa hình riêng biệt –  đồng bằng ngập nước hoạt động, đồng bằng ngập nước uốn khúc, đồng bằng ngập nước bao phủ, và dải đất vỏ sò (scalloped interfluves- một dải đất phân chia thung lũng hai sông – hay một khu đất cao giữa hai con sông trong cùng hệ thống thoát nước). Đồng bằng ngập nước hoạt động (địa phương gọi là một khaddar), nằm liền kề với dòng sông, thường được gọi là “bãi đất  mùa hè của các dòng sông”, vì nó tràn ngập nước hầu như mỗi mùa mưa. Đó là quang cảnh thay đổi của dòng sông, mặc dù đê bảo vệ đã được xây dựng ở nhiều nơi trên rìa ngoài của bãi đất để chứa nước sông vào mùa mưa. Liền kề với đồng bằng ngập nước hoạt động là đồng bằng ngập nước uốn khúc, chiếm vùng đất cao hơn cách xa khỏi con sông và ngổn ngang các cồn cát, hồ móng ngựa, các dòng sông chết, và các con đê.

Đồng bằng ngập nước bao phủ làmột dải phù sa trẻ mênh mông, kết quả của lũ lụt bao phủ, trong đó đất phù sa bao phủ phù sa ven sông cũ. Các dải đất vỏ sò, hoặc các cồn cát ngầm, là phần trung tâm và cao hơn của các voi đất,  với phù sa cũ có kết cấu tương đối đồng đều. Các ranh giới của các dải đất võ sò được hình thành bởi các vách sông ở những nơi cao hơn 6 mét. Bề mặt chung của khu vực này của đồng bằng bị phá vỡ thành các mảng nhỏ ở Chiniot và đồi Sangla, gần vùng đồi trọc Kirana, nổi bật bởi những đỉnh cao lởm chởm. Những ngọn đồi này được coi là phần ngoài của dãy Aravali của Ấn Độ.

Lớn nhất nhưng nghèo nhất của voi đất là Sind Sagar Doab, chủ yếu là sa mạc và nằm giữa con sông Indus và Jhelum. Tuy nhiên, các voi đất nằm ở phía đông của nó tạo thành các vùng đất nông nghiệp giàu có nhất nước. Cho đến khi sự ra đời của thủy lợi, vào cuối thế kỷ 19, nhiều khu vực bị bỏ hoang, vì lượng mưa ít. Nhưng thủy lợi đã mang đến một phước lành hỗn hợp; nó cũng đã gây ngập úng và mặn ở một số nơi. Trong một nỗ lực để sửa vấn đề này, chính phủ Pakistan, với sự hỗ trợ tài chính của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, đã xây dựng Dự án Left Bank Outfall Drain ( LBOD) trong thập niên 1980 và thập niên 90. Mục đích của dự án là  xây dựng một đường thủy nhân tạo lớn gần phía đông và song song với sông Indus để mang nước muối từ các đồng bằng của Punjab và tỉnh Sind tới bờ biển Ả Rập ở vùng Badin đông nam Sind. Giai đoạn cuối cùng của LBOD bao gồm việc xây dựng một “cống triều” dài 42 km tới  biển.Tuy nhiên, do một số vấn đề kỹ thuật nước thay vì đi ra biển bắt đầu phá hủy các vùng đất và vùng đầm lầy gây ra một thảm họa môi trường ở đông nam Sind: phần lớn đất và ao hồ nước ngọt bị ngập bởi nước mặn, vụ mùa bị bị hư hỏng, và thủy sản nước ngọt đã bị phá hủy. 32 người đã thiệt mạng do kết quả của dự án LBOD kể từ khi nó được đưa ra vào năm 1997 trong khi 50.000 mẫu anh đất nông nghiệp ở tám hội đồng liên minh đã bị bỏ hoang bởi độ mặn hoặc nước đọng. 10.000 ngư dân mất kế sinh nhai, bốn đầm lầy rộng lớn – hai trong số đó được quốc tế công nhận – đã bị xuống cấp do thiệt hại đa dạng sinh học, và khoảng 52 loài trong khu vực cũng đã bị huỷ hoại. Cả chính phủ và Ngân hàng Thế giới chấp nhận những tổn thất nhưng chưa sẵn sàng chịu trách nhiệm. Những thiệt hại đã xảy ra do không tuân thủ các chính sách an toàn của ngân hàng. Hậu quả của cống triều đã phức tạp hơn bởi các trường hợp của thời tiết khắc nghiệt ở vùng ven biển, bao gồm  cơn lốc xoáy nhiệt đới tàn phá trong năm 1999 và những cơn mưa xối xả ở đó và ở Balochistan trong năm 2007 – cả hai đều gây ra nhiều cái chết và buộc phải sơ tán hàng chục ngàn người. Sau cơn bão năm 2007, người dân Badin kêu gọi chính phủ phải ngừng sử dụng LBOD.

Vùng chân núi Sulaiman khác với vùng chân núi Himalaya ở chỗ nó là thường khô. Nhiều con suối và suối chỉ có nước bán thời gian, do đó bề mặt của nó nhấp nhô. Độ dốc của các dòng sông tương đối lớn, đồng bằng ngập nước thu hẹp, và bờ phải của sông Indus đôi khi nhô lên ngay trên nhánh sông chính.

Đồng bằng hạ lưu sông Indus, nơi dòng sông ngang qua tỉnh Sind, thì bằng phẳng, độ dốc sông nhỏ chỉ 1 m/10 km. Địa hình trong phạm vi nhỏ khá giống đồng bằng thượng lưu sông Indus. Thung lũng Indus và bờ của nó nhô cao hơn so với vùng đất xung quanh là kết quả của việc mở rộng dòng sông; và dù con sông được viền bằng đê ngăn lũ dọc theo dòng của nó, những bãi cát phù sa và đất sét có xu chịu thua trước lũ lụt, khiến sông thay đổi dòng thường xuyên. Sự bằng phẳng của đồng bằng bị xáo trộn ở Sukkur và Hyderabad, nơi có đá vôi nhô lên đột ngột. Châu thổ sông Ấn có đỉnh gần Thatta, bên dưới đó các nhánh sông trải ra tạo thành đồng bằng châu thổ. Phía đông nam của điểm đó là Rann của Kachchh (Kutch), là sự mở rộng của đầm lầy muối. Đường ven biển thấp và bằng phẳng, ngoại trừ vùng đồi Pabbi giáp bờ biển giữa Karachi và Ras Muari (Mũi Monze).

Manchhar, một hồ nước sình lầy phía tây của sông Ấn, có diện tích  36 km2 lúc nước nông nhưng kéo dài không dưới 500 km2 khi nước đầy; vào những lúc như vậy nó là một trong những hồ nước ngọt lớn nhất ở Nam Á. Chất lượng nước ngầm ở đồng bằng sông Ấn thay đổi, ở khu vực phía nam (Sind) chủ yếu là nước mặn và không thích hợp để sử dụng trong nông nghiệp. Khu vực rộng lớn ở cả phía bắc và phía nam của đồng bằng đã bị ảnh hưởng bởi ngập úng và mặn. Ở phía nam châu thổ sông Indus (trái ngược hẳn với các vùng đồng bằng sông Hằng-Brahmaputra) là vùng bỏ hoang không canh tác. Khi triều cường và lũ lụt sông Indus trùng nhau, vùng đất ven biển bị ngập vào bên trong đất liền khoảng 30 km.

6/ Vùng sa mạc

Phần đông nam của vùng đồng bằng sông Ấn, từ phía đông Bahawalpur đến khu vực Thar Parkar ở phía nam, là một sa mạc điển hình, một phần mở rộng của sa mạc Thar giữa Pakistan và Ấn Độ. Nó ngăn cách với khu vực tưới tiêu trung tâm của vùng đồng bằng bởi lưu vực sông Ghaggar ở Bahawalpur và phía đông kênh Nara ở Sind. Sa mạc nổi tiếng với các tên khác nhau như  sa mạc Cholistan hoặc Rohi ở Bahawalpur và sa mạc Pat hoặc Thar ở Sind. Bề mặt của sa mạc là một mê cung hoang dã của những cồn cát và rặng núi cát. Hầu hết Sind Sagar Doab, cực tây voi đất ở Punjab, là một khu đất hoang sản xuất không hiệu quả (gọi là sa mạc Thal) trước khi xây dựng đập nước Jinnah trên sông Indus gần Kalabagh vào năm 1946. Hệ thống kênh mương Thal, dẩn  nước từ đập, đã biến nhiều vùng  của sa mạc thành đất canh tác màu mỡ.

II . Đất trồng

Đất trồng của Pakistan được phân loại là đất pedocals ( đất ở vùng bán khô hạn và khô hạn, giàu calcium carbonate và đá vôi), trong đó bao gồm một nhóm đất khô với nồng độ calcium carbonate cao và hàm lượng thấp các chất hữu cơ; chúng là đặc trưng của vùng đất có lượng mưa ít và thất thường. Các nhóm đất chính là đất lưu vực sông Indus, đất núi, đất cát sa mạc. Tuy nhiên, cách hình thành đất rất đa dạng thậm chí trong phạm vi nhỏ. Các đất này thay đổi về kết cấu, thành phần hoá học, màu sắc và hàm lượng  hữu cơ từ nơi này đến nơi khác.

Đất lưu vực sông Indus chủ yếu là phù sa dày lắng đọng bởi các con sông và có nguồn gốc gần đây. Đất ở vùng lân cận của sông là gần đây nhất và thay đổi trong kết cấu từ cát đến bùn và đất sét pha mùn. Chúng có hàm lượng hữu cơ thấp và được gọi chung là đất khaddar. Cách xa sông, về phía giữa của các voi đất, đất phù sa cũ (gọi là bangar) được phân bố rộng rãi. Các loại đất này có kết cấu từ trung bình đến tốt, hàm lượng hữu cơ thấp, và rất có năng suất trong điều kiện tưới nước và bón phân. Tuy nhiên, trong một số khu vực ngập nước, đất này nhiễm mặn. Đất kiềm hoá mạnh khu biệt trong các khu vực nhỏ. Ở khu vực dưới chân núi trong điều kiện độ ẩm trung bình các loại đất này không có đá vôi và có hàm lượng hữu cơ cao hơn một chút. Trong vùng đồng bằng châu thổ cửa sông thì độ mặn quá mức và rất cằn cỗi.

Đất núi là đất tại chỗ  (tức là, hình thành ở một vị trí cố định) và đất vận chuyển. Lớp đất nông còn lại đã phát triển dọc theo các sườn núi và ở vùng đồi. Các loại đất này nói chung là nhiều vôi và có hàm lượng hữu cơ thấp, nhưng trong điều kiện độ ẩm trung bình nồng độ chất hữu cơ tăng lên.

Đất cát sa mạc bao phủ khu vực Cholistan ở Sind Sagar Doab và tây Balochistan. Chúng  bao gồm cả đất cát vận chuyển và đất sét của đồng bằng ngập nước do lũ. Đất này gồm đá vôi mức độ vừa phải và đất do gió mang đến.

III. Khí hậu

Tình trạng khô hạn là khía cạnh phổ biến nhất của khí hậu Pakistan, và tính chất lục địa của nó có thể được nhìn thấy ở những thái cực của nhiệt độ. Pakistan nằm ở rìa của hệ thống gió mùa. Lượng mưa trong cả nước nói chung thất thường, và biến đổi cao. Mưa do gió mùa thay đổi từ năm này sang năm khác, gió thổi không liên tục, và hầu hết hơi ẩm có trong mùa hè. Các cơn bão nhiệt đới từ biển Ả Rập vào không những cung cấp  mưa cho các khu vực ven biển mà còn làm thay đổi đặc điểm khí hậu.

Hiệu quả của lượng mưa gió mùa không đáng kể, bởi vì nó tập trung từ đầu tháng Bảy đến giữa tháng Chín, khi nhiệt độ cao tối đa làm nó mất đi do bốc hơi. Ở phía bắc lượng mưa trung bình hàng năm ở Peshawar là 330 mm, và tại Rawalpindi nó đạt đến 950 mm. Tuy nhiên, trong vùng đồng bằng lượng mưa trung bình hàng năm thường giảm từ đông bắc đến tây nam, giảm từ khoảng 500 mm ở Lahore đến dưới 130 mm trong hành lang sông Indus và 90 mm ở Sukkur . Dưới ảnh hưởng của biển, lượng mưa tăng nhẹ lên khoảng 155 mm ở Hyderabad và 200 mm tại Karachi.

Phạm vi mưa 500 mm, chạy theo hướng tây bắc từ gần Lahore, đánh dấu cao nguyên Potwar và một phần của đồng bằng sông Ấn ở phía đông bắc; các khu vực này nhận được đủ lượng mưa cho việc hạn canh ( nông nghiệp không có tưới tiêu – một loại hình canh tác ở vùng đất khô cằn mà không cần tưới bằng cách trồng các loại cây trồng chịu hạn hoặc bằng cách sử dụng các kỹ thuật tăng độ ẩm như trồng hạt giống sâu trong lòng đất hoặc sử dụng lớp phủ cho cây mới trồng để chậm bay hơi). Phía nam của khu vực này, việc canh tác giới hạn chủ yếu ở các dải ven sông cho đến khi sự ra đời của thủy lợi. Hầu hết các cao nguyên Balochistan, đặc biệt ở phía tây và phía nam, rất khô cằn.

Kiểu khí hậu lục địa của Pakistan đặc trưng bởi sự dao động nhiệt độ cực lớn, cả theo mùa và hàng ngày. Ở vùng núi cao khí hậu thay đổi vào mùa đông, tuyết bao phủ vùng núi phía bắc; nhiệt độ trên cao nguyên Balochistan hơi cao hơn. Dọc duyên hải,  khí hậu thay đổi bởi gió biển. Ở các vùng còn lại của đất nước, nhiệt độ rất cao vào mùa hè; nhiệt độ trung bình trong tháng Sáu là 38 ° C ở vùng đồng bằng, nơi nhiệt độ cao nhất có thể vượt quá 47 ° C. Jacobabad, thuộc tỉnh Sind, đã ghi nhận nhiệt độ cao nhất ở Pakistan là 53 ° C. Vào mùa hè, gió nóng được gọi là Loos thổi ngang qua vùng đồng bằng trong ngày. Cây rụng lá để tránh mất độ ẩm quá mức. Thời tiết khô, nóng đôi khi bị xua tan bởi những cơn bão bụi và dông làm nhiệt độ tạm thời hạ thấp. Buổi tối thì mát mẻ; sự dao động nhiệt độ trong ngày có thể lên đến 11-170C. Mùa đông thì lạnh, nhiệt độ trung bình tối thiểu khoảng 4 ° C vào tháng Giêng.

IV. Đời sống thực vật và động vật

Sự khác biệt về vĩ độ, độ cao, loại đất và khí hậu đã cho phép các loại cây khác nhau phát triển. Thảm thực vật chịu hạn trong sa mạc bao gồm cây bụi gai còi cọc, chủ yếu là cây keo. Rừng cây bụi khô, gọi là rakhs, mọc ở vùng đồng bằng khô cằn. Vùng chân đồi và đồng bằng phía bắc và tây bắc, rừng cây bụi, chủ yếu là keo và ôliu hoang dã được tìm thấy. Trong các vùng núi  ẩm ướt phía bắc và tây bắc, rừng gỗ mềm lá kim thường xanh, với một số loài cây lá rộng, phát triển. Linh sam, thông tuyết, thông xanh (Pinus wallichiana), và vân sam là cây lá kim chính. Ở độ cao thấp hơn, dưới 900 mét, có sồi lá rộng, cây thích, phong, cây hồ đào ( óc chó), cây hạt dẻ chiếm ưu thế. Cây lá kim là nguồn gỗ thương mại quan trọng. Trong cảnh quan khô cằn của cao nguyên Potwar, một số ngọn đồi chỉ có cây cối thưa thớt. Trong các dãy núi phía bắc của cao nguyên Balochistan có những khu rừng nhỏ thông và ô liu. Cây babul (Acacia Arabica- keo Ả rập) phổ biến ở thung lũng sông Indus, cũng như nhiều loài cây ăn quả. Độ che phủ rừng của nước này vốn rất thưa thớt, nhưng nó đã bị suy giảm hơn nữa bởi việc đốn cây và chăn thả quá mức.

Sự phá hoại môi trường sống tự nhiên và săn bắn quá mức đã dẫn đến sự giảm sút hàng loạt đời sống động vật trong những vùng rộng lớn của đất nước, nhưng động vật hoang dã vẫn có thể được tìm thấy rất nhiều trong một số khu vực. Các loài thú lớn ở khác nhau ở miền núi phía bắc bao gồm gấu nâu, gấu đen châu Á (Ursus thibetanus, còn được gọi là gấu Himalaya), báo hoa mai, báo tuyết, dê rừng Siberia (Capra ibex sibirica), và cừu hoang dã, bao gồm cừu Marco Polo (Ovis Ammon polii, một loại cừu to ở Trung Á), và dê hoang dã Chiltan (Capra aegagrus chialtanensis).

Hồ Manchhar ở Sind có nhiều loài chim nước, bao gồm vịt trời, mòng két ( loại vịt trời nhỏ), vịt thìa ( có mỏ hình xẻng), cò mỏ bẹt, ngỗng, vịt lặn nước (đầu màu đỏ, mỏ màu xanh). Cá sấu, cá sấu Ấn Độ (cá sấu giống bò sát), trăn, và heo rừng sống trong khu vực đồng bằng châu thổ sông Indus. Sông Indus chính là quê hương của cá heo sông Ấn, loại cá heo nước ngọt mà môi trường sống của nó bị đe doạ nghiêm trọng do săn bắn, ô nhiễm, và việc xây dựng các đê và đập. Ít nhất hai loại rùa biển, rùa biển xanh và ô liu, làm tổ trên bờ biển Makran.

Linh dương sa mạc được phân phối rộng rãi, bao gồm linh dương Ấn Độ, linh dương Iran- Ấn Độ. Chó sói, cáo, và mèo hoang dã khác nhau bao gồm mèo rừng Âu-Á, mèo rừng sa mạc, mèo cá, cũng được tìm thấy trên khắp đất nước. Mặc dù có những báo thường xuyên về những lần trông thấy loài báo gêpa châu Á, loài này có khả năng tuyệt chủng ở Pakistan. Một loạt các công viên quốc gia và khu bảo tồn được thành lập từ đầu những năm 1970. Tuy nhiên, một số loài đã được tuyên bố có nguy cơ tuyệt chủng, bao gồm cả cá heo sông Ấn sông, báo tuyết, và cá sấu Ấn Độ.

C. CON NGƯỜI

1/ Thành phần dân tộc

Lãnh thổ Pakistan ngày nay từ lâu đã là một con đường của cuộc chinh phục quân sự và một điểm trung chuyển cho các dân tộc và các nền văn hóa. Vì thế, nó là một nền văn hoá và là nơi tụ cư sắc tộc quan trọng. Dân số của Pakistan hiện đại có thể được chia một cách rộng rãi thành năm nhóm dân tộc lớn và một số nhóm nhỏ. Người Pujab, chiếm khoảng một nửa dân số, là nhóm lớn nhất. Người Pashtun (Pathans) chiếm khoảng một phần tám dân số, và người Sind là nhóm nhỏ nhất. Còn lại là người muhajirs – người Hồi giáo nhập cư Pakistan sau khi phân vùng vào năm 1947 – và người Baloch.

Mỗi nhóm trên lại được phân thành nhiều nhóm phụ, cũng như các nhóm sắc tộc khác nhau không bao gồm trong chúng.  Người Arains, Rajputs, và Jats – tất cả đều là người Pujab – coi mình là dân tộc riêng biệt. Một số nhóm chồng chéo năm loại; Ví dụ, người Punjab Pashtun cũng như Hazarvi Pashtun. Một số nhóm nhỏ hơn, chẳng hạn như người Brahuis ở Sind và người Siraikis ở Punjab, cũng là dân tộc riêng biệt. Bộ lạc Pashtun là một nhóm phụ khác của người Pashtun. Được chia thành nhiều bộ lạc có hệ thống chính trị riêng, họ sống trong khu vực miền núi dọc theo biên giới Afghanistan. Trong số này có người Yusufzai, Orakzai, Swati, Afridi, Wazir, Mohmand, và Mahsud. Các bộ  tộc độc đáo khác được tìm thấy ở xa về phía bắc của các vùng núi xa xôi là Dir, Chitral, Hunza và Gilgit.

2/ Thành phần ngôn ngữ

Ngôn ngữ ở Pakistan, nói chung, không đồng nhất, và không có ngôn ngữ duy nhất có thể được cho là phổ biến cho toàn bộ dân số. Mỗi ngôn ngữ chính của nó có một sự  tập trung mạnh mẽ trong khu vực, mặc dù thống kê cho thấy một số ngôn ngữ được phân phối giữa các tỉnh khác nhau bởi vì ranh giới hành chính cắt ngang qua các vùng ngôn ngữ. Sự việc cũng rất phức tạp bởi thực tế là, đặc biệt là ở Sind, có một số lượng đáng kể người hồi giáo nhập cư nói tiếng Urdu- và Punjab. Ngoài tiếng Urdu và Punjab, các ngôn ngữ khác tuyên bố là tiếng mẹ đẻ bao gồm Sind, Pashto, Siraiki, Balochi, và Brahui.

Có nguồn gốc trong thời kỳ Mughal (đầu thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 18), tiếng Urdu là ngôn ngữ trẻ nhất của đất nước và không phải là ngôn ngữ bản địa của Pakistan. Nó tương tự như tiếng Hindi, ngôn ngữ sử dụng rộng rãi nhất của Ấn Độ. Mặc dù hai ngôn ngữ có một nền tảng chung, trong hình thức văn chương tiếng Urdu nhấn mạnh những từ xuất xứ Ba Tư và Ả Rập, trong khi Tiếng Hindi nhấn mạnh những từ có nguồn gốc tiếng Phạn. Tiếng Urdu được viết bằng một phiên bản cải tiếng của hệ thống chữ viết Ba Tư, trong khi Tiếng Hindi được viết bằng hệ thống chữ viết Devanagari. Bởi vì nó chủ yếu là ngôn ngữ của những người Hồi giáo có giáo dục ở miền bắc Ấn Độ, bao gồm Punjab, tiếng Urdu có quan hệ rất lớn với chủ nghĩa dân tộc Hồi giáo – vậy nên thuộc ý thức hệ quan trọng của Urdu trong chính trường Pakistan. Urdu là tiếng mẹ đẻ của chỉ một tỷ lệ nhỏ dân số của Pakistan, nhưng nó là ngôn ngữ chính thức duy nhất của đất nước; nó được dạy trong các trường học cùng với các ngôn ngữ địa phương.

Hiến pháp 1956 quy định việc sử dụng tiếng Anh (ngôn ngữ hành chính trong thời kỳ thuộc địa) cho mục đích chính thức trong 20 năm, và hiến pháp năm 1962 đã quy định việc sử dụng không hạn định. Tuy nhiên, hiến pháp năm 1973 định rõ giai đoạn chuyển tiếp 15 năm sang tiếng Urdu, sau đó tiếng Anh sẽ không còn được sử dụng cho mục đích chính thức. Điều khoản của hiến pháp đã không được thi hành đầy đủ. Tiếng Anh vẫn được giảng dạy và sử dụng trong các trường học ở tất cả các cấp độ, và nó vẫn là ngôn ngữ chung của chính phủ, giới trí thức, và quân sự. Ngoại trừ nhóm người ưu tú, tiếng Anh được nói trôi chảy bởi chỉ một tỷ lệ nhỏ dân số. Tuy nhiên, rất nhiều từ và cụm từ tiếng Anh, đã được nói theo cách của địa phương, và hầu hết người Pakistan với thậm chí một nền giáo dục khiêm tốn có thể nắm bắt được ngôn ngữ đó.

Tiếng Urdu, chứ không phải là tiếng Punjab, là ngôn ngữ đầu tiên được giảng dạy trong hầu như tất cả các trường ở tỉnh Punjab, vì vậy mỗi người Punjab có học đọc và viết tiếng Urdu. Ở Pakistan, tiếng Punjab chủ yếu là ngôn ngữ nói chứ không phải là ngôn ngữ viết, và nó là một ngôn ngữ chủ yếu ở nông thôn hơn thành thị. Một phong trào phát huy ngôn ngữ Punjab bắt đầu vào những năm 1980, và một số văn học Punjab đã được xuất bản bằng cách sử dụng hệ thống ngôn ngữ Urdu; trong số các tác phẩm được xuất bản là tác phẩm kinh điển tiếng Punjab mà cho đến nay đã có trong hệ ngôn ngữ Gurmukhi (trong đó tiếng Punjab được viết ở Ấn Độ) hoặc bảo tồn bằng cách truyền miệng.

Tiếng Sind có nguồn gốc từ tiếng Virachada hệ ngôn ngữ của tiếng Prakrit. Nó có ít tiếng địa phương hơn tiếng Punjab và được viết bằng một biến thể đặc biệt của hệ ngôn ngữ Ả Rập. Trước khi phân vùng Ấn Độ vào năm 1947, hầu hết các tầng lớp lưu có học ở Sind là người theo Ấn Độ giáo, và cuộc hành trình của họ đến Ấn Độ vào thời điểm đó có ảnh hưởng đến văn hóa Sind. Do đó có một nỗ lực mạnh mẽ hướng tới việc phục hồi và bảo tồn văn học phong phú và di sản văn hóa Sind. Một số lượng lớn người tị nạn nói tiếng Urdu định cư ở Sind chiếm đa số dân số của thị trấn. Như một hệ quả, phong trào phát huy ngôn ngữ Sind và văn hóa đôi khi đối lập với tiếng Urdu. Người Sind sợ rằng ngôn ngữ và văn hóa của họ sẽ bị tràn ngập bởi ngôn ngữ và văn hóa của cộng đồng Muhajir chủ yếu nói tiếng Urdu, và sự sợ hãi đó đã dẫn đến những gì được gọi là các cuộc bạo loạn ngôn ngữ vào năm 1972 và dẫn đến quyết định của chính phủ quốc gia là chấp nhận một  địa vị đặc biệt đối với ngôn ngữ Sindhi. (Sự trỗi dậy của nền chính trị sắc tộc chiến binh cực đoan ở Sind bắt đầu vào những năm 1980, đáng chú ý là cuộc xung đột giữa người Sind bản địa và các thành viên của cộng đồng Muhajir – có khả năng phát xuất từ quyết định đó.)

Tiếng Pashto, ngôn ngữ của người Pashtun ở Khyber Pakhtunkhwa và các khu vực bộ lạc liên bang, có truyền thống văn học rất ít, mặc dù nó có truyền thống truyền miệng phong phú. Có ba kiểu phương ngữ chính mà trong đó các phương ngữ riêng biệt khác nhau có thể được phân loại là: Bắc Pashto (Pakhto), được nói đa dạng dọc theo biên giới Afghanistan và ở trong và xung quanh Peshawar; Trung Pashto, cũng gọi là tiếng Waziri và Bannochi, được nói ở Waziristan, Bannu, và Karak; và Nam Pashto, được nói ở Balochistan và Quetta. Như ở Punjab, tiếng Urdu là ngôn ngữ được giảng dạy trong các trường học, và người Pashtun có học đọc và viết tiếng Urdu. Một lần nữa, như trong trường hợp của tiếng Punjab, đã có phong trào phát triển ngôn ngữ viết bằng tiếng Ba Tư và tăng việc sử dụng Tiếng Pashto.

Tiếng Siraiki (Saraiki hoặc Seraiki) được nói ở miền Trung Pakistan từ Mianwali thuộc tỉnh Punjab, đến Khairpur thuộc tỉnh Sind, và lan rộng đến Balochistan và Khyber Pakhtunkhwa. Nó là ngôn ngữ trung gian giữa tiếng Sind và tiếng Punjab.

Hai ngôn ngữ chính được nói ở Balochistan là Balochi và Brahui. Một phương ngữ quan trọng của Balochi, gọi là tiếng Makrani hoặc Nam Balochi, được nói ở Makran, khu vực phía Nam của Balochistan, giáp biên giới Iran – Makran là dãy duyên hải bán hoang mạc ở Balochistan, thuộc Pakistan và Iran, nằm dọc theo bờ biển của vịnh Ba Tư và vịnh Oman.