1 . NA UY ( NORWAY )

VƯƠNG QUỐC NA UY

Diện tích : 389.189 km2 Dân số : 4.630.000 người ( 2007 ) Thủ đô : Oslo

MAP NA UY

I. NA UY LÀ QUỐC GIA THỊNH VƯỢNG Ở BÁN ĐẢO SCANDINAVIA

1. Na Uy được bao bọc ở ba mặt bởi biển

Na Uy nằm phía tây của bán đảo Scandinavia ở phía bắc châu Âu. Ba mặt của Na Uy được bao bọc bởi biển. Phía bắc là biển Barent, biển phụ của Bắc Băng Dương ; phía tây là biển Na Uy. Phía nam là eo biển Skagerrak, ngăn cách Na Uy với Đan Mạch và Bắc Hải. Phía đông Na Uy ngăn cách với Thụy Điển bằng đường biên giới dài và cực Đông Bắc Na Uy có đường biên giới với Nga và Phần Lan.

798px-Reine_Lofoten copyNa Uy có nhiều quần đảo, như quần đảo Lofoten và Vesteralen ; và vài đảo phụ thuộc như quần đảo Svalbard nằm gần cực Bắc và Jan Mayen, một đảo núi lửa nằm ở phía đông bắc Iceland.

Ngoài ra còn các đảo phụ thuộc khác, gồm Bouvet – đảo không có người ở Nam Đại Tây Dương – và Peter I ở ngoài khơi Nam Cực. Na Uy cũng sở hữu một vùng ở Nam Cực gọi là Queen Maud Land.

2. Địa hình Na Uy gồ ghề lởm chởm, bờ biển có nhiều fiord

Địa hình Na Uy gồ ghề lởm chởm và nhiều đồi núi, với các đỉnh núi bao phủ rừng thông, các thung lũng bị đụt khoét bởi băng hà và các vịnh nhỏ với bờ hẹp sâu gọi là fiord. Ngoài khơi là một chuỗi các đảo ngầm che chở bờ biển hình thành con đường thủy nội địa an toàn. Tên Na Uy ( Norway ), có nghĩa là “con đường phía bắc “, phản ảnh tầm quan trọng của con đường thủy này trong việc nối liền nhiều fiord nhỏ và các thung lũng bị ngăn cách bởi địa hình gồ ghề lởm chởm. Các yếu tố địa lý này có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử phát triển của Na Uy.

3. Dòng biển ấm Bắc Đại Tây Dương đem lại khí hậu ấm áp cho Na Uy

Mặc dù nằm ở phía bắc nhưng Na Uy có khí hậu dễ chịu. Mùa hè mát và mùa đông ôn hòa. Dòng biển ấm Bắc Đại Tây Dương, là sự mở rộng của dòng Gulf Stream, chảy dọc bờ tây của Na Uy và đem lại cho Na Uy khí hậu ấm áp hơn những vùng khác có cùng vĩ độ. Khí hậu hải dương thường chiếm ưu thế ở vùng duyên hải các đảo và vùng đất thấp ; phần lớn các fiord, các hải cảng quanh năm không bị đóng băng. Ở Bergen nhiệt độ trung bình vào tháng giêng là 3oC và vào tháng bảy là 19oC. Dọc bờ biển phía tây là nơi có mưa nhiều vào sâu trong đất liền lượng mưa giảm đi. Lượng mưa trung bình hàng năm ở Bergen là 1.930mm.

Vùng nội địa có khí hậu lục địa chiếm ưu thế. Mùa đông thường lạnh hơn và mùa hè ấm. Ở Oslo nhiệt độ trung bình vào tháng giêng là 5oC, hơi ấm hơn Bergen ; tuy nhiên vào tháng bảy nhiệt độ cao khoảng 28oC. Mưa thường ít hơn vùng duyên hải phía tây, trung bình 760mm /năm. Ở vùng cao nguyên phía bắc Na Uy có khí hậu cận cực, mặc dù vùng duyên hải có khí hậu ôn hoà hơn.

Na Uy đôi khi được gọi là “Vùng đất của mặt trời nửa đêm”. Một phần ba Na Uy nằm ở phía bắc của vòng cực Bắc, là nơi hầu như có ngày dài suốt từ tháng năm đến tháng bảy. Vào giữa mùa đông, ở các vùng phía bắc đêm kéo dài. Vẻ đẹp tuyệt vời của phong cảnh lúc đó đã tạo nguồn cảm hứng cho các tác phẩm âm nhạc, được sáng tác bởi các nhạc sĩ nổi tiếng như Edvard Grieg, người đã nắm bắt được sự thay đổi trạng thái tạo nên bởi sự luân phiên sáng tối của các mùa.

4. Sông ngòi Na Uy thường ngắn, nhiều thác ghềnh

ho bang, norway

Hồ băng miền núi Na Uy

Na Uy có nhiều sông ngòi và hồ. Sông lớn nhất của Na Uy là sông Glomma nằm ở phía đông dài 610m. Glomma và các nhánh của nó dẫn nước cho khoảng 1/8 diện tích Na Uy. Về phía tây các con sông thường ngắn và chảy xiết, có nhiều thác ghềnh. Sông dài nhất ở phía bắc Na Uy là sông Tana.

ca hoi, tanaSông Tana chảy vào biển Barents, hình thành một phần biên giới với Phần Lan, nổi tiếng là con sông quan trọng của Na Uy về việc đánh bắt cá hồi.

Ngoài ra còn sông Dramselv và Lagen. Na Uy có hàng ngàn hồ băng. Hồ lớn nhất là Mjosa nằm ở đông nam, diện tích 390km2.

5. Na Uy có nguồn tài nguyên rừng và sức nước phong phú

Mặc dù Na Uy có nhiều đồi núi làm cho diện tích đất canh tác bị hạn chế, nhưng chúng cung cấp hai nguồn năng lượng có giá trị _ rừng và sức nước. Tuy nhiên, rừng của Na Uy ít lan rộng như rừng của Thụy Điển và Phần Lan. Các khu rừng có năng suất cao của Na Uy chủ yếu nằm gần Oslo và Troheim.

  Rừng bao phủ hơn ¼ diện tích Na Uy, chủ yếu là rừng rụng lá được tìm thấy ở vùng duyên hải phía nam và tây nam Na Uy. Các loài cây chủ yếu là bu lô, tần bì, cây phỉ, cây du, cây thích, cây đoan( 1 cây chanh lá cam ) ; nhưng ở một số nơi khác người ta thấy các loại cây như sồi, thủy tùng, nhựa ruồi. Về phía đông và phía bắc, rừng có nhiều cây quả nón tăng trưởng chậm. Rừng cây quả nón phương bắc dầy đặc được tìm thấy ở vùng duyên hải và ở các thung lũng phía đông và trung tâm Na Uy. Trong các khu rừng này nổi bật là loài thông Scotch và vân sam Na Uy.

Ở phía bắc và các vùng núi cao là miền lãnh nguyên. Miền lãnh nguyên là miền không cây cối, chỉcó các loài thực vật như cây bụi thấp và hoa dại. Có khoảng 2.000 loài hoa dại khác nhau mọc ở Na Uy.

Các loài động vật như tuần lộc, cáo bắc cực, thỏ chó sói, bò xạ và chồn gu- lô rất phổ biến ở phía bắc và ở miền núi cao. Nai sừng tấm, nai, cáo, rái cá và chồn Marten được tìm thấy ở phía nam và đông nam. Phía nam có nhiều động vật ăn thịt như chó sói, gấu, đã bị săn bắn gần như tuyệt chủng. Các loài chim bị săn thịt như gà gô, phát triển mạnh ở miền núi và các thung lũng. Các loài chim di cư sống ở bờ biển phía bắc Na Uy. Cả cá nước ngọt và nước mặn đều có nhiều. Cá hồi, cá rô, cá chó, có nhiều ở các con suối và hồ. Cá trích, cá tuyết, cá bơn, cá êfin ( một loại cá tuyết ) cá thu và các loại cá biển khác.

suoi Kjosffossen

Thác, suối Kjosffossen

Điều kiện tự nhiên ở Na Uy tuyệt vời đối với sự phát triển thủy điện. Mưa nhiều và tuyết rơi ở miền núi cung cấp nước và sức nước chảy xiết biến đổi thành năng lượng thủy điện. Ví dụ điển hình như nhà máy thủy điện Lyse, là nơi thác cao 620m đổ vào turbin, có công suất 210.000 kw ; nhà máy thủy điện Tjodan thác cao 896m có công suất xuất 110.000kw. Cả hai nhà máy đều nằm ở vùng núi gần Lyse fiord . Trong thế kỷ XX người Na Uy đã khai thác nhiều con sông ở miền núi để sản xuất lượng thủy điện lớn cung cấp cho ngành công nghiệp hóa học và luyện kim. Sản lượng thủy điện của Na Uy tính trên mỗi đầu người nhiều hơn các quốc gia khác. Điều này giúp giải thích vì sao các xe lửa Na Uy chạy bằng điện và nhiều nhà ở Na Uy sưởi ấm bằng điện.

800px-Orland, Coastal lowland near the TrondheimsfjordNa Uy may mắn khi có nhiều năng lượng thủy điện nhưng lại thiếu than. Na Uy khai thác một ít than ở “Svalbard”. Svalbard là tên của quần đảo gồ ghề, lởm chởm đầy tuyết phủ nằm khoảng giữa đường từ phía bắc Na Uy tới Bắc Cực. Vì thế, việc khai thác các mỏ than ở vùng này rất khó khăn.

Khoáng sản chính của Na Uy là dầu mỏ và khí thiên nhiên, khai thác ở thềm lục địa. Các khoáng sản khác gồm quặng sắt, đồng, kẽm và than có trữ lượng không cao. Các quặng có giá trị thương mại cao như đá phấn, thạch anh, than chì, đá vôi cũng được khai thác ở Na Uy.

lang nong nghiep doc sogne fiord

Làng nông nghiệp dọc Sogne fjord. Hàng ngàn đảo và các fiord sâu, các eo biển kín không bị đóng băng mùa đông là nơi lý tưởng cho ngành hàng hải Na Uy

Tài nguyên đất nông nghiệp của Na Uy rất ít. Đất trồng thích hợp cho nông nghiệp của Na Uy bao phủ chỉ 3% diện tích và nằm chủ yếu ở vùng lân cận Trondheim và Oslo. Trong hàng thế kỷ, Na Uy đã thu hoạch nhiều nguồn lợi từ biển và ngành công nghiệp đánh cá vẫn là ngành đem lại sự trù phú chính cho Na Uy.

6. Dân cư, xã hội

Dân số Na Uy ước tính 4.630.000 người ( 2007 ), mật độ 15 người /km2. Sự phân bố dân cư không đều. Khoảng nửa dân số Na Uy sống ở đông nam và hơn ¾ dân số sống ở ven biển. Người Na Uy có nguồn gốc German khá thuần nhất. Ngoại trừ vài ngàn người Saami và những người có nguồn gốc Phần Lan ở phía bắc, quốc gia này không có các nhóm thiểu số lớn. Ngoài ra còn số ít người Mĩ, Britons, Chi Lê, Đan Mạch, Iran, Pakistan, Thụy Điển và Việt Nam.

Na Uy vẫn duy trì nền văn hoá dân gian phong phú có nguồn gốc Vikings. Na Uy cũng sản sinh những nhà thám hiểm nổi tiếng trên thế giới. Những nhà tiên phong như Fridtjof Nansen, là người đầu tiên đến Greenland năm 1888 và Roald Amundsen tới nam cực năm 1911.

II. HAI MIỀN ĐỊA HÌNH CHÍNH CỦA NA UY.

1. BỜ BIỂN NA UY

Na Uy có bờ biển dài và gồ ghề lởm chởm

Jostedalsbreen_jpg copy.jpg2Na Uy là quốc gia gần biển nhất trong số những quốc gia ở Scandinavia. Điều này có nghĩa là Na Uy có mối quan mật thiết nhất với biển. Nhìn trên bản đồ, ta thấy Na Uy có bờ biển dài và răng cưa. Chiều dài bờ biển khoảng 2.740km. Kể cả các đảo và lạch biển, bờ biển Na Uy trải rộng 21.930km. Nếu bờ biển này được kéo thẳng, nó sẽ trải rộng nửa vòng trái đất ở xích đạo. Không có phần nào ở Na Uy xa biển. Mặc dù Na Uy dài hơn 1600km, ở nhiều nơi nó chỉ rộng 40km. Nơi rộng nhất 438km. Nhiều bức hình cho thấy đồi núi của Na Uy thường ăn lan ra sát biển. Ở nhiều vùng phía bắc của Na Uy các thuyền đi dọc biển thường trông thấy các thung lũng sông băng. Băng hà này là mảng băng cuối cùng của mảng băng mà có thời bao phủ phía bắc châu Âu. Cũng như phía bắc Scotland, các mảng băng hà lớn đã bào mòn bề mặt đất chỉ để lại Na Uy một ít đất trồng.

narrow ,wild side Sogne fjord copy.jpg2Khi băng hà di chuyển từ từ ra biển, nó gọt đẽo các thung lũng núi. Các mảng băng lớn cọ xát vào thung lũng làm nó hơi rộng hơn và sâu hơn trước kia. Các thung lũng trở nên có hình chữ U với sườn rất dốc. Khi băng tan, nước biển tràn vào vùng thấp của thung lũng có vách đá dốc này khiến cho Na Uy nổi tiếng vì các fiord tuyệt đẹp. Các fiord đặc sắc nhất nằm ở phía tây, nơi đây sườn núi đổ dốc ra biển. Fiord dài nhất, sâu nhất là Sogne fiord dài 204 km, độ sâu tối đa đạt 1.308m. Cửa của Sogne fiord nằm ở phía bắc Bergen và nó trải dài đến tận thành phố Skjolden. Nhiều nơi, các vách đá từ biển nhô lên đột ngột cao 1.500m hay hơn nữa. Lyse fiord nằm ở phía tây nam Na Uy gần Stavanger cũng là fiord tuyệt đẹp. Cái tên của nó có nghĩa là “Fiord ánh sáng”, điều này xuất phát từ đá granit có màu sắc sáng dọc hai bờ. Lyse fiord thu hút nhiều du khách mỗi năm, họ thường từ cảng Stavanger đến bằng tàu thủy.

The Lysefjord  seen from Kjerag copyVì đáy của các fiord toàn đá và rất sâu nên thuyền bè thuờng gặp khó khăn trong việc thả neo. Tuy nhiên chúng có thể đi gần bờ mà không sợ bị mắc cạn. Nước bên trong các fiord thường yên tĩnh vì núi chung quanh che chắn khi có gió to. Nhiều fiord trông giống như con đường cụt vì nó kết thúc bởi một dãy núi. Do đó Na Uy có ít thành phố cảng lớn và quan trọng mặc dù các cảng đều tốt và an toàn. Vì nhiều fiord là một con đường cụt, chúng chỉ có một vài dòng biển. Kỳ lạ là cá không nhiều ở các fiord vì thiếu dòng biển đem đến cho chúng mồi ăn, nhưng ở vùng nước nông xa bờ biển cá rất nhiều.

Có hơn 150.000 đảo bảo vệ bờ biển và các lối vào fiord trước các cơn bão dữ dội quét qua Bắc Băng Dương, tạo thành các lạch biển nằm sâu trong lãnh thổ ; bên trong lạch là nơi mặt biển rất yên tỉnh. Các đảo này được mệnh danh là lá chắn bảo vệ ngầm. Quần đảo Lofoten và Vesteralen nằm ở tây bắc là đảo gần bờ lớn nhất của Na Uy. Các đảo này là các dãy núi lửa cổ xưa bị băng hà xói mòn ở đỉnh, ngày nay một phần bị chìm dưới biển.

Các làng đánh cá dọc theo các fiord

rainbow norway copyRải rác có các làng đánh cá bám vào vùng đất bằng phẳng ít ỏi dọc fiord. Các nhà nhỏ bằng gỗ ngăn nắp cho thấy cho thấy các người đánh cá đã sử dụng tốt gỗ rừng chung quanh. Vào ban đêm ánh sáng rực rỡ của đèn điện cũng cho thấy các dòng suối đổ từ núi xuống đã được sử dụng để phát điện. Từ những làng lớn nhỏ này, tàu khởi hành đi đánh cá ở những vùng nước ven bờ. Một số tàu lớn hơn đi tới tận các ngư trường ngoài khơi Iceland. Ngư dân từ khắp Na Uy tụ tập ở đảo Lofoten vào tháng hai, tháng ba để đánh cá tuyết.

mua danh ca lofoten 2001

Henningsver, làng đánh cá ở đảo Lofoten vào mùa đánh cá ( tháng 4/2001)

Việc đánh cá hồi đặc biệt quan trọng ở bờ biển phía nam. Các dòng biển nóng từ dòng Bắc Đại Tây Dương giúp các ngư dân trong việc săn bắt cá hồi vào tháng mười, tháng mười một. Dòng biển này giúp cho các cảng ở Na Uy không bị đóng băng trong suốt mùa đông dài. Dù các cảng thoát khỏi băng tuyết, chúng cũng không thoát khỏi sương mù. Sương mù làm cho việc đánh cá trở nên nguy hiểm. Không giống cá tuyết, được bắt ở đáy bằng lưới rà, cá hồi được bắt trên bề mặt. Ngư dân căng lưới vào buổi tối khi cá hồi trồi trên bề mặt nước. Lưới này gọi là lưới mạng, nó trông giống như cái màng ở trong nước và một số dài tới 2– 3 km. Sau khi đánh bắt xong, cá hồi được chuyển nhanh đến các nhà máy đóng cá hộp ở thành phố lớn. Nhà máy đóng cá hộp quan trọng ở thành phố Stavanger.

Việc săn bắt cá voi

whalesharkhunting2_jpg copyTrong khi một số cá voi vẫn còn bị săn bắt ở Đại Tây Dương và Bắc Băng Dương thì có nhiều cá voi dọc theo bờ lục địa Nam cực. Vào mùa thu mỗi năm, các đoàn săn bắt cá voi từ Na Uy đi đến phía nam. Một đoàn săn bắt cá voi sẽ bao gồm một chiếc thuyền lớn gọi là thuyền “Xí nghiệp” đi cùng với vài chiếc thuyền săn bắt cá nhỏ. Những thuyền này đến Nam Cực để bắt đầu mùa săn bắt cá vào ngày 1 tháng giêng. Các đoàn săn bắt từ Anh, Hà Lan, Nhật, Nga cũng tới đó.

Vào ngày khai mạc của mùa săn bắt cá voi, một chiếc trực thăng từ tàu “Xí nghiệp” bay trên đại dương và phi công sẽ gọi cho các tàu săn bắt cá khi thấy cá voi xuất hiện. Các tàu đánh cá nhanh, vững chắc được trang bị rất tốt. Một quan sát viên đứng trong một cái chòi trên cột buồm theo dõi hoạt động của cá voi. Khi tàu đến gần, họ bắn mũi lao bằng thép vào cá voi. Chất nổ hay dòng điện ở đầu mũi lao sẽ giết chết cá. Rồi các thuyền nhỏ kéo cá voi dọc theo tàu và bơm không khí vào thân cá voi để nó không bị chìm. Khi chiếc tàu “Xí nghiệp” đến gần, họ kéo cá voi lên đó. Tuy nhiên, nếu còn nhiều con cá voi để bắt, con cá voi chết sẽ được đánh dấu bằng một lá cờ và sẽ được thu lượm sau.

Khi cá voi được đưa lên boong tàu lớn, người ta bắt đầu xẻ nó ra. Boong tàu trở nên trơn trợt vì máu. Mùi hôi thối xông lên quanh tàu khi người ta nấu mỡ cá voi thành dầu cá voi. Phần lớn dầu cá voi được đưa đến châu Âu để chế biến thành các sản phẩm như margarine, xà bông, dầu nhờn. Mỗi tuần một lần, mỗi đoàn săn bắt cá voi phải gởi báo cáo về con số cá voi bắt được cho Ủy Ban săn bắt cá voi quốc tế. Điều này nhằm mục đích ngăn chặn việc đánh bắt một vài loại cá voi đang bị hủy diệt. Khi đến giới hạn này đoàn viễn chinh không được giết thêm cá voi nữa.

Nhiều người Na Uy là nông- ngư dân.

Flamsdalen valley, Kardal farm copyNhư ta đã thấy việc đánh bắt cá ở Na Uy thực hiện giữa tháng mười đến tháng ba. Vì thế ngư dân có thể làm nghề nông suốt mùa hè, những người này có nông trại nhỏ dọc các fiord. Nơi đây các dòng suối từ núi đổ xuống tạo thành một tam giác châu thích hợp cho nông nghiệp.

Na Uy có rất ít đất bằng phẳng cho nông nghiệp. Thật vậy, chỉ 3% diện tích Na Uy được canh tác. Bản đồ cũng cho ta thấy phần lớn đất bằng phẳng nằm ở đông nam, quanh Oslo. Cũng có một số đất bằng phẳng nằm dọc fiord gần Trondheim. Đa số dân chúng Na Uy sống ở phía nam Trondheim.

Các vụ mùa của Na Uy trồng phải thích hợp với khí hậu. Dù khoai tây không được trồng trên diện rộng, nhưng chúng rất cần thiết. Yến mạch là vụ mùa quan trọng nhất. Yến mạch có thể chịu đựng được sự ẩm ướt của các vùng nông nghiệp ven biển. Lúa mạch cũng quan trọng do nó có thể chín trong suốt mùa trồng tỉa ngắn ngủi ở vùng lãnh thổ phía bắc. Lúa mạch đen được trồng ở nơi có lớp đất mỏng và nhiều sỏi đá. Lúa mì chỉ được trồng ở vùng lân cận quanh Oslo, là nơi đất tốt và mưa ít hơn các vùng khác của Na Uy.

nong nghiep Na UyKhi các vụ mùa ngũ cốc không có thời gian để chín, chúng được cắt lúc còn xanh và phơi khô. Cỏ mọc ở sườn núi thấp và thoải cũng được cắt phơi khô. Vì khí hậu ẩm ướt cỏ không được phơi trên mặt đất, người ta đặt chúng trên sào hay trên dây. Cỏ khô dùng để nuôi gia súc trong suốt mùa đông. Cuối mùa đông, đàn bò ở Na Uy cũng trở nên quen ăn cá vì khi đó cỏ khô ít và cá dư thừa. Vào mùa hè, cừu, dê được đưa tới đồng cỏ trên núi cao trông ra các fiord. Các đồng cỏ này gọi là Saeters. Trẻ em Na Uy đôi khi sống ở các cabin trên các Saeters suốt mùa hè để trông nom các con thú. Trong khi cừu, dê gặm cỏ trên các đồng cỏ miền núi, số đất nông nghiệp ít ỏi bên dưới chuẩn bị vụ mùa.

saester, norway

Lớp đất nhiều sỏi đá trên Saeter ( đồng cỏ) sườn núi Na Uy và các cabin, nơi ở của trẻ chăn bò.

Na Uy phải nhập khẩu một số thực phẩm. May mắn là Na Uy có thể đáp ứng được nhu cầu của dân chúng về sản phẩm sữa, và có nhiều cá, mỡ cá voi. Những sản phẩm sữa này giúp Na Uy trao đổi các thực phẩm phải nhập khẩu như lúa mì, bắp, đường, cà phê.

 

 

 

 

Các thành phố và hải cảng của Na-Uy

Oslo : Thủ đô và cảng chính

Oslo port

Cảng Oslo, Na Uy

Oslo là thành phố lớn nhất trong các thành phố của Na Uy với dân số 536.209 người ( 2005). Oslo nằm ở đầu vịnh dài Oslo, phía nam Na Uy, đối mặt với fiord và bao quanh ba mặt là rừng. Nó là một thí dụ điển hình về phong cảnh đẹp của Na Uy. Tuy nhiên, Oslo dường như ít giống thủ đô của một quốc gia mà giống nhiều với một thành phố trù phú. Đồi núi dày đặc rừng cây đã che dấu rằng đó là nơi cư trú của hơn nửa triệu người. Năm ba thành phố nằm gần và dọc fiord đã làm vùng này thành vùng đông dân nhất của quốc gia.

Oslo là một trong những thủ đô cổ nhất của Scandinavia. Vào Chiến tranh thế giới thứ hai Oslo chỉ rộng 280km2. Ngày nay Oslo phát triển một cách đáng ngạc nhiên, diện tích 454 km². Nhiều nhà hàng, các câu lạc bộ đêm, các khu buôn bán sầm uất đựơc mở ra. Asker Brygge – vùng lân cận mới nhất của Oslo nằm ở cửa Oslo fiord – xưa kia là một cảng cũ, ngày nay nhiều nhà máy nhiên liệu, thủy tinh, thép mọc lên ở khu vực đổ nát này cùng với căn hộ của những người giàu có.

Oslo là trung tâm thương mại và công nghiệp của Na Uy. Với vị trí ở đầu fiord và gần những khu rừng phong phú, Oslo rất quan trọng đối với việc chuyên chở bột giấy và giấy bằng thuyền. Dọc biển bạn có thể thấy các cần cẩu bốc dỡ các kiện bột giấy xuống tàu. Ở đuôi các tàu này bạn có thể trông thấy cờ của đội thương thuyền lớn của Na Uy. Các ngành công nghiệp chính của Oslo là đóng tàu, điện, thiết bị điện tử, hóa chất, vải, thực phẩm chế biến, gỗ, máy móc. Ngành du lịch cũng quan trọng đối với nền kinh tế thành phố.

Oslo còn là trung tâm văn hoá của Na Uy. Mặc dù thành phố có nhiều lâu đài nhà thờ và viện bảo tàng, điểm nổi bật của Oslo là cảnh đẹp thiên nhiên. vào mùa hè bạn có thể đi bộ đường trường vào rừng hay dùng phà đi dọc các fiord. Mùa đông bạn có thể trượt tuyết ngang qua lãnh thổ hay xem trượt ski xuống các vùng đất dốc. Oslomarka là khu rừng lớn nhất được sử dụng quanh năm bởi hàng ngàn người trượt tuyết và đi bộ đường trường. Và nếu bạn có thì giờ, bất kỳ lúc nào bạn thăm viếng thành phố trong năm bạn sẽ có niềm vui đơn giản là dạo chơi thành phố, đến thăm kiến trúc nổi bật của Na Uy như lâu đài và cũng là pháo đài Akersus do Haakoon V xây dựng vào năm 1300, là dinh thự Hoàng gia trong vài thế kỷ ; hoặc thăm Cung điện Hoàng gia, các bảo tàng phong phú của Na Uy, trụ sở của tổ chức Nobel và công viên Vigeland Sculture – nơi trưng bày các kiệt tác của Gustav Vigel.

Thành phố cảng Bergen :

View of Bergen from the Rundemanen mountain copyBergen là một thành phố cảng nằm ở phía tây nam Na Uy dọc các lạch Biển Bắc Hải. Do ở vị trí thung lũng dưới bảy ngọn núi, Bergen là một trong những thành phố có nhiều phong cảnh đẹp nhất Na Uy với các toà nhà lịch sử. Du khách đến Bergen thường thích thú tham quan nhà thờ St Mary là kiến trúc cổ nhất thành phố, được xây dựng vào thế kỷ XII. Họ cũng thích thăm viếng pháo đài cổ Bergenhus, là nơi có nhiều kiến trúc hấp dẫn như khách sảnh Hoàng gia Haakon từ thế kỷ XIII ; tháp Rosenkranz thế kỷ XVI ; tượng của Edvard Grieg – nhà soạn nhạc nổi tiếng sinh ra ở đây – được đặt ở công viên thành phố. Năm 1979, cảng cổ Bryggen của Bergen đã được UNESCO xếp vào danh sách di sản văn hóa thế giới.

Bergen chuyên về nghề đánh cá, đóng tàu, luyện nhôm, sản xuất thép, thực phẩm chế biến, gỗ. Vào thời Trung cổ Bergen là kinh đô của các vị vua, cũng như là một trong những điểm xuất phát của cướp Vikings dọc ngang vùng Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải. Thậm chí sau khi Oslo nổi bật là thủ đô của Na Uy, Bergen vẫn duy trì địa vị một cảng quan trọng.

Bergen và Oslo nối liền với nhau bởi một đường xe lửa. Đường xe lửa này cho thấy sự khó khăn trong việc giao thông bằng đường bộ ở Na Uy. Mặc dù hai thành phố Oslo và Bergen chỉ cách nhau khoãng 300km đường hàng không, xe lửa phải vượt qua khoảng cách 640km, do nó phải đi vòng qua nhiều khúc quanh và qua nhiều đường hầm. Đỉnh Floyen, một trong những đỉnh núi bao quanh thành phố Bergen có đường sắt leo núi với dây cáp kéo các toa. Từ xe lửa bạn có thể ngắm phong cảnh thiên nhiên đẹp tuyệt vời của vùng núi Bergen. Bạn cũng có thể du hành từ Bergen tới các Mũi Bắc ( North Cape) xa xôi bằng ô tô. Tuy nhiên, đường xá thường bị ngắt quãng bởi các fiord. Ở đây, ô tô phải xuống phà để tiếp tục qua bờ khác của fiord.

Tuy nhiên, đường thủy ven biển được cải tiến tốt. Các tàu chở khách qua lại mỗi ngày ở các thành phố ven biển. Thủy phi cơ cũng được sử dụng nhiều. Du khách các nơi trên thế giới thường thích tham gia vào cuộc du lịch tới Vòng cực Bắc để xem mặt trời nửa đêm và bờ biển dọc theo các fiord xinh đẹp. Họ cũng thích sự hiếu khách của người Na Uy.

Thành phố cảng Trondheim :

Trondheim là một thành phố cảng ở trung tâm Na Uy, bên Trondheim fiord. Nó là một trong những thành phố lớn nhất nước và là trung tâm thương mại đối với các vùng nông nghiệp chung quanh. Các ngành công nghiệp chính của thành phố Trondheim là đóng tàu, luyện kim, sản xuất thực phẩm chế biến và vải.

Trondheim được xây dựng bởi vua Vikings Olaf Tryggvason năm 997 sau Công nguyên và được đặt tên là Nidaros. Nó là thủ đô của Na Uy cho đến năm 1380. Nhà thờ Nidaros thế kỷ XI, xây dựng bên lăng của vua Olaf II được xem là một trong những nhà thờ đẹp nhất Scandianvia và là nơi tổ chức lễ lên ngôi của các vị vua Na Uy.

Leif Ericson ( con trai của Eric the Red ), cận vệ của vua Olaf sống ở Trondheim khoảng năm 1000 sau Công nguyên. Tượng của Leif Ericson do “Hội Leif Ericson” ở Seattle ( Mĩ ) tặng Na Uy, nằm ở bờ biển. Pho tượng này là bản sao giống với pho tượng gốc ở bến du thuyền Seattle .

2. MIỀN NÚI NA UY

Dãy Scandinavia bao phủ phần lớn lãnh thổ

Finnmarksvidda cao nguyen bac Norway

Finnmarksvidda, cao nguyên trống trải, giá lạnh, hoang vắng phía bắc Na Uy .

Núi bao phủ ba phần năm diện tích Na Uy và trải rộng hầu như toàn bộ chiều dài lãnh thổ. Chạy xuyên qua bán đảo Scandinavia là dãy núi Scandinavia (hay dãy Kolen hay Fjallen). Do bị băng hà bào mòn, sườn núi phía đông hướng về phía Thụy Điển thoai thoải và sườn phía tây dốc đứng về phía Biển Bắc Hải. Phía bắc Na Uy là vùng rộng lớn của các fiord, núi và đảo. Phần cực bắc của vùng này cửa của các fiord hướng về phía Bắc Băng Dương. Từ đầu fiord địa hình nhô cao dần tới cao nguyên Finnmarksvidda. Đó là một cao nguyên trống trải, giá lạnh và hoang vắng. Ở trung tâm Na Uy các thung lũng thấp, bằng phẳng quanh thành phố Trondheim. Đó là một trong số những vùng nông nghiệp quan trọng nhất nước. Trung tâm vùng này là Trondheim fiord rộng lớn. Vùng biển bên trong fiord này được che chở bởi các bán đảo và đảo.

Galdhopiggen mountain

Dãy Jotunheimen chiếm diện tích 3.500 km2, đỉnh cao nhất của nó là Galdhopiggen 2.469m

Về phía nam núi lại nhô cao. Nơi đây địa hình Na Uy mở rộng và được chia làm hai dãy Dovrefjell và Jotunheimen. Dãy Dovrefjell nằm ngay phía nam của Trondheim. Dãy núi giống cao nguyên này dài từ đông sang tây 105km và từ bắc xuống nam là 80km, phân chia nam Na Uy và bắc Na Uy. Dovrefjell hình thành một cao nguyên có độ cao trung bình từ 1200 tới 1500 m. Cao nguyên bị băng hà cắt thành các thung lũng sâu vào thời kỳ băng hà Pleistocene. Trên cao nguyên bị xói mòn này là nhiều đỉnh cao. Đỉnh cao nhất đạt tới 2.300m. Từ Dovrefjell sông Glomma, sông lớn nhất của Na Uy chảy thẳng về phía nam, đổ vào vịnh Skagerrak ở thành phố Fredrikstad sau một đoạn đường dài 610 km. Sự giao thông trên sông Glomma chỉ có thể thực hiện được từ cửa sông tới một ngọn thác 16km và rồi 32 km nữa tới thác thứ hai. Sông Rauma cũng bắt nguồn từ Dovrefjell chảy về phía bắc và phía tây. Ở các sườn núi thấp của nó là rừng bu lô và trên cao nguyên là khu vực của cây liễu lùn của vùng băng giá. Nơi đây ta có thể trông thấy thực vật vùng cực ở các đỉnh núi và cao nguyên cao. Dovrefjell là khu vực khô nhất của Scandinavia, hàng năm lượng mưa trung bình 300mm. Do mưa ít, vùng này không có băng hà. Có ít người cư trú ở Dovrefjell, chỉ có vài thành phố nhỏ ở các thung lũng.

Briksdalsbreen, one of the arms of Jostedalsbreen, the largest glacier on the European mainland. The largest glaciers in Norway are on Svalbard copyDãy Jotunheimen chiếm diện tích 3.500 km2, đỉnh cao nhất của nó là Galdhopiggen 2.469m. Năm 1980, 1.145 km2 của vùng Jotunheimen đã được qui định là Công viên quốc gia. Phía tây của đỉnh này là băng hà lớn nhất châu Âu, băng hà Jostedalsbreen, dài 97 km và rộng 24km. Xa hơn về phía nam, dãy Jotunheimen ngăn cách các thung lũng màu mỡ phía đông Na Uy và vùng đất gồ ghề lởm chởm của các fiord phía tây. Các sườn núi thoải ở phía đông, là những vùng nông nghiệp trù phú và là nơi tập trung dân cư đông đúc. Hơn nửa dân số Na Uy sống ở vùng này .

III. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ

Trước thế kỷ XX, phần lớn người Na Uy kiếm sống bằng nghề nông, nghề rừng hay nghề đánh cá. Trong suốt thế kỷ XX, Na Uy được công nghiệp hóa nhanh. Cho đến thập niên 1970, sự phát triển công nghiệp đều dựa chủ yếu vào việc khai thác sức nước và các nguyên vật liệu cung cấp bởi ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và từ biển. Vào thập niên 1970, việc khai thác dầu mỏ và khí thiên nhiên ở Bắc Hải phát triển nhanh chóng, cung cấp nguồn năng lượng mới có giá trị cho sự phát triển công nghiệp. Nền kinh tế Na Uy kể từ đó phát triển độc lập nhờ vào việc sản xuất dầu mỏ và khí thiên nhiên ; và phải chịu sự dao động của giá dầu thế giới.

Mức sống của Na Uy đã gia tăng kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Thuế cũng gia tăng. Người Na Uy phải chi trả trực tiếp hay gián tiếp khoảng nửa lợi tức của họ cho chính phủ, khiến Na Uy nằm trong số nước có thuế cao nhất châu Âu. Cùng lúc đó, sự phồn vinh của đất nước tăng lên nhờ sự phát hiện dầu mỏ và khí thiên nhiên, đã cho phép quốc gia này mở rộng hệ thống phúc lợi xã hội. Ngày nay, Na Uy là một trong số các nước có mức sống cao nhất thế giới; ước tính tổng sản phẩm quốc nội ( GDP ) trên đầu người của Na Uy vào năm 2005 là 63.918,1 USD. Năm 2005 tổng sản phẩm quốc nội của Na Uy là 295,5 tỉ USD (2005). Na Uy dựa nhiều vào ngoại thương và vì vậy là nước tán thành mậu dịch tự do. Tuy nhiên, Na Uy biểu lộ không sẵn lòng vượt mọi khó khăn để hợp tác với các nước khác. Một phần của thái độ này xuất phát từ sự mong muốn bảo vệ thể chế dân chủ xã hội của Na Uy cũng như qui mô nhỏ của các hoạt động nông nghiệp và ngư nghiệp. Na Uy là thành viên của Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu ( EFTA ). Nhưng Na Uy chưa trở thành thành viên của Liên minh châu Âu ( EU ).

– Vai trò của nhà nước đối với kinh tế : Nền kinh tế Na Uy là sự hỗn hợp các hoạt động kinh doanh của nhà nước và tư nhân. Mặc dù nền kinh tế dựa vào nguyên tắc thị trường tự do, chính phủ là người trông nom và điều khiển. Nhà nước quản lý đường xe lửa và những ngành phục vụ công cộng. Các hoạt động kinh tế do nhà nước điều khiển rất rộng lớn như lãnh vực khai thác dầu mỏ và khí thiên nhiên. Tuy nhiên, ngành công nghiệp cá thể được tự do về nhiều lãnh vực khác nhau, như thủy điện. Nhà nước cũng điều khiển việc đầu tư vào một số công ty tư nhân, gồm Norsk Hydro, công ty sản xuất dầu mỏ và khí metal hàng đầu. Các ngành công nghiệp khác hoàn toàn do tư nhân làm chủ.

Chính phủ Na Uy cũng ủng hộ tích cực sự phát triển công nghiệp trong nước. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai nhà nước đóng vai trò hàng đầu trong việc thúc đẩy việc xây dựng các trung tâm năng lượng và nhà máy công nghiệp. Tỉ lệ đầu tư trong trong nước vẫn ở mức một trong các nước cao nhất thế giới. Nhà nước hoạt động trên lãnh vực ngân hàng, tài chính cho vay đối với các ngành công nghiệp. Ngoài ra, khoảng 2% tổng sản phẩm quốc nội của Na Uy đuợc đầu tư vào việc nghiên cứu và phát triển để thúc đẩy ngành công nghiệp mới và công nghiệp chế biến trong lãnh vực công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, luyện kim và các lãnh vực khác.

– Lực lượng lao động : Năm 2005 Na Uy có 2.524.817 lao động có việc làm. Lực lượng lao động được phân phối trong số các lãnh vực kinh tế khác nhau như sau : dịch vụ 76% ; công nghiệp 21% ; nông nghiệp, lâm nghiệp ; ngư nghiệp 3%. Lực lượng lao động của Na Uy được tổ chức tốt ; khoảng 2/3 lực lượng lao động bị buộc vào các hiệp hội. Hiệp hội thương mại Na Uy gồm 28 hiệp hội quốc gia với tổng số 780.000 thành viên. Liên hiệp hợp tác xã và Hội buôn bán sỉ có 570.000 thành viên. Tỉ lệ người thất nghiệp ở Na Uy thấp (4,4% vào năm 2004) so với các thành viên khác của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).

– Nông nghiệp : Nông nghiệp chỉ đóng góp 2% trong tổng sản phẩm quốc nội hàng năm. Do địa hình Na Uy chủ yếu là đồi núi, đất trồng thường nghèo nàn, chỉ 3% diện tích đất đai Na Uy được canh tác. Vùng nông nghiệp quan trọng nhất là các thung lũng phía đông nằm ở bắc Oslo và các vùng quanh Trondheim. Đa số các nông trại thì nhỏ và được canh tác bởi các thành viên của gia đình. Mặc dù điều kiện khó khăn, nông dân vẫn đạt sản lượng cao nhờ cơ giới hoá và sử dụng phân bón rộng rãi. Một số đất nông nghiệp dốc đến nổi mà máy cày không sử dụng được và nông dân phải dùng sức để kéo cày.

Sản phẩm nông nghiệp quan trọng nhất của Na Uy là sản phẩm sữa và ngũ cốc. Hơn phân nửa diện tích đất đai được canh tác là đồng cỏ, phần lớn người ta trồng cỏ khô. Các vụ mùa quan trọng là yến mạch, khoai tây, lúa mạch và bắp. Na Uy phải nhập khẩu khoảng nửa nhu cầu ngũ cốc cần thiết cho gia súc. Gia súc được nuôi chủ yếu là bò, heo, cừu, gà vịt. Na Uy sản xuất toàn bộ sản phẩm sữa, thịt, rau và trái cây cần thiết.

– Lâm nghiệp : Công nghiệp rừng của Na Uy đóng góp tỉ lệ khá nhỏ vào tổng sản phẩm quốc nội hàng năm ở Na Uy. Hơn ¼ diện tích Na Uy là rừng, trong đó vùng rừng rậm phía đông, nằm ở phía bắc Oslo là nơi phần lớn gỗ bị khai thác. Năm 2005 sản lượng gỗ đạt 9.7 triệu m3, phần lớn là thông và vân sam. Công việc khai thác rừng theo mùa và thường kéo dài từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau. Hai phần ba rừng là do tư nhân làm chủ, nhưng toàn bộ rừng hoạt động dưới sự giám sát của nhà nước. Chính phủ trợ cấp việc trồng các cây mới.

– Ngư nghiệp : Nguồn lợi quan trọng của Na Uy là công nghiệp đánh cá. Na Uy là một trong những nước đứng hàng đầu về công nghiệp đánh cá, đóng góp khoảng 3% sản lượng cá toàn thế giới. Các hạm đội đánh cá lớn của Na Uy đã mở rộng vùng đánh bắt tới tận bờ Newfoundland và Labrado ở Canada. Từ đầu thập niên 1970, chính phủ đã giúp tài trợ việc phát triển nông – ngư nghiệp (đặc biệt là việc đánh bắt cá hồi ở sông và biển ). Toàn bộ sản lượng cá biển năm 2004 đạt 3,2 triệu tấn. Các loại cá quan trọng được đánh bắt là cá ốt, cá trích, cá thu, lươn, cá pôlắc, cá hồi, tôm.

Na Uy đã tạm ngưng việc đánh bắt cá voi từ năm 1988, theo yêu cầu của Ủy Ban đánh bắt cá voi quốc tế ( International Whaling Commission – IWC ). Tuy nhiên, năm 1993, Na Uy lại tiếp tục việc săn bắn cá voi vì mục đích thương mại. Là thành viên của Ủy ban săn bắt cá voi quốc tế nhưng Na Uy đã kiên quyết chống lại lệnh cấm tàn sát cá voi. Ngày nay chính quyền Na Uy đã đề ra chỉ tiêu về số cá voi có thể săn căn cứ vào số lượng cá ở biển.

– Khai thác khoáng sản : Trước khi việc khai thác dầu mỏ và khí đốt ở biển Bắc Hải bắt đầu vào thập niên 1970, việc khai thác khoáng sản ở Na Uy không quan trọng lắm và quốc gia này phải nhập khẩu phần lớn nguyên vật liệu. Ngày nay, lĩnh vực này đóng góp khoảng 1/8 tổng sản phẩm quốc nội của Na Uy .

Năm 1975 Na Uy sản xuất đủ dầu mỏ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu lượng lớn sang châu Âu. Năm 2004, lượng dầu thô sản xuất được là 1,04 tỉ thùng. Ngày nay Na Uy là nước đứng hàng thứ ba trên thế giới về xuất khẩu dầu mỏ, sau Saudi Arabia, Nga và là một trong những nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu khí thiên nhiên ( năm 2004, xuất khẩu dầu và khí đốt chiếm 50% hàng xuất khẩu của Na Uy).

Các khoáng sản khác của Na Uy là sắt, chì, titan, py rít, than, kẽm và đồng. Mỏ sắt lớn nhất nằm ở Sydvaranger, gần biên giới với Nga. Than được khai thác ở quần đảo Svalbard.

dao Svalbard

Quần đảo Svalbard.

– Ngành công nghiệp : Ngành công nghiệp đóng góp 11% tổng sản phẩm quốc nội mỗi năm. Công nghiệp điện hóa học và luyện kim điện hình thành lãnh vực công nghiệp quan trọng. Những ngành này cần nhiều năng lượng điện rẻ tiền. Nhờ thủy điện Na Uy để có thể đáp ứng được cho nhu cầu của nó. Dù nguyên liệu cho nhôm – một trong những sản phẩm chính của công nghiệp luyện kim điện – phải nhập khẩu, Na Uy vẫn sản xuất khoảng 4% nhôm tinh luyện của thế giới. Na Uy cũng là nước sản xuất hợp kim sắt quan trọng. Một sản phẩm chính của công nghiệp điện hóa học là phân nitơ, sản xuất từ nitơ chiết xuất từ không khí và dùng một lượng lớn điện.

Na Uy xưa kia là quốc gia chuyên về nghề đóng tàu. Từ giữa thập niên 1980, ngành đóng tàu của Na Uy đã suy thoái, chỉ còn ít hơn 1%. Các ngành công nghiệp chế biến khác là chế biến cá, hoá chất, giấy, máy móc, hàng điện tử. Na Uy cũng có một số nhà máy lọc dầu và nhà máy sắt thép ở Mo i Rana, nằm gần Vòng cực Bắc. Khoảng nửa hoạt động công nghiệp của Na Uy diễn ra quanh Oslo. Tuy nhiên, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nằm ở nhiều vùng, đặc biệt là dọc biển. Các nhà máy thường nhỏ và chỉ có vài nhà máy thuê mướn hơn 500 người.

– Công nghiệp dịch vụ : Dịch vụ đóng góp 59% vào tổng sản phẩm quốc nội hàng năm của Na Uy. Dịch vụ bao gồm các lãnh vực kinh tế rộng rãi : quản lý công cộng, dịch vụ ngân hàng và tài chính, buôn bán sỉ và lẻ …

Vào cuối thế kỷ XX, công nghiệp du lịch phát triển mạnh. Phần lớn du khách của Na Uy đến từ Mĩ và châu Âu. Mùa hè là lúc ngày kéo dài và khí hậu dễ chịu, các cảng biển của Na Uy đầy ắp du khách, họ thường đến Na Uy bằng tàu thủy hay bằng phà. Một số du khách đến Na Uy để thăm viếng các di tích lịch sử, bao gồm Viện bảo tàng Vikings và các nhà thờ thời Trung cổ. Các địa điểm trượt tuyết của Na Uy cũng hấp dẫn hàng ngàn du khách vào mùa đông.

– Ngành ngoại thương : Kể từ thập niên 1970, ngành ngoại thương của Na Uy thay đổi nhanh chóng nhờ vào dầu mỏ và khí thiên nhiên khám phá ở biển Bắc Hải. Ngày nay, Na Uy là nước xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt lớn nhất châu Âu, đóng góp khoảng 1/2 hàng xuất khầu mỗi năm. Các mặt hàng xuất khẩu khác gồm chủ yếu là nhôm, hoá chất, thực phẩm chế biến, đặc biệt là cá. Năm 2004 xuất khẩu đạt 80,5 tỉ USD. Các nước mua hàng xuất khẩu chính của Na Uy là Mĩ, Đức, Hà Lan, Pháp, Thụy Điển, Anh. Các hàng nhập khẩu hàng đầu là máy móc, thiết bị giao thông, vải, đồ phụ tùng, sắt thép và quặng kim loại. Hàng nhập khẩu được đánh giá khoảng 47,4 tỉ USD. Các nước cung cấp hàng chính cho Na Uy là Thụy Điển, Đức, Anh, Đan Mạch, Hà Lan, Pháp, Mĩ.

– Công nghiệp năng lượng : Na Uy có nguồn năng lượng thủy điện phong phú hơn các quốc gia ở châu Âu. Từ đầu thế kỷ XX, nguồn năng lượng này bắt đầu phát triển và khoảng năm 1960, Na Uy xuất khẩu thủy điện sang Thụy Điển. Ngày nay, toàn bộ nhu cầu năng lượng của Na Uy thủy điện chiếm hết ¾. Năm 2003 sản lượng điện của Na Uy là 106 tỉ kilowa

 

* Yêu cầu các bạn tham khảo bài viết nếu có copy nên trích dẫn nguồn www.cacnuocchauau.com/home. Đề tài này đã đăng ký ở Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, đã được Hội đồng khoa học thẩm định tháng 9/2006, xin đừng dùng nó lập website riêng, cướp công sức người khác, người tự trọng không làm vậy. Mỗi bài tác giả phải mất công sức dịch rất lâu, sắp xếp bố cục, lựa chọn hình ảnh thích hợp với nội dung, với tâm huyết yêu nghề  tác giả mong muốn đóng góp chút công sức biên soạn nó  dành cho các bạn yêu thích bộ môn địa lý, dùng để giảng dạy, tham khảo.