27. LIÊN BANG NGA

Diện tích: 17.075.000 km2 – Dân số: 141.400.000 (2007)- Thủ đô : Moscow

LIEN BANG NGA MAP(1)(1) copy

1. Nga là một quốc gia rộng lớn nhất thế giới trải dài từ Đông Âu qua Bắc Á, sang đến bờ Thái Bình Dương.

Nga có diện tích xấp xỉ Hoa Kỳ và Trung Quốc cộng lại. Dân số đứng hàng thứ tám trên thế giới sau Trung Quốc, An Độ, Hoa Kỳ, Indonesia, Brazil, Pakistan và Bangladesh. Nga giáp 14 quốc gia là Na Uy, Phần Lan, Estonia, Latvia, Lithuania, Ba Lan, Belarus, Ukraine, Georgia, Azerbaijan, Kazakhstan, Trung Quốc, Mông Cổ, Bắc Triều Tiên. Nga có đường bờ biển dài 37.000km dọc theo Bắc Băng Dương và Thái Bình Dương cũng như dọc theo các Biển Đen và biển Caspian. Do phần lớn các biển thường bị đóng băng nhiều tháng trong năm nên Nga ít có các cảng tốt.

Từ năm 1922 đến năm 1991, Nga là một phần của Liên bang Xô Viết. Liên bang Xô Viết có 15 nước cộng hoà hay 15 bang. Nga là một nước cộng hoà lớn nhất và mạnh nhất với tên chính thức là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga. Cuối năm 1991 khi Liên Xô tan rã, Nga và các nước cộng hoà khác trở nên những nước độc lập. Hiện nay, trừ ba nước Estonia, Latvia, và Lithuania ; Nga và 12 nước nhỏ khác hình thành một khối gọi là Cộng đồng các quốc gia độc lập. Nga có chân trong Liên Hiệp Quốc và là quốc gia kế thừa của Liên Xô cũ trong các vấn đề ngoại giao.

2. Địa hình nước Nga khá đơn giản

MAP NGA2 copy

Nga có thể được chia thành ba khu vực rộng lớn :

– Đồng bằng Nga Âu (vùng trung tâm Nga ) gồm lãnh thổ nằm ở phía tây dãy Ural.

– Siberia từ dãy Ural trải rộng về phía đông hầu như đến tận Thái Bình Dương.

– Hệ thống núi phía nam và phía đông, bao gồm cực đông nam và chuỗi đồng bằng duyên hải hẹp ( vùng Tiền đồn phía đông và Viễn đông ).

Phần chính của lãnh thổ nằm ở phía bắc của vĩ tuyến 50o Bắc, và diện tích khá lớn nằm ở phía bắc của đường vòng cực. Do đó bên trong vùng ôn đới và vùng cực, khí hậu và thực vật rất phong phú. Do quy mô lãnh thổ rộng lớn nên quần xã sinh vật của Nga rất đa dạng gồm : miền lãnh nguyên ở vùng địa cực, rừng taiga ở vùng cận cực, hoang mạc ở trung tâm Nga Á , và miền thảo nguyên ở phía nam.

3. Đại bộ phận lãnh thổ Nga có khí hậu lục địa khắc nghiệt.

Đại bộ phận Nga có khí hậu lục địa khắc nghiệt do ảnh hưởng vĩ độ cao và diện tích rộng lớn nên thiếu sự điều hoà của biển. Mùa đông thường kéo dài và rất lạnh, mùa hạ ngắn và khá nóng. Vùng núi cao dọc biên giới phía nam đã ngăn chặn sự xâm nhập của khối khí ẩm nhiệt đới từ phía nam lên. Ở phía bắc, Bắc Băng Dương bị đóng băng ngay gần bờ trong suốt mùa đông dài đã ngăn ảnh hưởng tích cực của dòng biển ấm. Do Nga nằm ở vành đai gió tây của bán cầu bắc, nên tác động của các khối khí ấm từ Thái Bình Dương không tiến sâu vào nội địa phía đông. Đặc biệt về mùa đông, khi đó khí áp cao tập trung ở Mông Cổ lan sang phần lớn Siberia và miền Viễn Đông. Anh hưởng của biển vì vậy đều từ Đại Tây Dương ở phía tây. Tuy nhiên, khi khối khí Đại Tây Dương tới Nga nó đã ngang qua toàn bộ phần phía tây của châu Âu và đã có sự biến đổi lớn. Nó thâm nhập dễ dàng nhất vào mùa hạ, khi áp thấp hiện diện phần lớn lãnh thổ. Khối khí ẩm, ấm áp Đại Tây Dương có thể tràn về phía đông vào trung tâm Siberia, do vậy phần lớn lãnh thổ nhận khá nhiều mưa vào mùa hè. Đây là điều may mắn đối với nông nghiệp, vì phần lớn các vùng nông nghiệp tốt đều nằm ở vùng khí hậu lục địa ẩm ướt. Tuy nhiên, ở một số vùng sự phân bố mưa mùa hè không thuận lợi. Đầu mùa hạ thường khô hạn, trong khi giữa và cuối các tháng mùa hạ có thể có nhiều mưa và mây cản trở việc thu hoạch vụ mùa. Điều này xảy ra ở miền Viễn Đông, nơi gió mùa mang không khí Thái Bình Dương vào suốt giữa và cuối mùa hạ.

Do khí hậu Nga chủ yếu là khí hậu lục địa. Nhiệt độ mùa đông lạnh nhất diễn ra ở đông Siberia. Verkhoyansk ở đông bắc Siberia thường được gọi là “cực lạnh của thế giới“. Suốt tháng giêng, nhiệt độ trung bình – 48,9oC và đạt tối đa là – 67,8oC. Ở phía tây có khí hậu ôn hoà do ảnh hưởng Đại Tây Dương. Tuy nhiên, dọc Bắc Băng Dương và Thái Bình Dương nhiệt độ cao hơn ; ví dụ : Vladivostok, bên bờ Thái Bình Dương có nhiệt độ trung bình vào tháng giêng là -14, 4 oC ; tháng bảy là 18,3oC.

CAC MIEN KHI HAU NGA2 copy

Quốc gia rộng lớn nầy có nhiều vùng khí hậu khác nhau. Bạn có thể trông thấy trên bản đồ khí hậu, các miền khí hậu trải thành những vành đai dài rộng từ tây sang đông:

– Dọc bờ Bắc Băng Dương là khí hậu vùng địa cực, vùng này trải rộng về vùng cực đông trên các sườn núi.

– Phía nam của vùng nầy là vành đai rộng của khí hậu cận cực. Phía tây vành đai này tiến hầu như tận đến gần thành phố St. Perterburg, sau đó nó mở rộng về phía đông của Ural để bao phủ phần lớn Siberia và Viễn Đông Nga.

– Phần lớn Nga Âu có khí hậu lục địa ẩm ướt. Vành đai này rộng nhất ở phía tây ; trải dài từ biển Baltic tới Biển Đen, sau đó thon nhọn về phía đông ăn sâu vào nội địa Nga. Điều kiện khí hậu ôn hoà này cũng tìm thấy ở cực đông nam của vùng Viễn Đông Nga, bao gồm Vladivostok. Bạn cũng thấy đa số thành phố lớn, đường xe lửa đều nằm ở vùng khí hậu lục địa ẩm ướt. Moscow cũng nằm ở vùng khí hậu ôn hoà này có nhiệt độ trung bình -9,4oC vào tháng giêng và 18,9oC vào tháng bảy. St. Peterburg chịu ảnh hưởng của biển Baltic nhiệt độ trung bình  – 8,3oC vào tháng giêng và 17,8oC vào tháng bảy. Chúng ta sẽ bao gồm vùng khí hậu nầy trong một miền hình chữ V gọi là tam giác nông nghiệp và công nghiệp.

– Vành đai rộng thảo nguyên khô với mùa đông lạnh và mùa hè nóng bắt đầu dọc Biển Đen và mở rộng về đông bắc ngang qua hạ lưu sông Volga, nam Urals và phía nam của Tây Siberia. Nó tiếp tục về phía đông tới ven rìa Siberia và Viễn Đông Nga, và phía bắc Đồng bằng Caucasus.

4. Nga có một số sông dài và hồ lớn nhất thế giới.

Sông Volga, vùng Bezvodnoye, Nizhny Novgorod.

Sông Volga chảy qua vùng Bezvodnoye, thành phố Nizhny Novgorod.

Nhìn trên bản đồ ta thấy Nga có một số các con sông dài có hạng trên thế giới. Sông Volga dài 3.700 km, là con sông dài nhất ở châu Au. Ngoài ra còn sông Ob 4.345 km, sông Yenisei 4.130 km, và sông Lena 4.270 km, đều chảy về phía bắc ra Bắc Băng Dương. Cửa các con sông nầy thường bị đóng băng một vùng rộng lớn mỗi năm. Vào mùa hè, trong suốt thời gian ngắn khi băng dọc theo bờ Bắc Băng Dương tan, thuyền bè đi dọc vùng duyên hải thu mua sản vật từ cảng ở các con sông nầy. Tàu bè không thể ở lâu bất kỳ nơi nào, vì họ phải quay lại vùng biển ấm trước khi băng đông lại. Lối đi của thuyền bè dọc duyên hải phía bắc gọi là Đường biển phía Bắc. Ngoài ra còn sông Amur dài 3.420 km chảy ra Thái Bình Dương.

800px-Caspian Sea near Aktau, Mangistau region, Kazakhstan.

Biển Caspian gần vùng Aktau, Mangistau, Kazakhstan.

Về phương diện lịch sử, sông Volga là con sông quan trọng nhất. Toàn bộ chiều dài của nó đều thuận lợi cho việc giao thông, và là trung tâm thương mại từ xưa của Nga, nhiều địa điểm thương mại, nhiều đồn lũy và thành phố đã phát triển dọc sông trong suốt thời Trung cổ ; nổi tiếng nhất là Yaroslavl, Uglich, Kostroma, và Nizhniy Novgorod. Gần đây, nó là điểm tập trung của hệ thống sông ngòi và kênh đào chảy từ vịnh Phần Lan vào biển Caspian. Nhiều con sông khác cũng rất quan trọng về phương diện giao thông, thủy điện, thủy lợi ; như sông Don chảy ngang qua vùng đông dân phía nam Đồng bằng châu Âu rồi chảy về phía nam vào Biển Đen.

1024px-View of Lake Baikal

Quang cảnh hồ Baikal

Chính quyền Xô Viết trước kia đã xây dựng các đập lớn cho các mục đích phát điện, tưới tiêu, điều khiển lũ lụt, và giao thông, một số các lưu vực sông cũng được xây dựng thành chuỗi hồ chứa nước. Kiến trúc rộng lớn nhất được xây dựng trên hệ thống sông Volga-Kama và trên sông Don ở đồng bằng châu Au, và trên thượng nguồn sông hệ thống sông Yenisey-Angara và hệ thống sông Ob-Irtysh ở Siberia.

Nga có nhiều hồ lớn. Biển Caspian, ở phía nam, là biển nội địa lớn nhất thế giới, diện tích 371.000km2. Mặc dù gọi là biển, nó thực sự là hồ nước mặn nằm ở cuối vùng sụt lún Caspian, giữa biên giới Á- Âu của Nga và nước láng giềng Kazakhstan. Các con sông chảy vào biển này, nhưng nước thoát đi chỉ bằng sự bốc hơi, và qua một thời gian sự tập trung muối gia tăng. Hồ lớn thứ hai ở Nga là hồ Baikal là hồ nước ngọt sâu nhất thế giới, độ sâu trung bình 1.637m.

1024px-The Baikal seal is endemic to Lake Baikal

Hải cẩu Baikal là loài đặc trưng của hồ Baikal

Hồ Baikal là một trong những hồ lý thú nhất ở Siberia. Hầu như có khoảng 2000 loại cây và thú hoang dã sống ở hồ Baikal. Có lúc sóng ở hồ nầy cao khoảng 4,57m. Hai hồ lớn kế tiếp là Ladoga và Onega, gọi là vùng Hồ Lớn ở tây bắc Đồng bằng châu Âu, cả hai chảy vào vịnh Phần Lan. Giống như nhiều hồ nước ngọt ở vùng này, Ladoga và Onega hình thành do băng hà đệ tứ.

5. Các miền thực vật tự nhiên rộng lớn ở Nga

Untitled-1 copy3Vùng thực vật tự nhiên rộng lớn và đất trồng ở Nga phù hợp với các miền khí hậu. Về phía bắc thực vật miền lãnh nguyên (đài nguyên) là rêu, địa y, và cây bụi thấp mọc ở nơi mà mùa hạ quá mát với các loại cây. Vùng băng tuyết vĩnh viễn lớp đất bên dưới thường xuyên bị đóng băng và chỉ lớp đất nông trên bề mặt ấm về mùa hè cho phép thực vật tăng trưởng.

Rừng bao phủ 45% diện tích, phần lớn nằm ở Siberia. Toàn bộ rừng đóng góp gần 25% diện tích rừng thế giới. Vùng rừng có thể chia thành phần lớn ở phía bắc là rừng quả nón phương bắc, hay rừng taiga ; và vùng rừng nhỏ hơn ở phía nam là rừng hỗn hợp giữa cây quả nón và loài rụng lá.

800px-Rừng taiga, Nga

Rừng taiga của Nga

Rừng taiga nằm phía nam miền lãnh nguyên ; chiếm 40% Nga Âu và mở rộng bao phủ phần lớn Siberia và Viễn Đông. Phần lớn vùng này cũng đóng băng nhiều tháng trong năm. Mặc dù vùng rừng taiga rộng lớn chủ yếu là cây quả nón, ở một số nơi cũng có các cây lá nhỏ như bu lô, cây dương mềm, cây dương rụng lá và liễu đóng góp vào sự đa dạng của rừng. Ở cực tây bắc Nga Âu rừng taiga chủ yếu là thông, mặc dù có một số đáng kể linh sam, bu lô và các loài cây khác hiện diện. Rừng taiga ở đồng bằng Tây Siberia chủ yếu là các loài thông khác nhau, nhưng dọc rìa phía nam rừng bulô trở nên phổ biến. Khắp phần lớn sơn nguyên Trung Siberia và núi vùng Viễn Đông, thông rụng lá phổ biến.

3849-050-66DE5FA7A stand of birch trees and conifers in the taiga of the West Siberian Plain, near Nizhnevartovsk, Russia.

Rừng phong và rừng cây lá kim ở vùng rừng taiga Tây Seberia

Vùng rừng hỗn hợp, bao gồm cả cây quả nón và cây lá rộng, chiếm khu vực trung tâm của đồng bằng châu Âu từ St. Peterburg ở phía bắc tới biên giới Ukraine ở phía nam. Cây quả nón thường xanh chiếm ưu thế ở phía bắc, trong khi cây lá rộng chiếm ưu thế ở phía nam. Cây lá rộng chính là sồi, du, cây thích.

Về phía nam, một khu vực hẹp thảo nguyên – rừng ngăn cách rừng hỗn hợp và thảo nguyên. Mặc dù ngày nay phần lớn đang được canh tác, thảo nguyên – rừng có thực vật tự nhiên là cỏ và rải rác là các khu rừng cây nhỏ. Vùng này trải về phía đông ngang qua trung lưu sông Volga và phía nam dãy Urals vào đồng bằng Tây Siberia. Ta cũng thấy thảo nguyên rừng hiện diện ở vùng bồn địa cách biệt giữa các dãy núi phía đông Siberia.

800px-Haibullinsky district of Bashkortostan

Thảo nguyên Haibullinsky ở Cộng hòa Bashkortostan. Cộng hòa Bashkortostan , là một nước cộng hòa thuộc Nga. Nó nằm giữa sông Volga và dãy núi Ural.

Vùng đồng cỏ chỉ có ít cây mọc còi cọc ở các thung lũng được che chở là vùng thảo nguyên Nga thực sự, vùng rộng lớn này nằm phía tây bắc đồng bằng Caucasus mở rộng về phía đông ngang qua nam sông Volga, nam Urals, và phía tây Siberia.

Cả thảo nguyên rừng và thảo nguyên đều có đất đai màu mỡ kết hợp nhau hình thành vành đai đất đen, là vùng nông nghiệp trọng điểm của Nga. Vùng thảo nguyên rừng có đất đen nhiều bùn có nhiều chất dinh dưỡng đối với phần lớn các vụ mùa và cung cấp nhiều độ ẩm trong suốt thời kỳ tăng trưởng của cây trồng hơn thảo nguyên, và vì thế là vùng nông nghiệp tốt nhất của Nga. Đất trồng ở thảo nguyên, mệnh danh là đất nâu – thảo nguyên, không nhiều bùn như đất đen bùn ở phía bắc, nhưng nhiều khoáng chất là nguồn dinh dưỡng chính của cây trồng. Giống như thảo nguyên rừng, tất cả vùng thảo nguyên Nga ngày nay đang được canh tác.

6. Động vật rất phong phú trong suốt nhiều vùng của Nga.

Hải cẩu, vùng biển phía bắc Siberia

Hải cẩu, vùng biển phía bắc Siberia

 Động vật hoang dã của miền lãnh nguyên dọc bờ Bắc Băng Dương, phía bắc duyên hải Thái Bình Dương, và các đảo ngoài khơi đa dạng đáng ngạc nhiên, bao gồm gấu bắc cực, hải cẩu, hải mã, cáo bắc cực, tuần lộc, marmot, và thỏ trắng. Chim hoang dã gồm gà gô, cú tuyết, hải âu ; chim lặn, ngỗng, thiên nga, vịt di cư vào vùng này vào mùa hè; đáng kể là hàng triệu muỗi, ruồi và côn trùng khác. Cá cũng rất nhiều trong các dòng suối. Rừng taiga là nơi cư trú của nai sừng tấm, gấu nâu, tuần lộc, linh miêu, chồn zibelin, và nhiều loài chim rừng khác nhau như ó, chim sơn ca. Rừng lá rộng có nhiều heo rừng, nai, chó sói cáo, chồn vizon và nhiều loại chim, rắn, thằn lằn và rùa. Rừng phía nam và viễn đông là nơi cư trú cọp Siberia, cũng như báo Amur, gấu và hươu xạ và các loài nai khác.

300px-Nơi sinh sống tự nhiên của Hổ Amur là vùng Viễn Đông Nga.

Nơi sinh sống tự nhiên của Hổ Amur là vùng Viễn Đông Nga.

Thảo nguyên là nơi cư trú của loài gặm nhấm như marmot, chuột đồng, loài sóc đất. Hoạt động của con người đã đưa đến sự tuyệt giống, hay gần tuyệt giống các loài gặm nhấm có vú, dã thú.

7. Nga có nhiều loại khoáng sản có trữ lượng lớn.

Nga đặc biệt giàu nhiên liệu, có trữ lượng khí thiên nhiên lớn nhất thế giới, trữ lượng than đứng hàng thứ nhì, và trữ lượng dầu mỏ đứng thứ tám thế giới. Nga cũng là quốc gia đứng hàng đầu về quặng sắt, amiăng, kẽm, nickel, kim cương, kali, chì, vàng, bạch kim, và uranium.

Than rải rác khắp lãnh thổ, nhưng các vỉa than lớn hơn hết nằm ở Donbass (biên giới Ukraine), Pechora (ở vòng cực ), Kuzbass, hay Kuznetsk (Tây Siberia), và Kansk-Achinsk (Trung Siberia). Mỏ dầu chính nằm ở Tây Siberia và vùng Volga – Ural. Tuy nhiên các mỏ nhỏ hơn hiện diện ở nhiều nơi vùng Biển Azov – Biển Đen và bang Bashkortostan. Khí thiên nhiên ở vùng Tyumen ở Tây Siberia, biên giới Kazakhstan, vùng Orenburg tây nam Nga, bang Komi ở Đông Bắc Nga Âu, và ở bang Yakutia (Sakha) Đông Bắc Siberia.

Pumping crude oil from a well in western Siberia, Russia.

Bơm dầu thô từ giếng lên ở tây Siberia

Các mỏ sắt chính nằm ở Kursk giữa Moscow và Ukraine ; các mỏ nhỏ hơn nằm rải rác khắp nước. Chì và kẽm cũng rất phong phú nằm ở phía bắc dãy Caucasus, vùng Viễn Đông Nga, và rìa tây bồn địa Kuznetk ở Siberia. Nga cũng có trữ lượng vàng lớn nhất thế giới, chủ yếu ở Viễn Đông Nga và Urals ; và là nước sản xuất đá quí chính, nổi bật là kim cương.

 

II. CÁC MIỀN ĐỊA HÌNH CHÍNH CỦA NGA

1. ĐỒNG BẰNG NGA ÂU : Chiếm phần lớn diện tích tam giác nông nghiệp và công nghiệp.

1024px-Rye Fields. Russia is the world's top producer of rye, barley, buckwheat, oats and sunflower seed, and one of the largest producers and exporters of wheat.

Cánh đồng trồng lúa mạch đen. Nga là một trong những nước sản xuất lúa mạch đen, lúa mạch,kiều mạch, yến mạch hàng đầu thế giới.

Đồng bằng Nga Âu là vùng đồng bằng gợn sóng rộng lớn, đất trồng và đồng cỏ màu mỡ độ cao trung bình 180m. Đặc biệt về phía bắc trên bán đảo Kola là núi Khibiny với đỉnh cao 1.191m. Phần bắc của đồng bằng chịu ảnh hưởng băng hà đệ tứ nên địa hình có nhiều dạng do băng hà để lại. Trong số này là các vùng đầm lầy rộng lớn, như vùng đất thấp Meshchera ở Đông Nam Moscow dọc sông Oka.

Từ Moscow ở trung tâm đi về phía bắc chẳng bao lâu là vùng nông thôn bao phủ rừng lá kim giống như Canada, về phía nam là các cánh đồng lúa mì của miền Nam nước Nga, và ngoài giới hạn đó là cánh đồng của Ukraine. Cực bắc là bán đảo Kola và biển Barent. Nơi đây dòng biển nóng Bắc Đại Tây Dương chảy lượn qua phía bắc cuối bán đảo Scandinavia đã làm cảng Murmanks không đóng băng phần lớn trong năm. Tuy nhiên, Murmansk nằm quá xa trung tâm thương mại đông dân, nó chỉ chủ yếu xuất cảng phốt phát làm phân bón trong nông nghiệp, và là nơi trú ẩn cho tàu bè trên Đường biển phía bắc.

1024px-Ural_fields-Ural seems fertile, though the fields are usually small and far between. But here's a larger one.

Cánh đồng màu mỡ ở vùng núi Ural

Dãy Ural mặc dù không phải là dãy núi cao, nhưng địa hình rất nổi bật vì nó ngăn cách hai đồng bằng rộng lớn. Dãy Ural dài 2.500km chạy từ bờ biển Kara đến giáp với biên giới Kazakhstan. Nó không phải là chướng ngại giao thông từ đông sang tây, và vùng cực nam của nó dân cư đông đúc. Nơi đây có các mỏ khoáng sản và than.

+ Moscow nằm trong vùng tam giác nông nghiệp công nghiệp của Nga.

800px-Moscow Kremlin, the working residence of the President of Russia

Điện Kremlin ở Moscow, nơi làm việc và cư trú của tổng thống Nga

Moscow là thủ đô, thành phố lớn nhất của Nga được thành lập trước năm 1147 chiếm diện tích khoảng 880km2, dân số 10.415.400 (2005). Moscow còn là trung tâm hành chính, kinh tế, tài chính đầu mối giao thông quan trọng. Chảy ngang qua thành phố là sông Moscow ngoằn ngoèo uốn khúc. Thuyền chở hành khách và tàu chở hàng di chuyển dọc sông ngoại trừ khi nó bị đóng băng về mùa đông. Sông Moscow còn nối liền với sông Volga bằng kênh đào Moscow – Volga, ngoài ra là kênh Moscow, các đường thủy này đã giúp việc bốc dỡ hàng hoá từ cảng ở thành phố hướng ra các biển Baltic, Biển Đen, Biển Trắng, biển Caspian, và biển Azov trở nên dễ dàng hơn.

Ngoài vai trò cảng của năm biển, Moscow còn là trung tâm kinh tế hàng đầu thế giới, là thành phố công nghiệp quan trọng. Trong số các sản phẩm của thành phố là máy bay, thép chất lượng cao, ổ bi, xe hơi, máy công cụ, dụng cụ điện, công cụ chính xác, radio, hoá chất, vải giày dép, giấy, đồ gỗ. Thực phẩm chế biến, máy in, công cụ sửa chữa đường ray là ngành công nghiệp quan trọng. Moscow hợp cùng vài vùng ngoại ô chung quanh thành “ Vùng đô thị Moscow “, là các thành phố công nghiệp lớn.

RedSquare_SaintBasile_(pixinn.net)

Quảng trường Đỏ và nhà thờ Saint Basile

Bên trong thành phố Moscow, các đại lộ đồng tâm, được xây dựng ở nơi trước kia là đồn lũy, phân chia thành phố thành vài khu vực, ngoài cùng là khu cư trú. Trung tâm của vòng tròn đồng tâm là Điện Kremlin, nơi đặt văn phòng chính phủ và Quảng trường Đỏ gần đó. Năm 1990, Điện Kremlin và Quảng trường Đỏ, cùng với nhà thờ St. Basil, được công nhận là Di sản Thế giới. Kremlin bao gồm năm bảy dinh thự bao bọc chung quanh bởi các bức tường đá cao 21m và 19 tháp. Nhiều khu vực của Điện Kremlin có từ năm 1492. Đại điện Kremlin hoàn thành năm 1849 là kiến trúc đồ sộ nhất bên trong Kremlin. Kiến trúc nổi tiếng khác của Kremlin là Tháp Ivan the Great, tháp cao 98m, do Sa Hoàng Ivan đại đế xây dựng, nhô cao lên khỏi các bức tường. Từ tháp chuông nầy người ta có thể nhìn xuống Quảng trường Đỏ rộng lớn, nơi quân đội diễu hành vào những ngày đặc biệt.

Lăng Lênin bằng đá Granit cũng nằm ở Quãng trường Đỏ. Nhà thờ St Basil nổi tiếng do nó là kiến trúc độc nhất vô nhị với mái vòm nhiều màu sắc, đứng ở cuối Quảng trường Đỏ. Các nhà lãnh đạo Nga thường hội họp ở Kremlin. Phần lớn cung điện, nhà thờ đã biến thành viện bảo tàng và văn phòng chính phủ.

1024px-Moscow_State_University-Lomonosov Moscow State University

Đại học Lomonosov ở Moscow

Moscow có hơn 700 học viện bậc cao. Ơ ngoại ô thành phố trên đồi Lênin là Viện đại học Moscow ( còn gọi là Đại học Lomonosov ). Toà nhà chính của Viện đại học là toà nhà chọc trời cao ba mươi sáu tầng. Đó là Viện đại học khoa học kỹ thuật của Nga. Khoảng 700 viện khoa học có cơ quan đầu não ở Moscow, ngoài ra là các viện bảo tàng nổi tiếng như Bảo tàng mỹ thuật Puskin, Bảo tàng Lênin, và Bảo tàng văn hoá Phương Đông. Moscow cũng có vài công viên. Các kỳ thi đấu thể thao được tổ chức ở sân vận động Dynamo, có thể chứa 90.000 người.

Ở vài vùng của Moscow có nhiều chung cư mới. Nhưng thành phố vẫn còn khó khăn về nhà ở do dân số gia tăng. Giống như nhiều thành phố khác, Moscow có khu vực của người nghèo và những căn nhà xiêu vẹo. Chính quyền đã có nhiều nỗ lực để xây dựng lại các khu vực nầy. Các căn hộ mới thường có 8 tầng, có thang máy, máy giặt và nhiều tiện nghi khác.

+ St. Pertersburg : “cửa ngõ vào châu Âu “ của Nga

cung dien nua dong

Cung điện mùa đông

Cách Moscow 643 km về phía tây bắc là thành phố St. Petersburg, thành phố lớn thứ hai của Nga, với dân số 4.790.000 (2005). St. Petersburg còn mệnh danh là “cửa ngõ vào châu Âu” do nó là đầu mối giao thông đường biển thuận lợi. St. Petersburg được xây dựng và được chọn làm thủ đô của Nga vào năm 1712 do Sa Hoàng Peter Đại Đế. Vị Sa Hoàng nầy là một người cấp tiến trong việc tiếp thu ảnh hưởng phương tây, ông đã đến Rotterdam để học nghề đóng tàu. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa thành phố có tên Leningrad.

800px-The golden-domed Saint Isaac's Cathedral dominates the city skyline

Mái bằng vàng của nhà thờ Saint Isaac ở Saint Petersburg

Thành phố có một đại lộ rộng gọi là Nevsky Prospect. Nhiều dinh thự bằng đá cao năm sáu tầng được xây dựng dọc đường phố dưới thời Sa Hoàng. Du khách thăm viếng St. Petersburg thường thích thăm Cung điện Mùa đông, cung điện lớn nhất châu Âu. Cung điện Mùa đông là dinh thự có kiến trúc baroque trau chuốt tinh vi, hoàn tất năm 1762 và là nơi ở của Nga hoàng trước Cách mạng 1917. Nó có thể chứa hơn 6.000 người một lúc. Ngày nay cung điện nầy là Viện bảo tàng cách mạng. Các kiến trúc nổi tiếng khác là Nhà thờ St. Isaac, xây dựng từ năm 1768 cho tới 1858 ; Nhà thờ St Peter và Paul, xây dựng từ năm 1712 và 1733 ; Cung điện Mùa hè của Hoàng đế Peter I.

Nhiều chiếc cầu lớn nối các vùng khác nhau của thành phố bắc ngang qua nhiều nhánh sông Neva. Sông nầy đã được đào sâu hơn để giúp thuyền bè từ biển Baltic dễ vào hải cảng, và nhiều kênh đào nối sông Neva với sông Volga và với Bắc Băng Dương bởi các con đường thủy của hô Ladoga, hồ Onega, và Biển Trắng. Tuy nhiên vào mùa đông việc vận chuyển bằng thuyền phải ngưng lại do các kênh đào và sông ngòi bị đóng băng từ tháng mười một đến tháng tư. St. Petersburg hàng năm có hơn 100 ngày tuyết đóng trên mặt đất, nên việc xúc tuyết là công việc quan trọng.

800px-Catherine_Palace_in_Tsarskoe_Selo-Lâu đài Catherine, một trong ba Cung điện mùa hè của Nga

Lâu đài Catherine là lâu đài có kiến trúc Rococo nằm ở thị trấn Tsarskoye Selo (Pushkin), cách trung tâm St Petersburg 25km. Nó là nơi ở mùa hè của các sa hoàng Nga. Hơn 100kg vàng được dùng để tô điểm mặt tiền và nhiều bức tượng dựng trên nóc lâu đài. Người ta đồn rằng mái vòm của lâu đài cũng hoàn toàn bằng vàng.

Thành phố còn nằm ở vĩ độ cao nên ngày dài vào mùa hè và ngắn vào mùa đông. Trong suốt tháng bảy có đủ ánh sáng mặt trời để đọc báo vào lúc nửa đêm trên đường phố ; nhưng vào tháng mười hai, Mặt trời đến 10g sáng mới mọc và lặn vào lúc 3g chiều.

St Petersburg còn là một trong những thành phố quan trọng về công nghiệp. Than bùn và than đá nằm ở vùng lân cận cung cấp năng lượng để phát điện. Năng lượng điện nguyên tử cũng được sử dụng ở thành phố này. Ngoài các xưởng đóng tàu St Petersburg còn có nhà máy sản xuất máy phát điện, thiết bị vô tuyến, hoá chất, đồ nhựa, giấy, đồ gỗ, vải. St Petersburg còn có ngành buôn bán lông thú và in ấn.

St Petersburg đánh dấu biên giới phía bắc của tam giác nông nghiệp và công nghiệp.

Trải rộng về phía nam hơn 1.448 km tới Biển Đen và về phía đông hơn 3.218km vào nội địa châu Á, là vùng nông nghiệp rộng lớn. Phần lớn việc sản xuất nông nghiệp trước kia được tổ chức theo hình thức nông trường quốc doanh, hay nông trang tập thể. Quyền sở hữu và canh tác đất tư nhân chỉ được áp dụng từ năm 1990. Tuy đã cơ khí hoá và sử dụng phân bón hỗ trợ, song nông nghiệp vẫn chưa sản xuất đủ nhu cầu trong nước. Sự giới hạn nầy do nhiều nguyên nhân :

– Do dân số đông, nên việc sản xuất đủ lương thực cho nhu cầu dân chúng là một vấn đề lớn.

– Thời gian trồng tỉa ở Nga thường ngắn, thường là bốn tháng đối với vùng phía bắc và sáu tháng đối với vùng phía nam. Ngoài ra vùng tam giác nông nghiệp còn thiếu mưa. Nhìn chung vùng ven phía nam của Tam Giác nông nghiệp mưa ít.

Đất miền núi cũng không thích hợp cho nông nghiệp. Trên bản đồ ta thấy Nga có nhiều núi cao lởm chởm ở phía nam và phía đông. Vì vậy ta thấy vùng lãnh thổ của Nga quá lạnh, qúa khô, quá nhiều đồi núi đối với nông nghiệp, điều nầy làm cho năng suất cây trồng thấp.

Càng về phía bắc vùng tam giác nông nghiệp mưa càng nhiều. Nơi đây người ta trồng nhiều lúa mạch, củ cải đường, khoai tây, bắp cải. Tuy nhiên, vụ mùa chính là lúa mì mọc tốt ở những nơi ít mưa. Nga có vùng rộng lớn đất nầy ở phía nam của tam giác nông nghiệp. Đất trồng cỏ là loại đất tốt cho cỏ. Rễ cỏ cung cấp mùn làm đất phì nhiêu và có màu sậm.

+ Thành phố Nizhniy Novgorod

800px-The confluence of the Oka with the Volga in Nizhny Novgorod.

Thành phố Nizhniy Novgorod nằm ở nơi giao nhau của sông Oka và sông Volga

Nizhniy Novgorod nằm ở phía tây của Nga, ở nơi mà sông Oka nối vào sông Volga. Thành phố được xây dựng năm 1221 và nhanh chóng trở thành trung tâm tôn giáo của Nga. Về sau thành phố nổi tiếng nhờ hội chợ thương mại tổ chức hàng năm từ năm 1817 cho mãi đến năm 1917, lúc đó những người buôn bán từ xa đến hội chợ này. Từ năm 1932 đến năm 1991 nó được đổi tên thành Gorky để tôn vinh nhà văn Maksim Gorky, người được sinh ra ở nơi này. Thành phố được xếp vào danh sách Di sản Thế giới của UNESCO năm 1992. Nizhniy Novgorod là thành phố công nghiệp quan trọng, với các nhà máy sản xuất ô tô lớn nhất nước Nga, máy bay, vải, dụng cụ điện cũng được sản xuất tại thành phố này. Các khu công nghiệp lân cận quan trọng nhất của nó là Bor, Kstovo và Dzerzhinsk.

+ Thành phố Samara

Nằm ở Đông Nam Nga Au, bên sông Volga. Từ năm 1935-1991 thành phố có tên Kuybyshev. Ngày nay nó là trung tâm giao thông và công nghiệp của Nga. Trước kia một đập lớn được xây dựng trên sông Volga ở Samara để sản xuất thủy điện. Ngoài sức nước dư thừa thành phố còn nằm gần mỏ dầu.

Tam giác nông nghiệp công nghiệp mở rộng về phía đông

800px-A mine in the Ural Mountains, 1910.

Một mỏ khoáng ở núi Ural ( 1910)

Trước kia dưới chế độ xã hội chủ nghĩa do phong trào di dân về phía đông có nhiều thành phố công nghiệp được thiết lập ở dãy núi Urals và ngoài phạm vi của nó. Các thành phố như : Sverdlovsk, Chelyabinsk và Magnitogorsk là những thành phố công nghiệp mới ở khu vực dãy Urals.

Ngày nay, Magnitogorsk là thành phố sản xuất thép quan trọng. Trữ lượng sắt lớn được tìm thấy ở thành phố nầy. Tuy nhiên trước kia than để luyện thép phải được mang từ bồn địa Kuznetsk gần Novosibirsk cách hơn 1.930 km tới. Magnitorsk ít lệ thuộc vào than ở bồn địa Kuznetsk, vì các mỏ than gần đó đã được khai thác.

2. SIBERIA : Vùng rộng lớn nhất của Nga.

4 copy

Siberia nằm ở phía đông của dãy Ural, là vùng rộng lớn nhất của Nga. Vùng nầy chiếm ¾ diện tích của Nga, nhưng dân số chỉ có 1/5. Siberia trải rộng từ dãy núi Ural về phía đông đến tận Thái Bình Dương, và từ bờ Bắc Băng Dương về phía nam đến tận nội địa châu Á. Siberia có thể được chia làm ba vùng địa lý chính.

752px-Siberian_plain-Image of the Western Siberian plain. Taken from the moving Trans-Siberian railway

Đồng bằng Tây Siberia

+ Đồng bằng Tây Siberia : Giữa dãy Urals và sông Yenisei là vùng đất thấp rộng lớn, đại bộ phận là của vùng này là đầm lầy. Trên bản đồ chúng ta hãy lưu ý các vạch đỏ trải dài từ biên giới Phần Lan đến biển Đông Siberia và thẳng tới vùng đất thấp ven Bắc Băng Dương. Phía bắc của đồng bằng này đất thường bị đóng băng. Vùng đóng băng vĩnh cửu này gây trở ngại cho việc cư trú. Phía nam của đồng bằng này là vùng đầm lầy. Tuy nhiên phía nam có các thành phố chính như Omsh và Novosibirsk nằm bên tuyến đường xe lửa Trans – Siberia.

+ Sơn nguyên Trung Siberia : Giữa sông Yenisey và sông Lena là sơn nguyên Trung Siberia, có độ cao thay đổi từ 300 đến 1.200m, là vùng chịu ảnh hưởng băng tuyết vĩnh viễn. Nơi đây mùa đông kéo dài và lạnh lẽo, mùa hạ ngắn. Vùng này rất ít bị hủy hoại bởi hoạt động của con người. Ngoài giới hạn của bồn Địa Yakutsk là núi và địa hình cao.

Núi lửa Kamchatka đang hoạt động

Núi lửa Kamchatka đang hoạt động

+ Cao nguyên Đông Siberia : Về phía đông sông Lena địa hình gồm hàng chuỗi núi và bồn địa. Các dãy núi cao của vùng này là Verkhoyansk, Cherskogo, và Kolyma thường đạt tới độ cao tối đa 2.300m cho tới 3.200m. Ở rìa phía đông ven bờ Thái Bình Dương, núi cao hơn và dốc hơn, hoạt động núi lửa cũng trở nên phổ biến. Núi lửa gây nên bởi hoạt động kiến tạo của các mảng nền hiện nay, và đó là sự va chạm của các mảng nền Thái Bình Dương và Bắc Mĩ ở nơi đây. Động đất cũng là đặc điểm của vùng này. Trên bán đảo Kamchatka có 120 núi lửa, 23 núi lửa hiện hoạt động, cao nhất là núi lửa Klyuchevskaya cao gần 4.750m. Chuỗi núi lửa Kamchatka vẫn còn tiếp tục về phía nam tới đảo Kuril, đảo này chứa khoảng 100 núi lửa, trong số đó 32 núi lửa đang hoạt động.

Chó kéo xe trên miền lãnh nguyên ( đài nguyên)  , bán đảo Chukchi, Siberia

Chó kéo xe trên miền lãnh nguyên ( đài nguyên) , bán đảo Chukchi, Siberia

– Khí hậu : Vùng Siberia với khí hậu lục địa khắc nghiệt, vào mùa đông nhiệt độ âm bao phủ, có nơi -30 – 40oC thậm chí -70oC. Mùa đông dài, lạnh lẽo, ngày ngắn, tuyết rơi dầy và bảo tuyết gầm rít. Nhà cửa ở đây phải xây dựng một cách chắc chắn và ấm áp. Nếu bạn đến Siberia vào mùa đông, bạn sẽ thấy tuyết rơi dầy là cảnh tượng đáng ngạc nhiên. Hầu như toàn bộ vùng Siberia mưa rất ít, ngoại trừ ven Thái Bình Dương.

Khi mùa hè đến, vùng đất nầy trông rất khác. Tuyết tan, băng biến mất khỏi các lòng suối, ao hồ. Chim chóc quay trở về từ nơi trú đông của nó ở phía nam, và cây cối bắt đầu đâm chồi nảy lộc. Tuy nhiên, mùa hè chỉ ấm áp và đôi khi xen kẽ những ngày lạnh.

Sông Ob đóng băng mùa đông

Sông Ob đóng băng vào mùa đông

– Sông ngòi : Vắt ngang qua Siberia là ba sông lớn, gồm sông Ob, sông Yenisei, sông Lena. Cả ba đều đổ ra Bắc Băng Dương. Các con sông này đóng băng từ sáu đến chín tháng trong năm. Điều này đã làm cho chúng ít quan trọng về phương diện giao thông trong vùng. Chỉ có sông Amur chảy ra Thái Bình Dương. Về mùa xuân, các con sông chảy về phía bắc có nguồn ở phía nam, băng tuyết ở nguồn bắt đầu tan ra. Trong khi vùng hạ lưu của nó băng tuyết chưa tan. Kết quả là nước bị nghẽn lại ở đằng sau cái đập băng, tràn ra bao phủ một vùng rộng lớn. Nga đã xây nhiều đập thủy điện trên các con sông này.

– Thực vật : Vùng Siberia là vùng chuẩn để phân chia thành các miền thực vật. Bên trong nó là miền lãnh nguyên, miền rừng taiga, miền thảo nguyên.

1. Hoa miền lãnh nguyên

Hoa miền lãnh nguyên

2. Quả mọng miền lãnh nguyên , mùa thu

Quả mọng miền lãnh nguyên , mùa thu

+ Miền lãnh nguyên ( Đài nguyên ) : Do nằm gần biển, vùng lãnh nguyên không quá nóng về mùa hè, cũng không quá lạnh về mùa đông, nhưng nhiệt độ quanh năm đủ thấp để không bao giờ tan băng tuyết hoàn toàn, miền này là miền đóng băng vĩnh viễn. Do mùa trồng tỉa ngắn nên cây cối khó phát triển. Thực vật ở đây chủ yếu là rêu, cỏ, cây bụi. Nếu bạn du hành vùng lãnh nguyên vào mùa hè bạn sẽ thấy hoa rực rỡ nhiều màu sắc, ong, bướm và muỗi nhiều vô số. Vào mùa đông thực vật lãnh nguyên đông cứng lại, và bạn sẽ không bị phiền vì muỗi đốt vào mùa nầy.

Cây bụi thấp vùng cận cực, đông bắc Siberia

Cây bụi thấp vùng cận cực, đông bắc Siberia

Miền lãnh nguyên rộng rãi, hoang vắng là vùng đất ít người, giống như hoang mạc. Bạn có thể du hành ngang qua lãnh nguyên nhiều ngày mà không thấy ai. Những người sống ở miền lãnh nguyên chủ yếu nuôi tuần lộc và săn bắn, đánh cá. Họ sống thành từng nhóm nhỏ, thưa thớt. Tuần lộc cung cấp cho con người gần như mọi thứ họ cần. Thịt tuần lộc để ăn, lều và quần áo làm bằng da tuần lộc, gân tuần lọc để làm chỉ, xương nhỏ làm kim. Tuần lộc cũng cung cấp sữa, kéo xe trượt tuyết, vác vật nặng trên lưng. Ngoài săn bắn, đánh cá, nuôi tuần lộc, nhiều người làm việc trong các hầm mỏ.

Cây bulô ở vùng  rừng taiga Siberia

Cây bulô ( phong, bạch dương) ở vùng rừng taiga Siberia

+ Miền rừng taiga : Nằm ở phía nam miền lãnh nguyên, trải rộng từ Phần Lan ở phía tây về tận Thái Bình Dương ở phía đông, bao phủ một vùng rộng lớn. Vùng này chủ yếu là cây quả nón, tuy nhiên, cây không mọc cao và rừng bị gián đoạn bởi nhiều sông, hồ, ao, đầm. Phía nam rừng có nhiều loại cây như vân sam, thông, linh sam, cây bạch dương, cây bu lô và những cây lá kim, cây lá rộng khác. Nhưng nếu bạn đi về phía bắc chỉ có cây vân sam cứng và rải rác có cây bulô.

Các luống cây được trồng ngang qua vùng thảo nguyên để ngăn gió.

Các luống cây được trồng ngang qua vùng thảo nguyên để ngăn gió.

+ Miền thảo Nguyên : Là miền khí hậu bán hoang mạc. Ơ Nga vùng thảo nguyên trải thành một vành đai rộng từ Biển Đen về phía đông tới biên giới Trung Quốc. Vùng nầy nhận được lượng mưa từ 250 – 300 mm/n. Tuy nhiên, có một số năm còn khô hạn hơn, và sau vài năm khô hạn vùng có bão bụi lớn có thể hình thành. Vùng có bão bụi là nơi mà gió bào mòn đất và thổi nó đi ngang mặt đất như bão bụi. Chính phủ đã trồng các luống cây ngang qua vùng thảo nguyên để ngăn gió. Ở những nơi có nước và đất tốt cho nông nghiệp họ cũng xây dựng các công trình thủy lợi dẫn nước để trồng tỉa. Các nông trại lớn ở đây nuôi cừu và trồng lúa mì.

– Động vật : động vật ở Siberia rất phong phú và là một trong nguồn cung cấp lông thú chính của thế giới. Ngoài một số các loài thông thường tìm thấy trong vùng là cáo, hải cẩu, chó sói, thỏ rừng, nai sừng tấm, tuần lộc gấu bắc cực và gấu nâu, chồn, hải cẩu, hải mã. Báo, cọp và linh dương tìm thấy ở vùng sông Amur.

Brown bear, Kamchatka peninsula. Brown bears are among the largest and most widespread taiga omnivores.

Gấu nâu trên bán đảo Kamchatka

– Tài nguyên thiên nhiên : Siberia đặc biệt giàu tài nguyên khoáng sản, đáng kể là than, vàng, sắt, khí thiên nhiên, dầu. Bồn địa Kuznetsk nằm ở phía tây Siberia có vỉa than khổng lồ. Vỉa than chính khác được tìm thấy ở Cheremkhovo và Minusinsk. Các mỏ ở Siberia trước kia đã cung cấp nguồn vàng chính cho Nga, khiến Nga trở thành một trong những nước sản xuất nhiều vàng nhất thế giới. Từ năm 1960 trữ lượng khí đốt và dầu khổng lồ được khám phá, đặc biệt ở tây bắc gần Yakutsk. Ống dẫn dầu đã được xây dựng từ nhà máy lọc dầu ở Irkutsk trung tâm Nga tới châu Âu. Các thành phố Tomsk và Tobolsk có chất hoá dầu hỗn hợp. Ngoài ra còn các kim loại quan trọng như uranium, nickel, đồng, măng gan, kim cương, chất khoáng cobalt. Nhà máy thủy điện lớn được xây dựng ở Siberia gần Irkutsk, Bratsk, và Krasnoyarsk.

6

Người Chukchi ở Siberia

– Dân cư : Siberia là vùng thưa dân, phần lớn dân chúng tập trung ở tây bắc. Thực sự, tất cả các thành phố chính đều nằm phía nam dọc Trans – Siberia. Từ tây sang đông là các thành phố Chelyabinsk, Omsk, Novosibirsk, Novokuznetsk, Krasoyarsk, Irkutsk, Khabarovsk, và Vladivostok. Các thành phố khác tập trung phía bắc dọc các sông chính như Yakutsk bên sông Lena.

Dân cư chủ yếu là người Nga. Dân bản địa gồm người Buryat, Yakut, Tungu, Chukchi, Koryak, và Kazak.

– Kinh tế : Nga có nhiều nỗ lực phát triển vùng Siberia vì vùng nầy có nhiều khoáng sản. Tuy nhiên đây là vùng thưa dân, chỉ có một vài con đường giao thông. Đường xe lửa nổi tiếng Trans – Siberia ngang qua Siberia hoàn thành năm 1898. Nó dài 9332 km từ Moscow về phía đông tới cảng Vladivostok trên bờ biển Nhật Bản. Từ đó nó có nhiều cải tiến. Hiện nay đường xe lửa là một đường ray đôi, và các nhánh rẽ vào thành phố, hầm mỏ không trực tiếp với nhánh chính. Đường ray đôi có nghĩa là có hai đường, thường thì gần nhau. Vì vậy xe lửa đi ngược chiều có thể qua xe lửa khác mà không phải chờ. Để phát triển miền đất hứa này, chính quyền Xô Viết cũng xây dựng tuyến đường xe lửa mới Baikal- Amur ( hoàn thành năm 1989). Cùng với Trans-Siberia nó là đường giao thông chính trong miền.

800px-Prokudin-GorskiiBashkir switchman near the town Ust' Katav on the Yuryuzan River between Ufa and Cheliabinsk in the Ural Mountains region, c. 1910

Người bẻ ghi ( ngành đường sắt) gần thị trấn Ust’ Katav ở vùng núi Ural ( 1910). Lưu ý trên hình có hai đường sắt song song nhau.

Lưu ý trên bản đồ rằng đường ray đôi này ngang qua phần phía nam của các con sông chảy về phía bắc và nhánh của chúng. Ở những nơi mà xe lửa ngang qua thường là thành phố lớn. Ngoại trừ xe lửa còn có vài đường bộ ngang qua Siberia. Việc thiết kế các con đường rất khó khăn và chỉ có vài xa lộ giống như xa lộ Alaska ở Canada. Vào mùa xuân sự kết hợp của mưa và tuyết tan làm đường xá lầy lội hàng tuần. Vào mùa đông đường xá thường bị đóng băng và phủ đầy tuyết. Giống như Canada, máy bay là phương tiện tốt nhất để băng qua vùng rộng lớn hoang vu này.

Phần lớn các trung tâm công nghiệp nằm theo trục tây – đông dọc đường xe lửa Trans- Siberia. Ngành công nghiệp Siberia sản xuất kim loại, vải, xe hơi, công cụ nông nghiệp, và vật liệu xây dựng.

Nông nghiệp ở Siberia rất giới hạn do khí hậu khắc nghiệt và đất xấu. Tuy nhiên, đất tốt hiện diện ở phía tây và tây nam, từ Urals đến hồ Baikal. Các vụ mùa chính trong vùng gồm lúa mì, lúa mạch, yến mạch, lúa mạch đen, và hoa hướng dương. Việc chăn nuôi bò sữa cũng rất quan trọng. Các vụ mùa ở Đông Siberia gồm khoai tây, ngũ cốc, củ cải đường, lanh. Ở vùng Viễn đông, người ta nuôi tuần lộc để lấy sữa, thịt, da. Chính quyền Xô Viết cũ đã cố gắng đẩy mạnh nông nghiệp xa hơn về phía bắc, tuy nhiên điều nầy rất hạn chế vì càng về phía bắc mùa trồng tỉa càng ngắn. Thậm chí vùng ven phía nam của miền nầy mùa trồng tỉa chỉ dài 4 tháng. Vùng ven phía bắc chỉ một tháng rưỡi đến hai tháng. Siberia cũng nổi bật về công nghiệp rừng và nghề đánh cá. Nhiều khu vực của miền rừng có nhiều dã thú như thỏ, nai, chó sói, gấu, hải ly. Người ta cũng đánh bẫy các loại chồn như chồn Zibelin, chồn Marten, chuột xạ vì chúng có bộ lông đẹp. Miền rừng nầy cũng cung cấp nhiều gỗ dùng trong xây dựng và làm giấy.

Natural gas facility near Kursk, Russia.

Ống dẩn khí thiên nhiên ở Kursk, Nga

Do có nhiều dầu mỏ và khí thiên nhiên, Siberia đã đóng vai trò chính trong việc đấu tranh cho thị trường tự do. Hai phần ba thu nhập của Nga đều từ việc bán dầu ra nước ngoài. Mặc dù vậy, sự xa xôi của nhiều mỏ dầu và khí thiên nhiên của Siberia đã làm phương tiện vận chuyển đắt đỏ. Nhờ có nhiều tài nguyên, Siberia sản xuất kim loại và sản phẩm từ kim loại, vải, xe ô tô, công cụ nông ngiệp, và vật liệu xây dựng. Các vùng công nghiệp như bồn địa Kuznetsk, thung lũng sông Yenisey, và thung lũng sông Lena gần Yakutsk. Norilsk là trung tâm chính về sản xuất kim loại.

Thành phố Novosibirsk : Tiền đồn phía nam của Nga

800px-View of Novosibirsk, Russia.

Toàn cảnh thành phố Novosibirsk, Nga

Nằm ở nơi đường xe lửa Trans – Siberia băng ngang qua sông Ob. Novosibirsk là một thành phố phát triển nhanh. Lúc đường xe lửa được xây dựng, nó chỉ là một khu ngụ cư nhỏ, thành phố phát triển mãi cho tới nay với khoảng 1.436.000 dân. Ngày nay Novosibirsk là thành phố lớn nhất và là một trong trung tâm công nghiệp chính nằm ở phía nam của Siberia. Các nhà máy ở thành phố này sản xuất công cụ khai thác khoáng sản, turbin phát điện, vải, hoá chất và máy công cụ nặng. Nó còn là nơi đặt viện đại học và trung tâm nghiên cứu khoa học. Novosibirsk được gọi là Chicago của Siberia. Dọc theo đại lộ rộng chính của thành phố là văn phòng, chung cư, cửa hàng, cùng nhà hát lớn có thể chứa 2000 người. Một đập thủy điện lớn được xây dựng trên sông Ob gần Novosibirsk cung cấp thủy điện cho công nghiệp.

3. HỆ THỐNG NÚI PHÍA NAM VÀ VIỄN ĐÔNG

800px-Caucasus Mountains in Svaneti, Georgia

Dãy Caucasus ở Svaneti, Georgia

Giữa Biển Đen và biển Caspian là dãy núi cao dốc gọi là Caucasus. Đỉnh cao nhất của nó Elbrus 5642m, là đỉnh cao nhất châu Âu và là núi lửa đã tắt. Nhiều đỉnh cao hơn dãy núi Alps và sườn rất dốc. Dãy Caucasus là một trở ngại về giao thông như Pyrenees. Giống như Pyrenees xe lửa phải đi vòng cuối núi hơn là đi ngang qua nó.

Ở những sườn núi thấp hơn của dãy Caucasus là rừng. Bên trong các dãy núi là các thung lũng hẹp tốt cho đồng cỏ. Cừu thường được di chuyển từ thảo nguyên tới đồng cỏ vào mùa hè để gặm cỏ. Dãy núi Caucasus là vùng giàu về khoáng sản như chì, kẽm, dầu mỏ, than, nickel. Vùng núi nầy cũng tuyệt vời đối với thủy điện. Vài đập thủy điện được xây dựng ở các thung lũng hẹp.

800px-Katun River in the Altai Mountains

Sông Katun trong dãy núi Altai

Dọc biên giới phía nam của vùng Trung và Đông Siberia cho tới Thái Bình Dương là các dãy núi khác. Trong số những dãy núi cao và rộng lớn của thế giới như Altai, Sayan, Yablonovyy, Stanovoy, và Cherski. Hai người Mĩ bay vòng quanh thế giới là Wiley và Howard Hughes đã tìm thấy các dãy núi cao trên 1829m này, trong khi bản đồ Nga chỉ ghi 900m. Vùng núi trung tâm châu Á nhô cao trên vành đai băng tuyết vĩnh cửu và có các núi băng rộng lớn, lượng băng tuyết tan chảy hàng năm đã mang phù sa bồi đắp cho lớp đất trồng ở sườn núi thấp và cung cấp nước cho các vùng này.

33960726.WAS0020-Sayan Mountains

Dãy núi Sayan

Giống như các miền núi biên giới khác, miền núi phía nam và phía đông Siberia giống như bức tường khổng lồ mà xuyên qua nó chỉ có một vài lối đi. Việc du hành qua nó cực kỳ khó khăn và những miền nầy nằm trong số những miền cách biệt nhất trên thế giới ngày nay. Xe lửa giúp nối liền Nga và Trung Quốc lại với nhau, nhưng những vùng rộng lớn của họ vẫn còn cô lập và dân cư thưa thớt.

Cảng Vladivostok của Vùng Viễn Đông

June 2014 view of Vladivostok and the Golden Horn Bay

Cảng Vladivostok và vịnh Golden Horn

Nếu bạn du hành qua Vladivostok bằng xe lửa, bạn sẽ thấy Vladivostok nằm ở cuối đường. Khi bạn từ thung lũng sông Amur đến Vladivostok, bạn lại đi từ khí hậu miền rừng phía bắc đến khí hậu lục địa ẩm ướt. Ơ thung lũng sông Amur bạn có thể thấy người ta trồng củ cải đường, và rừng cây gần Vladivostok có màu sáng vào mùa thu. Vào mùa đông dòng biển lạnh dọc bờ có thể mang các tảng băng đóng đầy hải cảng. Vladivostok không phải là thành phố lớn nhưng nó là cảng chính của Nga ở Thái Bình Dương.

Đảo Sakhalin

800px-Okhotskoye_beach_Sea of Okhotsk coast, Sakhalin

Bãi biển Okhotsk ở đảo Sakhalin

Sakhalin ngăn cách với vùng đất chính bằng eo biển hẹp và nông. Eo Mamiya hay Tartary thường đóng băng về mùa đông ở phần hẹp hơn của nó, và ngăn cách với Hokkaido bằng eo Soya hay La Pérouse. Sakhalin là đảo lớn nhất của Liên bang Nga, dài 948km và rộng từ 25 cho tới 170 km, diện tích 78.000km2. Gần hai phần ba diện tích của Sakhlin là núi. Hai dãy núi song song chạy từ bắc tới nam, dài 600 – 1000m. Đỉnh núi Tây Sakhalin là Ichara, cao 1481 m, trong khi đỉnh núi ở Đông Sakhalin là Lopatin 1609 m, là đỉnh cao nhất của đảo. Thung lũng Tym-Poronaiskaya ngăn cách hai dãy núi này. Phía nam đảo là dãy Susuanaisky và Tonino-Anivsky, trong khi phía bắc là đồng bằng Sakhalin có nhiều đầm lầy. Khí hậu trên đảo Sakhalin rất lạnh. Các dòng biển lạnh từ biển Okhotsk, cộng thêm gió đông bắc, đã mang các mảng băng trôi khổng lồ đến bờ biển phía đông vào mùa hè. Toàn đảo được bao phủ rừng dày, chủ yếu là cây quả nón. Gấu, cáo, rái cá, linh dương rất nhiều, ngoài ra là tuần lộc ở phía bắc, nai, thỏ, sóc, chuột ở khắp nơi trên đảo. Cá voi thường bơi vào gần bờ biển.

Đã có lúc chính quyền Liên Xô cũ chia đảo Sakhalin với Nhật. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Liên Xô đã làm chủ toàn bộ đảo. Trên đảo Sakhalin có mỏ dầu.

III. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ

Moscow hiện đại đang được xây dựng

Moscow hiện đại đang được xây dựng

Hơn một thập kỷ sau sự tan rã của Liên Xô cũ năm 1991, Nga vẫn còn đang cố gắng để thiết lập nền kinh tế thị trường và đã thu được sự phát triển kinh tế bền vững. Trong năm năm đầu nền kinh tế Nga phát triển không ổn định do các cơ quan hành pháp và lập pháp còn nhiều bất đồng trong việc hoàn thiện công cuộc cải cách và các nền tảng công nghiệp Nga chịu sự suy thoái nặng nề. Ngoài ra, sự thiếu hụt thực phẩm năm 1987 khiến Nga phải cần đến sự giúp đỡ của nước ngoài.

Sau sự tan rã của Liên Xô cũ, sự phục hồi nhỏ của Nga dưới ảnh hưởng của kinh tế thị trường lần đầu tiên diễn ra vào năm 1997. Trong năm đó, khủng hoảng tài chính châu Á diễn ra khiến đồng rúp của Nga bị phá giá, làm chính phủ bị vỡ nợ và làm suy giảm trầm trọng mức sống của phần lớn dân chúng.

Tuy nhiên nền kinh tế Nga phục hồi dần vào năm 1999 và đi vào giai đoạn phát triển nhanh. GDP tăng trưởng trung bình 6,8% một năm trong giai đoạn 1999- 2004. Tuy nhiên sự tăng trưởng này không đều : khu vực thủ đô Moskow cung cấp tới 30% GDP toàn quốc.

Ống dẫn dầu từ Baiki ở Azerbaizan và Chechnya tới Novorossiysk ở Biển Đen.

Ống dẫn dầu từ Baiki ở Azerbaizan và Chechnya tới Novorossiysk ở Biển Đen.

Sự phục hồi kinh tế này cùng với cố gắng cải tổ của chính quyền trong các năm 2000- 2001 đã làm tăng sự tin cậy của các nhà kinh doanh trong thời kỳ chuyển đổi. Nga vẫn dựa vào xuất khẩu hàng hoá chủ yếu là dầu mỏ, khí đốt, kim loại và gỗ, các mặt hàng này chiếm 80% kim ngạch xuất khẩu, điều này làm Nga dễ tổn thất vì biến động giá cả trên thị trường quốc tế. Trong những năm gần đây, nền kinh tế Nga nhắm nhiều vào việc sản xuất các mặt hàng tiêu dùng trong nước, là lãnh vực có mức tăng trưởng trên 12% mỗi năm trong giai đoạn 2000-2004, chỉ ra sự lớn mạnh dần lên của thị trường nội địa.

Năm 2005, GDP của Nga đạt 763,7 tỉ USD, giúp Nga trở thành nền kinh tế lớn thứ 9 trên thế giới và thứ 5 ở châu Âu. Nếu mức tăng trưởng kinh tế hiện nay ổn định dự kiến Nga sẽ trở thành nước có nền kinh tế lớn thứ hai ở châu Âu sau Đức và đứng thứ 8 trên thế giới sau vài năm tới.

NSF_picture_of_Yamal-Yamal, one of Russia's nuclear-powered icebreakers [

Tàu nguyên tử phá băng của Nga

Thách thức lớn nhất của Nga là các biện pháp để thúc đẩy sự phát triển của các xí nghiệp nhỏ và vừa trong điều kiện môi trường kinh doanh với các ngân hàng trẻ, được nắm giữ bởi các nhà doanh nghiệp. Các nhà doanh nghiệp này đã sử dụng các khoản tiền gởi ở ngân hàng để cho các doanh nghiệp của chính mình vay mượn. Ngân hàng tái thiết và phát triển châu Âu ( EBRD ) và ngân hàng thế giới (WB) đã có những cố gắng để kích hoạt các hoạt động của ngân hàng thông thường bằng cách cấp vốn và mua lại các khoản nợ trong một số ngân hàng nhưng thành tựu thu được không đáng kể. Các vấn đề khác là sự phát triển mất cân đối giữa các khu vực của Nga. Trong khi khu vực thủ đô có cuộc sống thịnh vượng với thu nhập trên đầu người nhanh chóng đạt mức nền kinh tế hàng đầu châu Âu thì phần lớn các khu vực còn lại, đặc biệt là các vùng nông thôn và khu vực người thiểu số châu Á, đã bị tụt lại đằng sau rất nhiều.

Thúc đẩy đầu tư nước ngoài cũng là một thách thức lớn. Tuy nhiên, một số tập đoàn quốc tế đã đầu tư rất lớn vào Nga. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế ( IMF), Nga có khoảng 26 tỉ USD vốn đầu tư trực tiếp của người nước ngoài trong giai đoạn 2001-2004.

* Yêu cầu các bạn tham khảo bài viết nếu có copy nên trích dẫn nguồn www.cacnuocchauau.com/home. Đề tài này đã đăng ký ở Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai , xin đừng dùng nó lập website riêng, cướp công sức người khác, vì mỗi bài tác giả phải mất công sức dịch rất lâu, sắp xếp bố cục, lựa chọn hình ảnh thích hợp với nội dung.  Mục đích tác giả là dành cho các bạn yêu thích bộ môn địa lý, dùng để giảng dạy, tham khảo.