9. HÀ LAN ( NETHERLANDS)

VƯƠNG QUỐC HÀ LAN

Diện tích : 41. 000 km²      Dân số : 16.600.000 người ( 2007 )    Thủ đô : Amsterdam

HA LAN MAP

I. ĐẤT NƯỚC CỦA NHỮNG NGƯỜI CHINH PHỤC VÙNG ĐẤT THẤP

Hà Lan nằm ở tây bắc châu Âu. Phía bắc Hà Lan là biển Bắc Hải, phía nam giáp Bỉ, và phía đông giáp Đức. Hà Lan thường được gọi là Holland, nhưng Holland thực sự chỉ là tên của phần tây đất nước và phía tây nam của hồ Ijssel.

Hà Lan là nước lớn nhất trong các nước thấp dưới mực nước biển, các nước Benelux. Nhưng đa số chúng ta biết nhiều về Hà Lan hơn chúng ta biết về Bỉ hay Luxembourg. Chúng ta thường nghe về người Hà Lan và những cái gọi là đê, cối xay gió, hoa tulips và có thể là giày gỗ. Bạn đã từng bao giờ tự hỏi tại sao những điều này được nổi tiếng. Bản đồ và mô hình dưới đây sẽ trả lời cho bạn câu hỏi này .

1. Người Hà Lan đã đẩy lùi biển

MO HINH.jpg2

Mô hình đê và đất thấp dưới mực nước biển của Hà Lan

Trên bản đồ ta thấy khoảng nửa diện tích Hà Lan nằm trên mực nước biển dưới 1m, và 1/4 lãnh thổ thực sự nằm dưới mực nước biển. Xa về phía đông đất hơi cao hơn và bằng phẳng gợn sóng. Độ cao ít khi đạt tới 50m. Đỉnh cao nhất là Vaalserberg, nằm ở cực đông nam của đất nước, cao 321m so với mực nước biển. Mặc dù đất thấp dưới mực nước biển, người Hà Lan đã thực sự sống và làm việc ở vùng này. Chúng ta cũng biết rằng Hà lan có dân số đông việc tận dụng đất sẵn có và thậm chí cải tạo đất từ biển là điều cần thiết.

Suốt dọc bờ biển của Hà Lan ta có thể trông thấy các đụn cát dài. Phía sau đụn cát, đất thấp _ thường dưới mực nước biển. Nếu biển có thể bị ngăn cản bởi những đụn cát, đất thấp có thể sử dụng cho đồng cỏ và vụ mùa. Ở Hà Lan người ta đã làm điều này bằng cách xây đê. Một số hình ảnh trên trang này cho thấy người Hà lan đã xây đê.

DE VA DAT LAN BIEN HA LAN

Đê và đất thấp dưới mực nước của biển Hà Lan

Ngoài vấn đề phòng thủ biển, vấn đề khác là làm cho vùng đất thấp sử dụng được. Đó là phải làm gì với nước mưa, nước suối tụ lại ở vùng đất thấp đàng sau đê. Việc duy nhất mà người Hà Lan đã làm là bơm nước đưa thẳng ra các kênh đào ra biển. Trong hàng trăm năm cối xay gió được sử dụng để bơm nước. Ngày nay các máy diesel và motors điện đã làm phần lớn công việc nầy và các cối xay gió đẹp như tranh biến mất dần. Thật ra, một số người Hà Lan đã thành lập một đoàn thể nhằm mục đích duy trì cối xay gió, giống nhiều với cách mà chúng ta có những đoàn thể lịch sử để duy trì những ngôi nhà cũ.

Vấn đề cuối cùng là chạm trán với nơi mà đất bị bao phủ bởi biển. Đất bị nhiễm mặn phải được rửa bằng nước ngọt và xử lý bằng hoá chất để giúp tẩy rửa đi chất muối. Người ta cũng mang đất màu mỡ từ nơi khác tới và sử dụng nhiều phân bón. Thường phải mất khoảng bốn năm để làm đất nông nghiệp tốt thoát khỏi tình trạng đáy biển trước kia. Trên bản đồ ta thấy một phần quan trọng của Hà Lan, toàn bộ vùng Flevoland và phần lớn Holland, đã được cải tạo khỏi biển. Những vùng này mệnh danh là đất lấn biển.

Mô hình trên cũng cho thấy sự khác nhau giữa mực nước biển, đất lấn biển và kênh đào. Đất lấn biển tạo thành các đồng cỏ tốt và chúng cũng tốt cho việc trồng hoa tulip và một vài vụ mùa khác. Giày gỗ rất thực tế đối việc đi bộ trên đất ẩm ướt.

Tóm lại, đê, kênh, đập, và cối xay gió là đặc điểm nổi bật của phong cảnh Hà Lan. Chúng là bộ phận của hệ thống tiêu nước cho phép Hà Lan gia tăng gần 1/5 diện tích. Quan trọng hơn, không có các hệ thống tiêu nước thường xuyên và các đụn cát bảo vệ dọc biển, gần như một nửa Hà Lan sẽ bị nước tràn ngập vào các ruộng thấp _ chủ yếu là nước biển và nhiều con sông chảy ngang qua nó. Các con kênh, sông ngòi và các nhánh biển cũng cắt ngang qua các vùng đất thấp ở phía tây.

Hệ thống Zuiderzee .

HE THONG ZUIDERZEE

Kế hoạch tham vọng nhất của Hà Lan là cải tạo vịnh Zuiderzee. Zuiderzee là một vịnh nông của Biển Bắc nằm ở tây bắc của Hà Lan, trải dài 100km, rộng 50km, sâu khoảng 4-5m và bờ biển dài 300km. Quanh Zuiderzee là nhiều làng đánh cá nhỏ và vài thành phố phát triển với hoạt động thương mại mở rộng với các nước trong vùng và về sau với nhiều nước trên thế giới khi Hà lan thiết lập nhiều thuộc địa, cụ thể là các thành phố ở Holland như Amsterdam, Hoorn, và Enkhuizen.

Trước kia bên trong vịnh Zuiderzee là bốn đảo nhỏ, các vùng còn lại là các đảo lớn hay bán đảo nối vào vùng đất chính. Những đảo này là Wieringen, Urk, Schokland và Marken. Cư dân của các đảo này sống chủ yếu vào nghề đánh cá và công nghiệp, ngày nay hoạt động này vẫn được duy trì ở Urk và Wieringen.

Thế kỷ XX một đê đóng được xây dựng để chế ngự vịnh Zuiderzee. Ngang qua cửa vịnh này người Hà Lan xây một con đê dài khoảng 32 km rộng 90m và cao hơn mực nước biển 7,25m. Đê Afsluitdijk được xây dựng năm 1927 và hoàn thành năm 1932, ngăn vịnh Zuider Zee khỏi biển Bắc Hải (chỉ để lại cửa lạch biển, trở thành một phần của Biển Wadden ). Từ thời này sang thời khác kể từ năm 1932 vịnh Zuider Zee đã trở nên nhỏ hơn bởi việc tạo đất lấn biển mới bao gồm Wieringermeer diện tích 200km2 ( đất lấn biển đầu tiên trong năm đất lấn biển được cải tạo từ một bộ phận biển ở phía nam của đảo Wieringen). Sau đó bốn đất lấn biển khác lần lượt được cải tạo là Noordoostpolder (480 km²), Eastern Flevoland (540 km² ), Southern Flevoland (430 km² ), và Markerwaard.

Kể từ khi nước biển được đẩy lui, nước của vịnh Zuider Zee trở nên ngọt hơn sau khi sông Ijssel là nhánh của sông Rhine được dẫn nước vào và nó được đặt tên là hồ Ijssel ( Ijsselmeer ). Một đài kỷ niệm được đặt ở nơi mà đê được đóng lại tiêu biểu cho tính chất của người Hà Lan. Trên bia viết “Một quốc gia sống, xây dựng cho tương lai của nó” .

DE Afsluitdijk

Đê Afsluitdijk được xây dựng năm 1927 và hoàn thành năm 1932, ngăn vịnh Zuider Zee khỏi biển Bắc Hải

Kế hoạch đập châu thổ ( Delta Project )

Tuy nhiên kế hoạch cải tạo đất lấn biển cuối cùng bị hủy bỏ vào cuối thập niên 1980. Vào năm 1953 một trận lụt tàn khốc ở vùng châu thổ Zeeland đã phá vỡ đê, các bức tường ngăn biển làm 1836 người chết, hơn 70.000 người phải di tản, 4500 toà nhà bị hủy hoại, 10.000 gia súc bị cuốn trôi. Để ngăn thảm hoạ tái diễn hệ thống phòng thủ lụt được thực hiện năm 1958 và hoàn thành trên qui mô lớn vào năm 2002, gọi là Kế hoạch đập châu thổ. Trong kế hoạch này các đụn cát dọc biển được nâng lên khoảng 5m, trong khi các đảo ở Zeeland được nối nhau lại bởi các đập và các cấu trúc xây dựng qui mô lớn khác để làm ngắn bờ biển lại. Công phu nhất và nổi tiếng nhất trong tất cả các đập này là Oosterscheldekering, có thể mở và đóng lại khi điều kiện thời tiết bất lợi. Bằng cách này đời sống sinh vật biển đằng sau đập được duy trì và việc đánh cá có thể tiếp tục, trong khi đất đằng sau đập được ngăn nước an toàn. Kế hoạch đập châu thổ là nỗ lực xây dựng lớn nhất trong lịch sử loài người và được xem là một trong bảy kỳ quan của thế giới hiện đại.

Người Hà Lan đã tranh đấu lâu dài để cải tạo đất đai của họ và bảo vệ nó sau khi nó được xây đê và tháo nước. Để xây dựng hàng ngàn dặm đê, các bức tường ngăn biển, các con kênh tiêu nước đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa dân chúng. Công việc không chỉ một người có thể làm được mà bởi nhiều người. Người Hà Lan đã học cách làm việc với nhau và vì vậy họ đã xây dựng một quốc gia hùng mạnh và đoàn kết. Lòng kiên nhẫn của họ cũng khiến họ nổi tiếng ngang bằng với hoa tulip .

DAP Oosterscheldekering

Đập Oosterscheldekering

2. Hà Lan có khí hậu ôn đới hải dương

Giống như các nước Bắc và Tây Âu, Hà Lan có khí hậu hải dương ôn hoà. Gió thường xuyên từ Bắc Hải thổi vào khiến mùa đông ở Hà Lan ấm và mùa hè mát. Do Hà Lan có ít các rào cản tự nhiên như núi cao nên khí hậu ít thay đổi từ vùng này sang vùng khác.

3. Sông ngòi, hồ, các kênh đào giúp đem đến thị trường các sản phẩm.

COI XAY SONG ALBLAS

Cối xay gió bên sông Alblas

Các sông ngòi, kênh đào không chỉ mang nước ra biển, mà còn là phương tiện vận chuyển rẻ tiền cho các sản phẩm nông nghiệp. Một trong những quang cảnh lý thú là các thuyền sơn phết nom vui mắt chở hàng hoá dọc hàng trăm các con kênh. Những thuyền này thường chở nặng phó mát, bắp cải hướng về thị trường thành phố. Người ta nói rằng không thể du hành 15 phút ở Hà Lan mà không băng qua các con sông hay kênh đào. Đôi khi vào mùa đông các con kênh đào bị đóng băng. Điều này chỉ xảy ra khi khí lạnh từ vùng nội địa châu Âu thổi quét qua Hà Lan. Lúc đó già trẻ thường ra ngoài để lướt băng trên các con kênh.

Hà Lan có vị trí thích hợp cho việc giao thông trên sông hồ và kênh rạch. Điều này là vì sông Rhine từ nội địa châu Âu chảy ra Bắc Hải qua phần nam của Hà Lan. Con sông này cùng nhiều kênh đào không những giúp vận chuyển hàng hóa của

Hà Lan mà con mang nhiều sản phẩm từ Đức, Thụy Sĩ đến Hà Lan. Ngoài ra là sông Maas (nhánh của sông Meuse ) và sông Schelde, chảy từ Bỉ sang. Cùng với vô số kênh rạch, sông ngòi đã tạo thành lối ra vào thuận tiện cho vùng nội địa châu Âu.

Về phía bắc và phía tây của Hà Lan là nhiều hồ nhỏ. Gần như tất cả các hồ lớn tự nhiên đều đã bị tháo cạn nước. Tuy nhiên, kế hoạch cải tạo đất đã tạo nên nhiều hồ nước ngọt mới, hồ lớn nhất là Ijssel.

4. Tài nguyên thiên nhiên và con nguời.

Vì đất trồng hiếm và bị khai thác triệt để, các miền thực vật tự nhiên không trải rộng do đó Hà Lan không có những rừng lớn cung cấp gỗ và vật liệu làm giấy. Rừng chủ yếu là rừng sồi, tần bì và thông được chăm sóc cẩn thận. Một số các công viên quốc gia và khu bảo tồn tự nhiên được thiết lập để bảo vệ các khu vực tự nhiên.

Các khu rừng, các đụn cát phủ đầy cỏ cao, và hoa thạch nam ở các bãi thạch nam là nơi cư trú cho hoẵng, thỏ và một số loài heo nhỏ. Riêng đất nông nghiệp, đất đồng cỏ là nơi cư trú của nhiều loài chim. Các kế hoạch phát triển thiên nhiên gần đây đã gia tăng nhiều vùng đất ẩm ướt là nơi cư trú cho nhiều loài bao gồm hải ly và rái cá.

Hà Lan từ lâu là nước nghèo khoáng sản. Than bùn được sử dụng làm nhiên liệu được khai thác ở một vài vùng, và phía nam tỉnh Limburg chứa nhiều than. Tuy nhiên mỏ than cuối cùng đóng cửa vào năm 1976. Thập niên 1950 và 1960 một lượng lớn khí thiên nhiên được khám phá ở tỉnh Groningen. Ngoài ra Hà Lan cũng khai thác dầu mỏ ở Bắc Hải. Một lượng nhỏ dầu thô và khí thiên nhiên cũng nằm ở phía đông bắc và phía tây của đất nước. Hà Lan có rất ít than và không có sắt. Công nghiệp sản xuất thép của Hà Lan phải nhập than của Đức, sắt của Thụy Điển, Pháp và Luxembourg. Mặc dù Hà Lan có nhiều nước, nhưng nước chảy chậm không tạo ra nhiều thủy điện.

Nguồn lực lớn nhất của Hà Lan là những con người tằn tiện, chăm chỉ. Qua sự nỗ lực của họ, họ đã cải tạo đất từ biển và làm cho đất sản xuất được. Thực vậy, phần lớn ngành công nghiệp của Hà Lan đều dựa vào những sản phẩm của đất, như việc làm phó mát, bơ, cô đặc sữa, làm bột và chế biến thực phẩm.

TRANH VERMEER

“ Cô gái vắt sữa ”, tranh của Vermeer ở Bảo tàng Rijks

Người Hà Lan cũng đóng góp phần lớn kiến thức của họ về tàu thủy và cách đi biển. Một số nhà hàng hải và những người vẽ bản đồ thời xưa là người Hà Lan, đối với thời này những thuyền trưởng và các thủy thủ người Hà Lan là những người đảm trách các truyền thống về nghề đi biển.

Những con người khỏe mạnh, có giáo dục, cần cù, siêng năng là nguồn lực lớn nhất của quốc gia. Trong những vùng đất thấp bằng phẳng không hấp dẫn, người Hà Lan đã phát triển một phong cảnh với nhiều vẻ đẹp. Các hoạ sĩ nổi tiếng của Hà Lan như Rembrandt đã nắm bắt được vẻ đẹp của phong cảnh và phác hoạ trên vải bố. Họ cũng nắm bắt được đặc điểm rắn chắc của công dân Hà Lan về cơ thể.

II. CÁC THÀNH PHỐ CHÍNH CỦA HÀ LAN

1. Thành phố Rotterdam.

Erasmusbrug_seen_from_Euromast rotterdam

Cầu Erasmus, thành phố Rotterdam về đêm nhìn từ tháp Euromast Space

Rotterdam là thành phố cảng lớn thứ hai của Hà Lan, nằm ở Nam Holland, bên bờ sông Nieuwe Maas. Tên Rotterdam xuất phát từ việc xây dựng một cái đập nối sông Rotte vào sông Nieuwe Maas ở thành phố.

Rotterdam đã phát triển từ một thành phố nhỏ thành một trong những thành phố cảng chính trên thế giới. Nhưng đầu thế kỷ XX , địa thế của nó đã rất khác. Sự nối liền giữa Rotterdam và Bắc Hải trở nên rất tệ. Giữa Rotterdam và biển là một vùng châu thổ lớn với nhiều kênh rạch. Để cải tiến địa thế này, vào năm 1872 một con kênh khổng lồ có chiều dài gần 15km được đào – kênh New Waterway – để giữ cho thành phố và cảng Rotterdam trở thành lối ra vào thuận tiện cho các tàu đi biển vượt đại dương vì các nhánh sông Meuse- Rhine bị nghẽn bùn. Kênh New Waterway là đường vận chuyển hàng hoá tấp nập cho cảng Rotterdam. Ở lối ra biển một hệ thống phòng lụt gọi là Maeslantkering được xây dựng, không có cầu và đường hầm ngang qua.

Vào đầu thế kỷ, nhiều bến cảng được xây dựng bên bờ sông Nieuwe Maas, nhưng vào thập niên 1960, không còn đủ chỗ để xây dựng thêm cảng. Do đó vùng đất đầm lầy giữa thành phố và biển biến thành một khu công nghiệp hỗn hợp khổng lồ, Europoort, lối vào châu Au.

Euromast Space

Tháp Euromast Space

Rotterdam có vị trí quan trọng như điểm trung chuyển hàng hoá giữa châu Âu và các vùng khác trên thế giới bằng thuyền, sà-lan trên sông, xe lửa và đường bộ. Đường xe lửa tốc hành chở hàng hoá tới Đức Betuweroute đã được xây dựng từ năm 2000. Rotterdam thường xuyên tranh đấu để duy trì địa vị hàng đầu thế giới trong việc vận chuyển các container dầu và hàng hoá. Phía tây của thành phố là nhà máy lọc dầu lớn nằm dọc theo kênh New Waterway. Tuy nhiên vì sự suy thoái của ngành công nghiệp đang diễn ra ở vùng nội địa sông Rhine cũng như sự cạnh tranh ngày càng gia tăng ở các cảng châu Âu khác đang làm xói mòn vị trí thuận lợi về lịch sử của Rotterdam.

Ngày nay Rotterdam là một thành phố lớn và hiện đại với dân số 596.407 người (2005). Nếu bạn thăm viếng Rotterdam, có lẽ giống như nhiều người, kiến trúc hấp dẫn nhất đối với bạn sẽ là tháp Euromast Space, cao 185m. Từ trên tháp cao bạn có thể quan sát được cảnh đẹp của cầu Erasmus, một cái cầu treo hiện đại còn được gọi là cầu “Swan“, quang cảnh tấp nập của cảng Rotterdam và toà nhà cao nhất thành phố Delftse Poort của công ty bảo hiểm Hà Lan, một bộ phận của tập đoàn tài chính và bảo hiểm ING (Internationale Nederlanden Group ).

2. Amsterdam : Thủ đô, thành phố lớn nhất của Hà Lan

Amsterdam là cảng biển và là thành phố lớn nhất của Hà lan, nằm ở Bắc Holland bên nhánh của hồ Ijssel gần Hague. Nó là trung tâm văn hóa tài chính và thương mại và cũng là thủ đô của Hà Lan, tuy nhiên trung tâm hành chính của quốc gia thật sự là ở Hague.

Có thời Amsterdam nằm ở Zuider Zee, nhưng ở đây nước quá nông các thuyền lớn vượt đại dương không thể vào. Vì thế những kênh đào lớn được xây dựng để nối Amsterdam thẳng đến biển Bắc Hải : Kênh Bắc Hải, mở năm 1876, Kênh Bắc Holland, mở năm 1824. Kênh Amsterdam – Rhine, mở năm 1952, nối Amsterdam tới sông Rhine là con đường

KENH Amsterdam - Rhine

Kênh Amsterdam-Rhine

huyết mạch chính của châu Âu. Nguyên vật liệu từ Đông Ấn và châu Phi được đưa tới Amsterdam để chế biến. Hai trong những sản phẩm nổi tiếng là sôcola và kim cương. Ngoài ra, các ngành công nghiệp hàng đầu của Amsterdam là đóng tàu, tinh luyện đường, in ấn, sản xuất rượu bia, máy móc, làm giấy, dệt vải, đồ sứ, máy bay, ô tô, hóa chất. Ngành du lịch và dịch vụ cũng là ngành quan trọng đối với kinh tế địa phương.

Nằm ở vị trí trung tâm của Liên minh châu Âu, Amsterdam là một trong những trung tâm thương mại quan trọng. Nhiều công ty quốc tế có trụ sở đặt tại thành phố này. Amsterdam còn là trung tâm tài chính chính của Hà Lan, nơi đặt trụ sở ngân hàng, các công ty bào hiểm lớn, thị trường chứng khoáng .

canal-100530_640

Những ngôi nhà mái có đầu hồi dể yêu nằm dọc theo các con kênh đẹp có trồng cây hai bên ở Amsterdam.

Amsterdam là một thành phố xinh đẹp có sự hỗn hợp lý thú giữa kiến trúc mới và cũ, đa phần là kiến trúc thế kỷ XVI – XVII. Nhiều ngôi nhà mái có đầu hồi dễ yêu nằm dọc theo hàng trăm kilomet kênh đào. Các con kênh đẹp có trồng hàng cây và được viền theo đó là những con đường. Bên trong thành phố là hai nhà thờ lịch sử Oude Kerk (Nhà thờ cổ ), xây dựng khoảng năm 1300 và Nieuwe Kerk (Nhà thờ mới ), xây dựng vào thế kỷ XV. Lâu đài Hoàng Gia, nguyên thủy là Toà thị chính được xây dựng vào thế kỷ XVII, đứng ở quảng trường rộng ở trung tâm thành phố.

Giethoorn, Hà Lan

Giethoorn được mệnh danh là “Venice của phương Bắc” với khung cảnh đẹp như tranh khiến khách du lịch đến đây khó lòng quên được. Đặc biệt những kênh rạch nhỏ được thay thế cho đường giao thông làm cho mỗi căn nhà đều trở thành hòn đảo riêng.

Amsterdam còn là một trung tâm văn hoá với nhiều viện bảo tàng như Bảo tàng Rijks (Rijksmuseum), nơi lưu giữ các bức tranh nổi tiếng của Rembrandt, Vermeer, và Van Gogh. Bảo tàng Van Gogh bao gồm 800 tác phẩm của danh hoạ thế kỷ XIX, Vincent van Gogh. Nhà của Rembrandt ngày nay là viện bảo tàng nổi tiếng.

Nhiều học sinh ở Amsterdam theo học một trong hai trường đại học nổi tiếng : Đại Học Amsterdam, thành lập năm 1632, là trung tâm văn hoá lớn nhất Hà Lan. Đại học Vrije là một trường do người theo đạo Can – vin thành lập năm 1880. Với dân số 739.693 người ( 2005), toàn vùng đô thị là nơi cư trú của 1,5 triệu người ), Amsterdam thực sự nhỏ hơn nhiều so với nhiều thủ đô của châu Au.

Thực vậy, bạn có thể thoải mái đi bộ tham quan trung tâm thành phố _ hay nếu bạn muốn giống như dân địa phương thực sự, thì bằng xe đạp. Ngoài ra các phương tiện giao thông khác là xe bus, và xe lửa hiện đại, xe điện nối các khu vực của thành phố lại với nhau. Xe điện ngầm chính thức hoạt động năm 2003 nối miền Bắc và Nam thành phố. Xe ô tô cá nhân bị giới hạn trong thành phố, tuy nhiên với những thành phố chật ních như Amsterdam điều đó cũng không cần thiết.

3. The Hague : Trung tâm hành chính của Hà Lan

HAGUE

Quang cảnh đường phố Hague, Hà Lan.

Amsterdam là tên thủ đô, nhưng Hague là trung tâm hành chính của Hà Lan. Hague nằm ở phía tây lãnh thổ, thuộc vùng Nam Holland. Vùng nội ô có dân số 468.624 (2005). Hague là thành phố lớn thư ba của Hà Lan sau Amsterdam và Rotterdam. Nữ hoàng sống ở Soestdijk, một tỉnh nhỏ cách Hague khoảng 480 km.

Hague là một thành phố văn hoá hơn là một trung tâm kinh tế. Có nhiều công viên và nhà thờ đẹp. Các viên chức chính phủ về hưu thường ở thành phố này. Tất cả toà đại sứ nước ngoài và các bộ đều nằm ở thành phố, Toà án quốc tế cũng toạ lạc tại đây. Đây là chi nhánh tư pháp của Liên Hiệp Quốc. Toà án này giúp dàn xếp các vụ tranh cãi giữa các quốc gia .

VUON HOA KEUKENHOF

Hoa tulip đang khoe sắc ở vườn hoa Keukenhof gần The Hague

Các thành phố ở Hà Lan nổi tiếng vì sự ngăn nắp, sạch sẽ của nó. Người ta trông thấy hoa ở các bồn bên cửa sổ của các ngôi nhà gạch hết dãy này đến dãy khác dọc theo đường phố. Mặc dù thành phố cổ xưa, có thể nói rằng nó thật sự không có xóm nhà bẩn thỉu. Mỗi thành phố đều có chuông của nó. Du khách tới thành phố đều nhớ hoài những cái chuông xinh đẹp rung lên vào mỗi giờ khác nhau ở trong ngày.

III. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Sản xuất pho mát Edam

Người Hà Lan thường nói “Thượng đế tạo nên thế giới nhưng người Hà Lan tạo nên đất nước Hà Lan”. Thật vậy, Hà Lan là một nước nhỏ với vài nguồn tài nguyên thiên nhiên, lại không được thiên nhiên ưu đãi về địa hình. Tuy nhiên người Hà Lan đã xây dựng đất nước của họ thành một trong những nước hùng mạnh nhất thế giới. Việc buôn bán với nước ngoài là cơ sở chính của kinh tế Hà Lan. Nhờ vị trí của nó ở biển Bắc Hải và nhờ vài sông lớn nhất châu Âu chảy ngang qua nó, Hà Lan có vị trí tuyệt vời cho việc vận chuyển hàng hoá ra vào nội địa châu Âu. Lợi nhuận từ hàng xuất khẩu chiếm hơn 2/5 thu nhập quốc gia.

Bất chấp sự thiếu hụt về tài nguyên thiên nhiên, Hà Lan có nền công nghiệp phát triển cao, đa dạng bao gồm công nghiệp cơ khí chính xác và hàng điện tử ( Công ty Philips ), hoá chất ( Công ty DSM ), lọc dầu (Công ty Shell ), sản xuất sắt thép, thiết bị của ngành giao thông và các máy móc lớn, thực phẩm chế biến (Công ty Unilever ), thuốc lá, máy phát điện.

CANH DONG HOA

Cánh đồng trồng hoa tulip

Mặc dù diện tích đất đai nhỏ và đông dân cư nhưng nông nghiệp Hà lan đạt năng suất cao và là nguồn xuất khẩu chính. Đất canh tác chiếm 27%. Lãnh vực nông nghiệp được cơ giới hoá cao, lực lượng lao động chỉ 3% ( 2005) nhưng cung cấp lượng lớn thực phẩm cho nhu cầu trong nước và cho xuất khẩu. Giá trị nông sản xuất khẩu của Hà Lan đứng hàng thứ ba sau Mĩ và Pháp. Phần lớn các nông trại thì nhỏ _ ít hơn 10 hecta _ nhưng mỗi hecta được tận dụng tối đa. Hoạt động nông nghiệp hàng đầu của Hà Lan là chăn nuôi bò sữa .Vùng chăn nuôi bò sữa chính nằm ở phía bắc Hà Lan. Hai thành phố sản xuất pho mát nổi tiếng là Gouda và Edam, tên của hai loại pho mát xuất phát từ thành phố này .

Các vụ mùa gồm ngũ cốc, lúa mì, khoai tây, củ cải đường, rau, trái cây, và hoa. Hà Lan nổi tiếng về các giống hoa tulip vào thế kỷ XVIII, hoa và củ vẫn còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Trung tâm sản xuất hoa tulip nằm ở giữa Haarlem và Leiden.

Vào năm 2005 tổng sản phẩm quốc nội ( GDP ) của Hà Lan đạt 624,2 tỉ USD. Khoảng 24,4% GDP tạo nên bởi ngành công nghiệp, xây dựng, và hoạt động liên quan đến ngành năng lượng ; nông nghiệp và đánh cá đóng góp 2,1% ; và lãnh vực dịch vụ bao gồm hoạt động thương mại tài chánh đóng góp 73,6%.

Là một thành viên sáng lập của Liên minh châu Âu ( EU ), Hà Lan đã thay thế tiền guilder Hà Lan bằng tiền euro ngày1/1/2002.

* Yêu cầu các bạn tham khảo bài viết nếu có copy nên trích dẫn nguồn www.cacnuocchauau.com/home. Đề tài này đã đăng ký ở Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, đã được Hội đồng khoa học thẩm định tháng 9/2006, xin đừng dùng nó lập website riêng, cướp công sức người khác, người tự trọng không làm vậy. Mỗi bài tác giả phải mất công sức dịch rất lâu, sắp xếp bố cục, lựa chọn hình ảnh thích hợp với nội dung, với tâm huyết yêu nghề  tác giả mong muốn đóng góp chút công sức biên soạn nó  dành cho các bạn yêu thích bộ môn địa lý, dùng để giảng dạy, tham khảo.