ẤN ĐỘ

PHẦN 2

E. CÁC THÀNH PHỐ LỚN CỦA ẤN ĐỘ

29 BANG AN DO

BẢN ĐỒ 29 BANG CỦA ẤN ĐỘ

Ấn Độ là một liên bang gồm 29 bang và 7 lãnh thổ liên bang.(1. Quần đảo Andaman và Nicobar 2. Chandigarh 3. Dadra và Nagar Haveli 4. Daman và Diu 5. Lakshadweep 6. Lãnh thổ thủ đô quốc gia Delhi 7. Puducherry)

Ấn Độ có ba trong những thành phố đông dân và có tính quốc tế nhất trên thế giới – Mumbai (Bombay), Kolkata (Calcutta), và Delhi. Ba thành phố khác của Ấn Độ – Bengaluru (Bangalore), Chennai (Madras), và Hyderabad.

I.  THỦ ĐÔ DELHI

Delhi, là thành phố và thủ đô, nằm ở trung bắc  Ấn Độ. Delhi thật sự gồm hai phần : Old Delhi nằm ở phía bắc, là thành phố lịch sử; và New Delhi ở phía nam. Delhi nằm hai bờ sông Yamuna, một nhánh của sông Hằng (Ganga), cách dãy Himalaya 160 km về phía nam. Về phía đông Delhi giáp với bang Uttar Pradesh, và ở phía bắc, phía tây và phía nam tiếp giáp với bang Haryana.

1/ Vị trí thành phố

TOAN CANH DELHIDelhi đã từng là trung tâm của các đế quốc và vương quốc hùng mạnh nối tiếp nhau. Nhiều di tích nằm rải rác trên toàn lãnh thổ gợi ta nhớ mãi lịch sử của khu vực. Tất cả địa điểm của Delhi nằm trong vùng tam giác khoảng 180 km2, thường gọi là tam giác Delhi. Hai cạnh của tam giác được nối nhau bởi những ngọn đồi đá Aravalli (cacnuocchauau) – một ở phía nam của thành phố, cạnh khác trên rìa phía tây của nó, nơi nó được gọi là Dãy núi Delhi (Các sườn núi là một phần mở rộng phía bắc của dãy núi cổ Aravalli. Dãy núi Delhi là lá phổi xanh cho thành phố và bảo vệ Delhi khỏi những cơn gió nóng của sa mạc Rajasthan ở phía tây). Cạnh  thứ ba của tam giác được hình thành bởi sông Yamuna. Giữa dòng sông và những ngọn đồi là vùng đồng bằng phù sa rộng; độ cao của vùng lãnh thổ này trong khoảng từ 200 đến 300 m.

sau dongCác rặng núi và sườn đồi của thủ đô có rất nhiều cây gai, như keo, cũng như các loài thân thảo theo mùa. Cây xixu ( sissoo), một loại gỗ quý của Ấn Độ, thường được tìm thấy ở vùng đồng bằng. Thảm thực vật ven sông, bao gồm cỏ dại và cỏ, bên bờ sông Yamuna. New Delhi nổi tiếng vì loại cây có hoa cho bóng mát, chẳng hạn như cây thường xanh (sầu đâu, một cây chịu hạn có trái màu vàng nhạt), Jaman (trâm mốc; cây với quả như chùm nho ăn được) (cacnuocchauau), xoài, bồ đề (Ficus religiosa ; Quả của cây bồ đề là loại quả nhỏ giống quả vả đường kính 1-1,5 cm có màu xanh lục điểm tía.). Nó cũng nổi tiếng với thực vật có hoa bao gồm hoa cúc, hoa trúc đào, viola ( hoa màu vàng, trắng, tím), và cỏ đuôi ngựa (verbenas – loại cây thảo mọc ở vườn có hoa nhiều màu).

Đời sống động vật của thủ đô, giống như đời sống thực vật của nó, khá đa dạng. Trong số các loài động vật ăn thịt là loài báo, linh cẩu, cáo, chó sói và chó rừng, sống trong vùng khe núi và đồi. Lợn rừng đôi khi được phát hiện dọc theo bờ sông Yamuna. Khỉ được tìm thấy trong thành phố, đặc biệt là xung quanh một số trong những ngôi đền và di tích lịch sử. Đời sống loài chim khá phong phú; loài quanh năm bao gồm chim bồ câu, chim sẻ, diều hâu, vẹt, gà gô, chim cút bụi, và, trên rặng núi, là loài công. Những hồ xung quanh thành phố thu hút các loài theo mùa. Cá có rất nhiều ở sông Yamuna, và cá sấu thỉnh thoảng cũng được tìm thấy ở đó.

2/ Khí hậu

Khí hậu của Delhi đặc trưng bởi tình trạng khô khắc nghiệt, với mùa hè nóng dữ dội. Nó kết hợp không khí lục địa, di chuyển từ phía tây hoặc tây bắc vào, ngoại trừ trong mùa gió mùa, khi khối khí đại dương từ hướng đông tới đông nam tràn vào mang theo mưa và làm độ ẩm tăng lên. Mùa hè kéo dài từ giữa tháng Ba đến cuối tháng Sáu, với nhiệt độ tối đa thường khoảng khoảng 37 ° C và nhiệt độ tối thiểu khoảng 25 ° C; đặc trưng bởi dông thường xuyên và gió mạnh, đặc biệt là trong tháng Tư và tháng Năm. Mùa gió mùa thường bắt đầu vào tháng Bảy và tiếp tục cho đến cuối tháng Chín. Trong những tháng này Delhi nhận được lượng mưa lớn 600 mm, hay gần ba phần tư lượng mưa trung bình hàng năm. Tháng Mười và tháng Mười Một là giai đoạn chuyển tiếp từ mùa gió mùa tới mùa đông. Mùa đông khô kéo dài từ cuối tháng Mười Một đến giữa tháng Ba. Tháng lạnh nhất là tháng Giêng, với nhiệt độ cao nhất khoảng 21 ° C và nhiệt độ thấp nhất khoảng 7 ° C.

3/ Bố cục thành phố

dinh tong thong an doHầu hết các phố Old Delhi có xu hướng bất thường theo hướng, chiều dài, chiều rộng. Lối đi hẹp và quanh co, các hẻm cụt, hẻm, và đuờng phụ tạo thành một ma trận phức tạp mà  làm cho phần lớn Old Delhi chỉ có thể dễ giao thông cho người đi bộ. Ngược lại, các khu Dân sự (khu dân cư được xây dựng bởi người Anh cho cán bộ cao cấp) ở phía bắc và ở phía nam New Delhi thể hiện không gian tương đối mở, đặc trưng bởi cỏ xanh, cây xanh, và một cảm giác thứ tự.

dia lo Raj pathKhi quyết định đã được đưa ra vào năm 1911 để chuyển thủ đô của Ấn Độ thuộc Anh từ Calcutta ( bây giờ là Kolkata ) đến Delhi, ủy ban kế hoạch được hình thành, và một địa điểm 5 km về phía nam của thành phố Delhi hiện hữu, quanh Đồi Raisina, được chọn cho trung tâm hành chính mới. Một khu vực trong lành, thoát nước tốt giữa dãy núi Delhi và sông Yamuna, được chọn để mở rộng (cacnuocchauau). Đồi Raisina, nhìn ra toàn bộ khu vực, cao 15m trên đồng bằng bên dưới, nhưng đỉnh cao 6m bị phá đi  để làm thành một một khu vực rộng lớn bằng phẳng cho các tòa nhà chính phủ và để lấp vào các chỗ lõm.

connaugh Place

Dự án New Delhi đặc trưng bởi các đại lộ thẳng rộng, với hai hàng cây ở cả hai bên, kết nối những nơi quan trọng và tạo khung cảnh cho khu vực xung quanh. Các đặc điểm nổi bật nhất của dự án, ngoài mô hình đường chéo của nó, là Rajpath, một đại lộ trung tâm rộng lớn ở New Delhi từ Sân vận động Quốc gia trải dài về phía tây, xuyên qua Cung đài tưởng niệm chiến tranh của Ấn độ (thường được gọi là Cổng Ấn Độ ), tới các Dinh Bí thư Trung ương và DinhTổng thống (Rashtrapati Bhavan). Đây là trục đông – tây chính; nó chia New Delhi thành hai phần, một khu mua sắm lớn và khu vực kinh doanh, trung tâm tài chính thương mại Connaught Place (cacnuocchauau), ở phía bắc và khu vực dân cư rộng lớn ở phía nam.

4/ Con người

Trong lịch sử nhân khẩu học của Delhi, một bước ngoặt là năm 1947, khi hàng ngàn người đạo Hindu và đạo Sikh tị nạn từ Hồi giáo Pakistan vào thành phố trong sự trỗi dậy độc lập của Ấn Độ. Kể từ thời điểm đó dân số đã tăng đều đặn, với dòng người nhập cư liên tục, hầu hết đến từ các tiểu bang khác của Ấn Độ hoặc từ các nước lân cận. Vào năm 2011 dân số Delhi là khoảng 16,3 triệu và là thành phố đông dân thứ nhì tại Ấn Độ. Phát triển đô thị tại Delhi về bản chất đã vượt khỏi ranh giới hành chính của lãnh thổ, kết hợp với các đô thị thuộc các bang lân cận, có thể tính đại đô thị có khoảng 25 triệu cư dân vào năm 2014.

Karol baghCộng đồng người nhập cư (hoặc nước ngoài) thường được tìm thấy trong các khu nhà ở mới hơn. Chanakyapuri ( tên thường gọi là Nhóm tách biệt Ngoại giao), chẳng hạn, là nơi của nhiều đại sứ quán nước ngoài.  Sự tập trung của các cộng đồng dân tộc cụ thể đã hình thành trong các vùng như Chittaranjan  và Karol Bagh (cacnuocchauau); trước đây là phân khu chủ yếu Bengali và sau là phân khu Punjabi. Tuy nhiên, khu vực như vậy đã được đa dạng hóa từ những năm cuối thế kỷ 20.

Các thành phần tôn giáo của dân Delhi cũng đa dạng. Phần lớn cư dân là người theo đạo Hindu. Tín đồ Hồi giáo chiếm thiểu số lớn nhất, tiếp theo là một số lượng nhỏ người Sikh, Kỳ Na Giáo, Kitô giáo và Phật giáo.

5/ Kinh tế

Ngành dịch vụ là một phần quan trọng nhất của nền kinh tế Delhi, và nó là nhà tuyển dụng công nhân lớn nhất của thành phố. Sản xuất vẫn duy trì tầm quan trọng, sau khi tăng trưởng trong những năm 1980. Nông nghiệp có thời đóng góp đáng kể cho nền kinh tế của thủ đô, nhưng bây giờ nó không quan trọng lắm.

Phần lớn lao động của Delhi là tham gia vào thương mại, tài chính, hành chính công, dịch vụ chuyên nghiệp, dịch vụ cá nhân và xã hội. Thật vậy, trong nhiều thế kỷ Old Delhi đã là trung tâm kinh doanh, thương mại ở miền bắc của Ấn Độ. Kể từ thập niên 1990 New Delhi đã nổi lên như là một trung tâm quan trọng của mạng lưới  kinh doanh và tài chính quốc tế.

++ Công nghiệp : Cơ giới hoá công nghiệp đã xuất hiện ở Delhi vào đầu thế kỷ 20 và tập trung vào việc cán bông, kéo sợi, dệt vải; nghiền bột và đóng gói; và ép mía và dầu. Gần đây, các mặt hàng điện tử và công nghệ, phụ tùng ô tô, dụng cụ chính xác, máy móc, thiết bị điện đã chuyển đến các trung tâm sản xuất của thành phố, mặc dù sản xuất hàng may mặc, các sản phẩm thể thao liên quan, và hàng da cũng rất quan trọng.

tuong dieu khacDelhi từ lâu đã nổi tiếng với các tác phẩm nghệ thuật thủ công của nó, chẳng hạn như chạm khắc ngà voi và tranh vẽ, điêu khắc, tác phẩm điêu khắc các loại khác nhau, bức hoạ nhỏ, đồ trang sức, gấm thêu kim tuyến vàng và bạc,  và tác phẩm nghệ thuật bằng kim loại. Các mặt hàng kể trên là một phần nhỏ nhưng quan trọng của lĩnh vực sản xuất của Delhi.

++ Tài chính và các dịch vụ khác: Vị trí của Delhi như thủ đô quốc gia và như thành phố công nghiệp chủ yếu đã hỗ trợ hoạt động của nó như nghiệp vụ ngân hàng, bán sỉ, và trung tâm phân phối. Thành phố này là trụ sở của Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ và các văn phòng khu vực của Ngân hàng Nhà nước Ấn Độ và các tổ chức ngân hàng khác. Nhiều ngân hàng nước ngoài cung cấp vừa là dịch vụ bán lẻ vừa của công ty cũng có các chi nhánh trong thành phố. Delhi là một trụ sở các doanh nghiệp bảo hiểm và là nhà của thị trường chứng khoán Delhi (cacnuocchauau). Thành phố từ lâu đã hoạt động như một trung tâm phân phối chính cho phần lớn miền bắc Ấn Độ, với phần lớn ngành kinh doanh hoạt động ở khu vực Old Delhi, nơi mà hầu hết các thị trường tập trung. Ngoài các dịch vụ tài chính và thương mại của mình, Delhi là nơi mà ngành công nghiệp du lịch phát triển mạnh, nhanh chóng kể từ cuối thế kỷ 20.

6/ Đời sống văn hoá

Đời sống văn hóa của New Delhi thể hiện một sự pha trộn độc đáo của phong cách truyền thống và quốc tế. Thành phố rải rác những viện bảo tàng, pháo đài lịch sử và các di tích, các thư viện, các khán phòng, vườn thực vật, và những nơi thờ phượng. Cũng phản ánh sự đa dạng văn hóa và phong cách của Delhi là nhiều hội chợ và lễ hội của nó. Chúng bao gồm liên hoan phim hàng năm cũng như nhiều chủng loại thương mại và hội chợ sách. Các nhóm tôn giáo khác nhau ở Delhi đóng góp hàng loạt lễ hội tôn giáo và lễ kỷ niệm.

a/ Kiến trúc

seljud 1Lịch sử đầy đổi thay đã để lại phía sau nó một di sản kiến trúc phong phú ở Delhi. Các tòa nhà lâu đời nhất ở thành phố thuộc thời kỳ Hồi giáo đầu tiên; tuy nhiên, chúng  không đồng nhất trong xây dựng hoặc trong trang trí. Sự ảnh hưởng các thợ thủ công người Ấn triều đại Rajput (các nhà cai trị Rajput thống trị nhiều vùng miền trung và miền bắc Ấn Độ, bao gồm các vùng phía đông của Pakistan ngày nay.) có thể nhìn thấy trong các họa tiết tự nhiên, các tua ngoằn ngoèo, và ngay cả những đường cong các chữ cái của chữ khắc kinh Qur’an. Một số nghệ sĩ, nhà thơ, và các kiến trúc sư từ Trung Á đã mang theo kiến trúc Seljuq truyền thống ( tên một kiến trúc thời đế quốc Seljuq Thổ Nhĩ Kỳ cai trị phần lớn Trung Đông và Anatolia tk 11- 13), đặc trưng bởi một nụ sen viền trên mặt dưới của mái vòm, phù điêu trang trí, gạch đặt châu vào nhau và theo chiều dọc ở cả các đường cong và  trong các khối xây đối mặt.

Qutb Minarseljud 2

Thời Khaljīs (1290-1320), một cách thức biểu đạt đặc trưng, gọi là phong cách Pashtun, đã được thiết  lập trong kiến trúc Hồi giáo. Trong số đặc điểm điển hình của phong cách này là bề mặt sa thạch đỏ với hoa văn khảm cẩm thạch trắng, mái vòm có hình dạng móng ngựa nhọn, cửa sổ được lắp những màng chắn đụt lỗ, và  trang trí phức tạp bằng những đường uốn lượn và các chữ viết đầy cảm hứng.  Ví dụ về kiến trúc Pashtun (cacnuocchauau)  thời kỳ đầu ở Delhi bao gồm các nhà thờ Hồi giáo Quwat-ul-; tháp Qutb Minar ( giáo đường Hồi giáo cao 73m, cao nhất thế giới),  cùng với các di tích xung quanh của nó, đã được công nhận là di sản thế giới của UNESCO; ngôi mộ của Iltutmish; và Cổng Ala’i. Phong cách hậu Pashtun tiêu biểu bởi các lăng mộ của triều đại Sayyid (1414-1451) và lăng mộ các vua triều đại Lodi (1451-1526); những lăng mộ này thể hiện hoặc là một hình bát giác thấp hoặc một kiến trúc vuông cao, mặt tiền của các lăng mộ này ngày nay bị phá vỡ bởi các kiến trúc nằm ngang và hàng chuỗi các panel mà được cho là có một kiến  trúc lớn hơn nhiều.

HumayunVí dụ đầu tiên của kiến trúc Mughal ở Delhi là lăng mộ của Humayun. Lăng mộ này chính là tiền thân của đền Taj Mahal. Lăng mộ Humayun có 2 tầng, và có hồ rộng mênh mông ở trước mặt, trên tầng 2 có các cánh cửa lúc nào cũng mở ra (kể cả ban đêm), cả tầng 1 cũng có các cánh cửa mở toang. Nó có những mái vòm cao và mái vòm đôi với kiến trúc Ấn Độ. Trong số kiến trúc Mughal đẹp nhất tiêu biểu là Pháo đài Đỏ (Lal Qila). Bức tường đá sa thạch đỏ đồ sộ của pháo đài, cao 23 m, bao bọc xung Red fortquanh các cung điện và phòng giải trí phức hợp, các ban công nhô ra, phòng tắm và các kênh rạch bên trong nhà và khu vườn hình học, cũng như một nhà thờ Hồi giáo trang trí công phu. Trong số các công trình nổi tiếng nhất của khu phức hợp Pháo đài đỏ là Phòng họp (Diwan-i-Am), trong đó có 60 trụ cột đá sa thạch đỏ chống đở một mái nhà bằng phẳng, và một phòng tiếp khách riêng (Diwan-i-Khas), với sảnh đường bằng đá cẩm thạch trắng (cacnuocchauau).Diwaniam

Giáo đường Jama Masjid là một ví dụ điển hình của một nhà thờ Hồi giáo Mughal lớn nhất Ấn Độ, do hoàng đế Mughal Shah Jahan cho xây dựng. Nhà thờ Hồi giáo được hoàn thành năm 1656 sau Công Nguyên với ba cửa lớn, bốn tháp và hai tháp giáo đường cao 40 m xây dựng bằng đá sa thạch đỏ và cẩm thạch trắng. Sân trong có sức chứa hơn 25.000 người. Có ba mái vòm trên sân thượng được bao quanh bởi hai tòa tháp giáo đường. Cả hai lăng mộ Humayun và Pháo đài Đỏ là di sản thế giới của UNESCO.

stepwell in Red FortGiếng bậc thang (hoặc baolis) cũng là di sản kiến trúc phong phú của Delhi. Các kiến trúc này là kỳ công kỹ thuật phức tạp và là ví dụ đặc biệt về phong cách Ấn Độ và Hồi giáo. Họ đã đào một số tầng ngầm để tiếp cận với mực nước ngầm thay đổi thất thường. Mặc dù mỗi giếng bậc thang thay đổi phong cách, tất cả chúng kết hợp chặt chẽ với dãy bậc thang dẫn xuống bề mặt nước. Hai ví dụ về giếng bậc thang ở Delhi là Agrasen ki Baoli và Gandhak ki Baoli.

stepwell in Rajasthan  * Stepwell (Tạm dịch: “Giếng bậc thang”) là một cái giếng lớn mà ở đó, người lấy nước phải bước xuống hàng trăm bậc thang. Khi đứng trên miệng giếng, chúng ta sẽ có cảm giác hơi rùng mình bởi đáy giếng như mất hút khỏi tầm mắt. Công trình vực thẳm được điêu khắc và trang trí công phu bởi bàn tay con người.  Ở quốc gia đầy sa mạc như Ấn Độ, người ta phải xuống sâu đến 9 tầng mới thấy nước mấp mé ở các bậc thang. Vào mùa mưa, mực nước tăng đáng kể và những bậc thang lại chìm trong nước. Khi mực nước giảm xuống, những bậc thang lại lộ dần ra.

Các phong cách kiến trúc của Anh kết hợp với thuộc địa Anh và các yếu tố Mughal, tiêu biểu là Dinh Tổng thống (Rashtrapati Bhavan) và toà nhà Quốc hội và Bí thư . Từ khi độc lập Ấn Độ đã nhằm phát triển kiến trúc riêng của mình trong một tổng hợp giữa phong cách phương Tây và địa phương. Ở Delhi ví dụ về kiến trúc như vậy có thể được nhìn thấy trong tòa nhà Tòa án tối cao, Vigyan Bhavan (một trung tâm hội nghị), Bảo tàng Thủ công mỹ nghệ, văn phòng của các Bộ khác nhau, và các tòa nhà của các cơ quan gần Connaught Place ( trung tâm tài chính thương mại gọi tắt là CP). Từ cuối thế kỷ 20, một số kiến trúc sư Ấn Độ và nước ngoài đã mở rộng xây dựng cảnh quan thành phố có thể được coi là hậu hiện đại (pha trộn nhiều yếu tố có nguồn gốc đa dạng) trong phong cách. Đáng chú ý trong số này là Viện Miễn dịch học, trụ sở của Tổng công ty Bảo hiểm nhân thọ của Ấn Độ, các tòa nhà của Đại sứ quán Bỉ, và đền thờ Ấn Độ giáo Baha’i.

b/ Các cơ quan văn hóa

Bronze statue Shiva at national museum DehliDelhi là nhà của một số bảo tàng quan trọng và trung tâm văn hóa tấp nập. Bảo tàng Quốc gia  Ấn Độ, Phòng trưng bày Mỹ thuật Hiện đại (cacnuocchauau), Trung tâm mỹ thuật Quốc gia Indira Gandhi được dành riêng cho việc bảo quản và phổ biến các di sản mỹ thuật của đất nước. Bảo tàng Thủ công mỹ nghệ trưng bày điêu khắc Ấn Độ, tác phẩm mỹ thuật bằng kim loại, tranh, và hàng thủ công khác; cơ quan này thường xuyên tổ chức các sự kiện mà tại đó các thợ thủ công địa phương thể hiện nghệ thuật của họ và bán sản phẩm của mình. Siri Fort Auditorium là một trung tâm quan trọng cho các sự kiện văn hóa lớn. Pragati Maidan, một trung tâm văn hóa thương mại đẳng cấp thế giới và, là một địa điểm nổi bật nơi các sự kiện và triển lãm có quy mô quốc tế được tổ chức trong suốt cả năm. Dilli Haat là một chợ nổi tiếng cung cấp một phạm vi đa dạng hàng thủ công mỹ nghệ và món ăn từ các bang khác nhau.

Ngoài bảo tàng, các khán phòng, và các trung tâm văn hóa khác, Delhi là một thành phố của những khu vườn và đài phun nước, đáng chú ý nhất trong số đó là Vườn Roshan Ara và Vườn Mughal được thiết kế tỉ mỉ. Nhiều khu vực công viên và vườn mở rộng xung quanh di tích lịch sử, chẳng hạn như các Vườn Lodi (quanh các lăng Lodi) và Sân bóng cricket Firoz Shah Kotla (quanh cột của vua Ashoka). Dọc theo bờ sông Yamuna, đài tưởng niệm nằm trong khu vườn hoa đã được xây dựng cho nhiều nhà lãnh đạo quốc gia thế kỷ 20. Trong số này có Raj Ghat (tôn vinh Mahatma Gandhi), Shanti Vana (tôn vinh Jawaharlal Nehru), và Vijay Ghat (tôn vinh Lal Bahadur Shastri).

1/ THÀNH PHỐ MUMBAI

Mumbai mapMumbai, trước đây là Bombay, thành phố, thủ phủ của bang Maharashtra, miền tây nam Ấn Độ. Đây là trung tâm tài chính và thương mại của đất nước và cảng chính trên biển Ả Rập.

Nằm trên bờ biển bang Maharashtra, Mumbai là thành phố đông dân của Ấn Độ, và là một trong những khu đô thị dân cư lớn nhất và đông dân nhất trên thế giới. Nó được xây dựng từ thời cổ đại, và mang tên của nữ thần địa phương Mumba – một hoá thân của Parvati, vợ của Shiva, một trong những vị thần chính của Ấn Độ giáo, hiện nay ngôi đền thờ ông đặt ở đông nam thành phố. Trong thời kỳ thuộc địa của Anh nó được gọi là Bombay, tên đó có thể là sự sửa đổi sai lạc Anh hoá từ Mumbai hoặc có lẽ là Bom Baim (“Good Harbour”), được cho là một tên Bồ Đào Nha cho địa phương. Tên Mumbai đã được phục hồi chính thức vào năm 1995, mặc dù Bombay vẫn áp dụng phổ biến.

Mumbai, từ lâu là trung tâm của ngành công nghiệp dệt bông của Ấn Độ,  sau đó phát triển sang một lĩnh vực sản xuất rất đa dạng bao gồm các thiết bị công nghệ thông tin ngày càng quan trọng (CNTT). Ngoài ra, các tổ chức thương mại và tài chính của thành phố ngày càng phát triển, và Mumbai phục vụ như là trung tâm tài chính của đất nước. Tuy nhiên nó tồn tại một số các vấn đề luôn tái diễn của nhiều thành phố công nghiệp mở rộng: không khí và nguồn nước ô nhiễm, khu vực rộng các ngôi nhà lụp xụp, và quá đông đúc. Vấn đề cuối cùng rất trầm trọng do giới hạn tự nhiên các đảo của thành phố.

1/ Vị trí thành phố

Worli, MumbaiThành phố Mumbai nằm trên bán đảo Bombay, một vùng đất ban đầu gồm bảy hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi bờ biển Konkan miền tây Ấn Độ. Từ thế kỷ 17 các đảo nhỏ đã được nối lại thông qua dự án thoát nước và cải tạo,  cũng như thông qua việc xây dựng các con đường và các đê chắn sóng, để tạo thành đảo Bombay. Phía đông của đảo là vùng biển được che chở của cảng Mumbai. Đảo Bombay bao gồm một đồng bằng trũng thấp, khoảng một phần tư trong số đó nằm dưới mực nước biển; đồng bằng đó nằm bên sườn đông và tây của hai dãy núi song song và đồi thấp. Mũi Colaba, là mũi đất hình thành cực nam của các dãy núi dài hơn, bảo vệ cảng Mumbai khỏi biển khơi.

Kanjur Marg, MumbaiSườn núi phía tây kết thúc tại đồi Malabar, đồi này nhô cao 55 m trên mực nước biển, là một trong những điểm cao nhất ở Mumbai. Giữa Mũi Colaba và đồi Malabar là một vịnh nông, Vịnh Back ( Back Bay). Trên một dải đất hơi nhô cao giữa đầu của vịnh Back và các bến cảng là một khu vực được gọi là Pháo Đài, nơi đặt các pháo đài của Anh vào thế kỷ 17 ( một ít trong số đó vẫn còn đứng vững ) bên trong và xung quanh là  thành phố phát triển; khu vực này hiện đang chiếm chủ yếu là cơ quan công cộng và thương mại. Từ Vịnh Back đất trải dài về phía bắc đến đồng bằng trung tâm. Phần cực bắc của Mumbai là đầm nước mặn lớn.

cave temple 1Thành phố cổ bao phủ khoảng 67 km2, kéo dài từ Mũi Colaba phía nam của đảo Bombay đến các khu vực được gọi là Mahim và Sion trên bờ biển phía bắc của nó. Năm 1950 Mumbai mở rộng về phía bắc, gồm luôn đảo lớn Salsette, được nối vào đảo Bombay bởi một đường đắp cao. Đến năm 1957 một số quận trực thuộc ở ngoại ô và một số làng lân cận trên đảo Salsette đã được sáp nhập thành Đô thị Mumbai – khu vực đô thị xung quanh đảo Bombay và chính thành phố. Kể từ Đô thị đó Mumbai đã tiếp tục mở rộng.

cave temple 2Vẻ đẹp tự nhiên của Mumbai vượt trội hơn so với  hầu hết các thành phố khác trong khu vực này. Lối vào cảng Mumbai từ biển phơi bày một bức tranh toàn cảnh tráng lệ bởi dãy núi Ghats Tây trên đất liền. Bến cảng rộng, ăn sâu vào đảo và lấm chấm những cánh buồm trắng của vô số con tàu nhỏ, cung cấp nơi trú ẩn an toàn cho các tàu biển, đặc biệt là khi bão quét vào bờ biển. Lớn nhất trong số các đảo của cảng là đảo Elephanta, nơi nổi tiếng với hệ thống các ngôi đền hang động điêu khắc vào đá  thế kỷ 8 và thứ 9. Hệ thống gồm hai nhóm động; nhóm thứ nhất là 5 động lớn gồm các điêu khắc trên đá, đại diện giáo phái Hindu Shaiva, thờ thần Shiva, nhóm thứ hai nhỏ hơn gồm hai động Phật giáo.

Các cây tiêu biểu trong thành phố bao gồm dừa, xoài, me, và cây đa. Đảo Salsette đã từng là nơi trú ẩn của động vật hoang dã như hổ, báo, chó rừng, và nai, nhưng chúng hiện nay không còn nửa. Động vật hoang dã hiện nay còn tồn tại là bò, cừu, dê, và các loài khác trong nước, cũng như khỉ. Các loài chim bao gồm kền kền, chim bồ câu, chim công, sếu, vịt.

2/ Khí hậu

Khí hậu của Mumbai ấm áp và ẩm ướt. Có bốn mùa. Thời tiết mát thịnh hành từ tháng Mười Hai đến tháng Hai và thời tiết nóng từ tháng Ba đến tháng Năm. Mùa mưa, do gió mùa tây nam mang đến, kéo dài từ tháng Sáu đến tháng Chín và theo sau đó là mùa thu, kéo dài từ tháng Mười đến tháng Mười Một,  khi thời tiết lại nóng. Nhiệt độ trung bình hàng tháng thay đổi từ 33 ° C vào tháng Năm tới 19 ° C vào tháng Giêng. Lượng mưa hàng năm là khoảng 1.800 mm, riêng Tháng Sáu mưa trung bình là 600 mm.

3/ Bố cục thành phố

narrow street MumbaiKhu vực cổ của Mumbai phần nhiều có nhà cửa chen chúc nhau và không có thảm thực vật, nhưng các khu vực giàu có hơn, chẳng hạn như Đồi Malabar, có chứa một số cây xanh; nhiều sân chơi mở và công viên. Trong quá trình mở rộng đô thị, một số khu vực dân cư của Mumbai (cacnuocchauau) đã rơi vào tình trạng của hư hỏng nghiêm trọng, trong khi ở khu vực khác cụm nhà tạm (thường là của những người chiếm đất bỏ hoang định cư bất hợp pháp) đã phát sinh để cung cấp nơi ăn chốn ở cho dân số gia tăng của thành phố. Hơn nữa, một số lượng đáng báo động của ô nhiễm không khí và nước đã được tạo ra bởi nhiều nhà máy của Mumbai, bởi số lượng ngày càng tăng của xe cộ giao thông, và các nhà máy lọc dầu gần đó.

Mumbai slumTrung tâm tài chính nằm ở phần phía nam của thành phố, ở khu vực Pháo Đài. Xa về phía nam (quanh Colaba) (cacnuocchauau) và phía tây dọc theo bờ biển Vịnh Back và Đồi Malabar là khu dân cư. Về phía bắc của Pháo Đài là khu kinh doanh chính, dần dần hoà vào khu vực thương mại dân cư. Hầu hết các nhà máy cũ nằm ở khu vực đó của thành phố. Vẫn xa hơn về phía bắc là nhiều khu dân cư hơn, và xa hơn nữa đó là khu công nghiệp mới cũng như một số khu vực bất hợp pháp và các khu vực quá đông đúc và nhà ở tồi tàn.

Nhà ở phần lớn thuộc sở hữu tư nhân, mặc dù có một số nhà ở công cộng được xây dựng bởi chính phủ thông qua các tập đoàn nhà nước tài trợ hoặc hợp tác xã tư nhân với công quỹ. Mumbai thì vô cùng đông đúc, và nhà ở khan hiếm đối với những ai không  giàu có. (Vì lý do đó, các công ty thương mại và công nghiệp đã thấy ngày càng khó khăn để thu hút đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, kỹ thuật, quản lý cấp trung.). Trong một nỗ lực để ngăn chặn sự di trú liên tục của lao động phổ thông đã làm tăng dân nghèo và vô gia cư của thành phố, nhà hoạch định thành phố đã khuyến khích các doanh nghiệp đặt vị trí ở bên kia Cảng Mumbai – đáng chú ý là ở Navi (“New” Mumbai) và đã cấm việc phát triển và mở rộng các cơ sở công nghiệp trong thành phố; tuy nhiên,  những nỗ lực của họ đã  phần lớn bất thành.

ga xe lua MumbaiKiến trúc của Mumbai là một hỗn hợp của phong cách cầu kỳ Gothic Revival – đặc trưng của Hoa Kỳ và Anh trong thế kỷ 18 và 19 – và thiết kế hiện đại. Nhiều tòa nhà ở và thương mại được xây dựng theo phong cách Victoria Gothic trong thời gian cai trị của Anh vẫn đứng vững ngày hôm nay – đáng chú ý nhất là Chhatrapati Shivaji Terminus (trước đây là Victoria Terminus), nhà ga xe lửa chính của thành phố và trụ sở chính của công ty đường sắt miền Trung Ấn Độ (cacnuocchauau). Các tòa nhà hành chính và thương mại cổ hơn hoà lẫn với tòa nhà chọc trời và các toà nhà khối bê – tông nhiều tầng.

4/ Con người

Mumbai slum 2Vào năm 1940 dân số Mumbai ổn định nếu không có sự gia tăng dân số thần kỳ. Bước vào thế kỷ 20 dân số của nó là 850.000 người, khoảng năm 1950 nó đã tăng hơn gấp đôi, và trong vòng 50 năm sau đó, tăng gần gấp 10 lần, vượt quá 16 triệu. Dân số tiếp tục tăng vào thế kỷ 21. Tỷ lệ sinh của thành phố là thấp hơn nhiều so với cả nước nhờ các chương trình kế hoạch hoá. Tốc độ tăng dân số cao chủ yếu là do các dòng người tìm kiếm việc làm. Do địa hình hạn chế của thành phố, việc tăng dân số của Mumbai đã đi kèm với sự gia tăng đáng kinh ngạc về mật độ dân số. Vào những năm đầu thế kỷ 21 thành phố đã đạt bình quân 29.500 người / km2. Trong nhiều khu vực cổ của thành phố là nơi cư trú đặc biệt dày đặc; các khu vực giàu có gần Back Bay dân cư ít đông đúc.

Thành phố này là thực sự có tính quốc tế, và các đại diện của hầu hết các tôn giáo và khu vực trên thế giới có thể được tìm thấy ở đó. Gần một nửa dân số là Ấn Độ giáo. Tôn giáo thiểu số quan trọng bao gồm người Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Phật giáo, Kỳ Na Giáo, Sikh, Bái hoả giáo, và Do Thái giáo (cacnuocchauau). Hầu hết các ngôn ngữ Ấn Độ và nhiều ngoại ngữ được nói ở Mumbai. Ngôn ngữ Maratha, ngôn ngữ hành chính, là ngôn ngữ Ấn Độ chiếm ưu thế, sau đó là ngôn ngữ Gujarati, Hindi, và Bengali (Bangla). Ngôn ngữ khác bao gồm Pashto, tiếng Ả Rập, Trung Quốc, Anh, và tiếng Urdu.

 5/ Nên kinh tê

Mumbai là trung tâm kinh tế và trung tâm thương mại và tài chính của Ấn Độ.

++ Sản xuất và công nghệ : Mặc dù ngành công nghiệp dệt, mà nhờ nó Mumbai thịnh vượng trong thế kỷ 19, vẫn còn quan trọng cho nền kinh tế của thành phố, nó đã mất đi nhiều cơ sở cho các ngành công nghiệp mới, đặc biệt là kể từ cuối thế kỷ 20. Sản xuất kim loại, hóa chất, ô tô và điện tử cùng với một loạt các ngành công nghiệp phụ trợ hiện nay là công việc kinh doanh chính của thành phố. Các hoạt động sản xuất khác, như chế biến thực phẩm, sản xuất giấy, in ấn và xuất bản, cũng là nguồn thu nhập đáng kể.

Sau nhiều năm tụt hậu so với các thành phố khác như Bengaluru (Bangalore) và Hyderabad, Mumbai đã bắt đầu phát triển các lĩnh vực công nghệ thông tin riêng (CNTT) của nó trong những năm cuối thế kỷ 20. Các công ty công nghệ được khuyến khích di dời đặc biệt là về các vùng ngoại ô phía bắc và đông, kéo theo đó là sự cải thiện cơ sở hạ tầng và giá thuê thấp. Đáng chú ý là một khu vực kinh tế đặc biệt được thiết lập ở phía bắc của thành phố trong năm 2000 và điều kiện thuận lợi cho các công ty CNTT ở Navi Mumbai.

++Tài chính và các dịch vụ khác : Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ, ngân hàng trung ương của nước này, nằm ở Mumbai. Một số ngân hàng thương mại khác, một công ty bảo hiểm nhân thọ nhà nước, và các tổ chức tài chính đầu tư dài hạn khác nhau cũng có trụ sở tại thành phố. Tất cả những tổ chức đã thu hút được các dịch vụ tài chính và kinh doanh lớn đến Mumbai.

Thị trường chứng khoán Bombay là chứng khoán hàng đầu và chia sẻ thị trường của đất nước. Mặc dù một số trung tâm kinh tế mọc lên trên khắp đất nước từ khi độc lập và làm giảm tầm vóc thị trường chứng khoáng của nó trước độc lập, nó vẫn là trung tâm ưu việt về khối lượng tài chính và các doanh nghiệp khác vẫn tiến hành công việc kinh doanh giao dịch và phục vụ như là một phong vũ biểu của nền kinh tế của đất nước.

6/ Đời sống văn hoá

bao tangĐời sống văn hóa của Mumbai phản ánh sự đa dạng dân tộc của nó. Thành phố có một số viện bảo tàng, thư viện, các tổ chức văn học, phòng trưng bày nghệ thuật, nhà hát, và các tổ chức văn hoá khác. Viện bảo tàng Chhatrapati Shivaji Maharaj vastu Sangrahalaya (trước đây là Viện bão tàng Tây Ấn Độ của Hoàng tử xứ Wales), nằm trong một tòa nhà là một kiến trúc Anh hỗn hợp phong cách Ấn Độ giáo và Hồi giáo, nó có ba bộ phận chính: mỹ thuật, khảo cổ học và lịch sử tự nhiên. Gần đó là phòng trưng bày mỹ thuật Jehangir, là phòng trưng bày mỹ thuật thường trực đầu tiên của Mumbai và là trung tâm hoạt động văn hóa và giáo dục.

Các buổi hòa nhạc của phương Tây và Ấn Độ, lễ hội, và khiêu vũ được tổ chức quanh năm ở nhiều cơ sở văn hóa và giải trí của thành phố. Mumbai cũng là trung tâm của ngành công nghiệp điện ảnh rất lớn của Ấn Độ, được gọi là Bollywood, tên bắt nguồn từ sự pha trộn của Bombay (tên cũ của thành phố) và Hollywood.

Khu vực Pháo Đài là nơi có hai địa danh nổi tiếng nhất của Mumbai.Thứ nhất, Nhà ga xe lửa Chhatrapati Shivaji Terminus ( còn gọi là ga Victoria Terminus), được xây dựng từ năm 1878, kéo dài trong 10 năm sau đó. Nó được thiết kế bởi kỹ sư kiến trúc Anh F.W. Stevens và xây dựng theo phong cách Victoria Gothic Revival trong kiểu dáng cung điện truyền thống Ấn Độ. Đáng chú ý nhất của nhà ga này là mái vòm bằng đá, ở cả các cửa còn ở dưới lại là kiến trúc trang trí truyền thống của Ấn Độ (Mughal và Hindu) tạo ra một ví dụ nổi bật về sự kết hợp giữa hai nền văn hóa, kiến trúc mà kiến trúc sư người Anh và các kĩ sư, thợ thủ công Ấn Độ tạo dựng, thời đó, công trình kiến trúc này có phong cách độc đáo và duy nhất ở Mumbai. Nó trở thành biểu tượng của Mumbai như một “thành phố Gothic và cảng quốc tế lớn của Ấn Độ” đồng thời là công trình kiến trúc đường sắt nổi bật thế kỷ 19, phục vụ tốt cho mục đích sử dụng nhờ cấu trúc và kỹ thuật xây dựng, UNESCO đã đưa nhà ga xe lửa Chhatrapati Shivaji Terminus vào danh sách Di sản thế giới vào năm 2004.

Mumbai gateCấu trúc thứ hai, Cửa ngõ của Ấn Độ ( the Gateway of India), khánh thành năm 1924, được xây dựng để kỷ niệm chuyến thăm của vua George V và hoàng hậu Mary đến thành phố. Nó trông ra Cảng Mumbai và bao gồm một vòm lớn với một mái vòm trung tâm, được chống đở bởi bốn tháp trang trí phức tạp. Cả hai tòa nhà là các điểm tham quan phổ biến cho khách du lịch trong và ngoài nước.

Rừng Krishnagiri, một công viên quốc gia ở phía bắc của thành phố Mumbai, là một khu nghỉ mát đẹp nằm gần các hang động Kanheri; các hang động, số lượng hơn 100, là địa điểm của một trường đại học Phật giáo cổ xưa và chứa pho tượng Phật khổng lồ có niên đại từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 9 TCN. Có một số khu vườn công cộng, bao gồm Thảo cầm viên Jijamata Udyan, là vườn thú Mumbai; Vườn Baptista, nằm ở bên một hồ nước tự nhiên, cũng ở trung tâm của thành phố; và Vườn Pherozeshah Mehta (thường được gọi là “Vườn treo”) và Công viên Kamala Nehru, cả hia nằm trên đồi Malabar. Các ngôi đền hang động trên đảo Elephanta đã được chỉ định di sản thế giới vào năm 1987.

III. THÀNH PHỐ BENGALURU (BANGALORE)

doi NandiBengaluru, trước đây là Bangalore, thủ phủ của bang Karnataka (kể từ năm 1830), miền nam Ấn Độ. Bengaluru là một trong những thành phố lớn nhất của Ấn Độ. Nó cao 949 mét trên mực nước biển, trên đỉnh của cao nguyên Karnataka ở phía đông nam của bang, tại một điểm hẹn văn hóa của các dân tộc nói tiếng Kannada, Telugu và Tamil. Dân số thành phố là 4.301.326 người ( 2001). Toàn đô thị có dân số 8.520.435.

1/ Thành phố hiện đại 

Bengaluru bao gồm thành phố cổ xây dựng san sát, cùng với một số khu vực hiện đại xa trung tâm với nhiều công viên và đường rộng. Một khu quân sự lớn nằm ngay phía đông nam của trung tâm Thành phố Bengaluru. Khu vực xa xôi hẻo lánh được sáp nhập vào thành phố trong năm 2007 bao gồm không gian xanh rộng lớn cũng như đất nông nghiệp và là khu vực dân cư có liên quan với sự phát triển công nghệ truyền thông và thông tin.

2/ Khí hậu

Bengaluru có mùa hè dễ chịu và mùa đông ôn hòa. Mùa hè nhiệt độ trung bình khoảng 34 ° C, và nhiệt độ mùa đông hiếm khi dưới 16 ° C. Thành phố này nhận được lượng mưa khoảng 914 mm/ năm, không đủ nước cung cấp cho dân số ngày càng tăng và ngành công nghiệp. Phần lớn nước của thành phố là từ sông Kaveri ((Cauvery), khoảng 70 km về phía nam. Chính quyền thành phố đã thực hiện nhiều dự án phát triển thêm các hồ chứa ở các thành phố và tái sử dụng nước.

3/ Kiến trúc

Mysore PalaceCác tòa nhà nổi bật bao gồm tòa nhà lập pháp Vidhana Soudha (1956) và Tòa án Tối cao Attara Kacheri (1867), nằm đối diện nhau. Cũng cần lưu ý cung điện Mysore của vua Ấn Độ, Bảo tàng chính phủ Mysore (1866), và pháo đài và cung điện Tippu Sultan. Đáng chú ý các điểm danh lam thắng cảnh địa phương là vườn Lalbagh (Lal Bagh) thiết lập  trong thế kỷ thứ 18), Công viên Cubbon (khu vườn với hồ nước, hồ cá, và thư viện), hồ Hesaraghatta và hồ chứa nước Chamaraja. Đồi Nandi (Nandigunda), khu nghỉ mát mùa hè trên đồi cách thành phố 60 km về phía bắc, là nơi có hai ngôi đền dành riêng cho thần Shiva của đạo Hindu.

Nageshvara temple

Bhoganandishvara temple, Nandi hill

 

4/ Kinh tế của Bengaluru

Máy bay, đường sắt, và máy công cụ thiết lập trong thành phố được điều hành bởi chính phủ liên bang và nhà nước sở hữu nhà máy sản xuất thiết bị điện và điện thoại, đồ sứ, và xà phòng. Các nhà máy tư nhân sản xuất dược phẩm, dệt (lụa), các bộ phận máy phát thanh, thủy tinh, da, giày dép, dụng cụ nông nghiệp, giấy, và đồng hồ. Sản phẩm gỗ đàn hương và nhang cũng được sản xuất tại Bengaluru.

IT BangaloreTừ cuối thế kỷ 20 thành phố trở thành một trung tâm công nghiệp công nghệ cao (đặc biệt là công nghệ thông tin), và một số tập đoàn công nghệ đa quốc gia lớn đã mở văn phòng ở đó. Ngoài ra, các công ty lớn trong nước như Infosys và Wipro cũng xây dựng trụ sở chính tại thành phố. Năm 1998 một công viên công nghệ thông tin đã mở ở vùng ngoại ô của Whitefield, khoảng 16 km về phía đông của trung tâm Thành phố Bengaluru. Là thành phố độc lập chứa hàng trăm công ty công nghệ, phần mềm, và các công ty viễn thông, công viên được gọi là thung lũng Silicon của Ấn Độ. Nó đã trở thành một huyện của Đô thị Bengaluru trong năm 2007. Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh của hoạt động liên quan đến ICT trong khu vực, được khuyến khích bằng tiếp tục bao cấp của chính phủ – góp phần tạo nên suy thoái các ngành công nghiệp sản xuất quy mô nhỏ và trung bình ở đó.

Infoysi companyBengaluru nằm ở trọng tâm của hệ thống đường bộ và đường sắt phía nam của Ấn Độ. Nó nằm trên quốc lộ Bắc Nam qua miền trung Ấn Độ, được kết nối bởi các con đường chính với Mumbai (Bombay; phía tây bắc) và Chennai (Madras; phía đông), và được nối với bang Kerala (phía tây nam) qua Mysuru (Mysore), xuyên qua qua Đồi Nilgiris và đèo Palghat. Nó cũng là một trung tâm đường sắt khu vực, với đường sắt tỏa ra mọi hướng. Sân bay Quốc tế Kempegowda, khoảng 40 km về phía bắc-đông bắc của trung tâm Thành phố Bengaluru, khai trương năm 2008, thay thế sân bay Hindustan cũ phía đông của trung tâm thành phố. Thành phố có một mạng lưới xe buýt khá rộng rãi, và taxi và xe kéo có thể dễ dàng tiếp cận. Ngoài ra,  đường sắt hệ thống đông-tây đã được khánh thành ở trung tâm Thành phố Bengaluru trong năm 2011 và đường sắt bắc-nam đã được mở ra trong các giai đoạn trong 2014-15.

Đại học Bangalore ( một chi nhánh của Đại học Mysore, được thành lập năm 1916) đã được mở cửa năm 1964, là trường Đại học Khoa học Nông nghiệp. Thành phố cũng có một số trường đại học buổi tối và một thư viện công cộng và là nơi có  Viện Khoa học Ấn Độ (1909), Viện Nghiên cứu Raman (1943), Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Hàng không Quốc gia (1960), và phân khu của Viện nghiên cứu Năng lượng Quốc gia  (1960). Các trường đại học tư nhân tăng lên nhanh chóng trong những năm đầu thế kỷ 21. Ngoài ra, Thành phố Bengaluru là một trung tâm xuất bản (báo và tạp chí ) và là trụ sở khu vực của mạng lưới phát thanh quốc gia. Nó cũng có một số đài phát thanh và truyền hình khác.

IV. THÀNH PHỐ KOLKATA

IMG_0040-KolkataKolkata, trước đây là Calcutta, thành phố, thủ phủ của bang Tây Bengal, và vốn trước đây là thủ đô của Ấn Độ thuộc Anh (1772-1911). Nó là một trong những thành phố lớn nhất của Ấn Độ và là một trong các cảng chính  của nó. Thành phố này nằm trong vùng Đồng bằng châu thổ sông Hằng tập trung bên bờ phía đông của sông Hugli (Hooghly), có thời là  kênh chính của sông Hằng (Ganga), từ đầu của Vịnh Bengal về phía thượng lưu khoảng 154 km; nơi đó thành phố cảng phát triển như là một điểm trung chuyển từ sông sang đất liền và từ sông ra biển (cacnuocchauau). Là một thành phố thương mại, vận chuyển và sản xuất, Kolkata là trung tâm đô thị có ưu thế của Đông Ấn Độ.

Tên cũ của thành phố là Calcutta, năm 2001, chính phủ của Tây Bengal chính thức đổi tên thành phố là Kolkata. Diện tích thành phố là 104 km vuông; diện tích đô thị là 1.380 km vuông. Dân số 4.486.679 (2011); toàn đô thị đô thị dân số  14.112.536.

1/ Vị trí thành phố

Hugli mudVị trí của thành phố được chọn ban đầu một phần vì vị trí dễ dàng phòng thủ của nó và một phần vì các địa điểm kinh doanh thuận lợi của nó. Bờ sông thấp, đầm lầy, nóng và ẩm ướt mặt khác không có gì hấp dẫn lắm. Độ cao tối đa của nó là khoảng 9 mét trên mực nước biển. Về phía đông từ sông đất dốc xuống đến đầm lầy và vùng ngập nước. Địa hình tương tự như trên bờ phía tây của sông đã hạn chế khu vực đô thị ở mức độ lớn rộng đến 5 – 8 km ở hai bờ Howrahsông. Tuy nhiên, việc cải tạo các khu vực Hồ Muối ở rìa đông bắc của thành phố đã chứng minh rằng việc mở rộng không gian của thành phố là có tính khả thi, và các dự án cải tạo khác đã được thực hiện ở phía đông, phía nam và phía tây của khu vực trung tâm.

Ngoại ô của Kolkata bao gồm Haora (Howrah) trên bờ phía tây, Baranagar về phía bắc, Nam Dumdum ở phía dumdumđông bắc (có 3 thành phố tên này: Dumdum, Bắc Dumdum và Nam Dumdum – Nam Dumdum là một thành phố và khu đô thị của quận North 24 Parganas thuộc bang Tây Bengal, Ấn Độ.), Behala về phía nam, và Vườn Reach ở phía tây nam. Toàn bộ khu đô thị phức hợp được tổ chức với nhau bằng quan hệ kinh tế xã hội gần gũi.

 

2/ Khí hậu

Kolkata có khí hậu cận nhiệt đới với một chế độ mùa theo gió mùa. Nó ấm áp quanh năm, với nhiệt độ cao trung bình khoảng từ 27 ° C trong tháng Mười Hai và tháng Giêng đến gần 38 ° C vào tháng Tư và tháng Năm. Lượng mưa trung bình hàng năm là khoảng 1.625 mm). Phần lớn mưa từ tháng Sáu đến tháng Chín, thời kỳ gió mùa. Những tháng này rất  ẩm ướt và đôi khi oi bức. Trong suốt tháng Mười và tháng Mười một lượng mưa ngày càng giảm. Những tháng mùa đông, từ khoảng cuối tháng Mười Một đến hết tháng Hai, khí hậu  dễ chịu và không mưa;

Sương mù thỉnh thoảng làm giảm tầm nhìn vào sáng sớm ở  mùa này, cũng như làm thành một màng sương khói vào buổi tối. Sự ô nhiễm bầu khí quyển đã tăng lên rất nhiều kể từ đầu những năm 1950. Nhà máy, xe có động cơ, và các trạm nhiệt điện, chạy bằng than, là nguyên nhân chính của tình trạng ô nhiễm này, nhưng gió mùa hoạt động như tác nhân làm sạch bằng cách mang đến khối không khí trong lành và cũng đẩy nhanh việc loại bỏ nước ô nhiễm.

3/ Bố cục thành phố

Burabazar1Các khía cạnh nổi bật nhất của cách bố trí của Kolkata là hình chữ nhật hướng bắc-nam của nó. Ngoại trừ các khu vực trung tâm nơi trước đây là người châu Âu sống, thành phố đã phát triển một cách bừa bãi (cacnuocchauau). Sự phát triển bừa bãi đáng chú ý nhất trong khu vực rìa xung quanh trung tâm tạo bởi thành phố Kolkata và các vùng ngoại ô của Haora. Phần lớn các hoạt động hành chính và thương mại của thành phố tập trung ở khu vực Barabazar, một khu vực Burrabaza 2nhỏ ở phía bắc của Maidan (công viên chứa Pháo Đài William xây dựng bên bờ đông sông Hugli  và nhiều cơ sở văn hóa và giải trí của thành phố). Việc bố trí đã khuyến khích sự phát triển của của hệ thống giao thông vận tải đã quá tải của Kolkata, và các tiện ích dịch vụ đô thị khác.

Hệ thống các đường phố và đường chính của Kolkata phản ánh lịch sử phát triển của thành phố. Một đường cao tốc, Ballygune KolkataĐại lộ Kazi Nazrul Islam, trải dài từ Kolkata đến Dumdum, mặc dù hầu hết các đường phố địa phương đều hẹp. Các tuyến đường chính tạo thành mạng lưới các đường ngang dọc chủ yếu trong khu vực cũ của châu Âu, nhưng quy hoạch đường ở những nơi khác có đặc điểm tuỳ tiện. Một phần lý do cho điều này là sự khó khăn trong việc bắt đủ cầu để vượt sông ; nó cũng là cùng một lý do mà hầu hết các đường phố và đường cao tốc chạy từ bắc vào nam. Kênh đào Nullahs và các kênh rạch cần bắc cầu cũng là các yếu tố quan trọng tác động đến các mô hình đường giao thông.

4/ Nhà ở

slum in KolkataThànhnh phố có sự thiếu hụt nhà ở nghiêm trọng. Trong số những người sống nương tựa ở các tổ chức từ thiện trong khu vực đô thị Kolkata, hơn hai phần ba sống trong chính thành phố này. Khoảng ba phần tư nhà ở trong thành phố được sử dụng chỉ cho mục đích trú ngụ. Hiện có hàng trăm khu định cư của đô thị được gọi là nhà ổ chuột, nơi có khoảng một phần ba dân số của thành phố sống. slum kolkataNhà ổ chuột chính thức được định nghĩa là “một tập hợp những túp lều trên một mảnh đất của ít nhất một phần sáu của mẫu Anh (mẫu Anh bằng 0,4 hecta) .” Cũng có những nhà ổ chuột xây dựng trên ít hơn một phần sáu của một mẫu Anh ( một phần mười lăm của một hecta). Phần lớn các ngôi nhà ổ chuột là rất nhỏ, không thông gió, một tầng, thường đổ nát. Chúng không có điều kiện vệ sinh, và có rất ít không gian mở. Chính phủ đã tài trợ cải thiện nhà ổ chuột và các chương trình tái định cư.

5/ Kiến trúc

victoria memorial palace

Ở Kolkata hiện đại cảnh quan thành phố đã thay đổi nhanh chóng. Khu vực Chowringhee ở trung tâm Kolkata, có thời có một dãy nhà nguy nga, đã nhường chỗ cho các văn phòng, khách sạn, và các cửa hàng. Ở miền bắc và trung tâm Kolkata, tòa nhà vẫn chủ yếu là cao hai hoặc ba tầng. Ở miền nam và nam trung Kolkata, các tòa nhà chung cư cao tầng đã trở nên phổ biến hơn.

Ảnh hưởng của phương Tây chiếm ưu thế trong nhiều di tích kiến trúc Kolkata, mặc dù ảnh hưởng của Ấn Độ có thể thấy rõ. The Raj Bhavan (dinh thống đốc của bang) bắt chước Toà  thị chính Kedleston ở Derbyshire, Anh Quốc; Toà án tối cao giống toà nhà thương mại Cloth Hall ở Ypres, Bỉ; Toà thị chính là phong cách Hy Lạp với một hiên Doric-Hellenic; Nhà thờ Thánh Phaolô là theo phong cách kiến trúc Ấn- Gothic; Tòa nhà của hội nhà văn là kiến trúc theo phong cách Gothic với tượng tạc trên nóc; Bảo tàng Ấn Độ theo phong cách Ý; và Tổng cục Bưu điện, với mái vòm hùng vĩ của nó, có các cột giống Corinth. Cột đẹp của Sahid Minar (Đài kỷ niệm Ochterlony ) cao 50 mét – bệ đỡ của nó cơ bản là Ai Cập, cột của Syria, và mái vòm của nó theo phong cách Thổ Nhĩ Kỳ. Lâu đài Victoria Memorial đại diện cho một nỗ lực kết hợp ảnh hưởng phương Tây cổ điển với kiến trúc Mughal; Nhà thờ Hồi giáo Nakhoda được mô phỏng theo ngôi mộ của hoàng đế Mughal Akbar ở Sikandra; Cung thiên văn Birla được dựa trên tháp (thánh tích Phật giáo) ở Sanchi. Viện Văn hóa Ramakrishna Mission, ví dụ quan trọng nhất của ngành xây dựng sau độc lập, theo phong cách của kiến trúc cung điện Hindu cổ đại ở phía tây bắc Ấn Độ.

6/ Con người

Hơn bốn phần năm dân số theo đạo Ấn. Đạo Hồi, đạo Thiên chúa giáo là thiểu số lớn nhất, nhưng có một số người theo đạo Sikhs, Kỳ Na, và đạo Phật. Ngôn ngữ chiếm ưu thế là tiếng Bengali, nhưng tiếng Urdu, Oriya, Tamil, Punjabi, và các ngôn ngữ khác cũng được nói. Kolkata là thành phố có tính quốc tế: ngoài người Ấn Độ, các nhóm hiện diện bao gồm nhiều người từ nơi khác của châu Á (đáng chú ý người Bangladesh và Trung Quốc), người châu Âu, Bắc Mỹ, và Người Úc. Kolkata bị cô lập dưới sự cai trị của Anh, những người châu Âu sống ở trung tâm thành phố và Ấn Độ sống ở phía bắc và phía nam. Tình trạng bị chia tách đã tiếp tục tại thành phố hiện đại, mặc dù sự phân bố hiện nay được dựa trên các tiêu chuẩn tôn giáo, ngôn ngữ, giáo dục và kinh tế. Tuy nhiên, các khu nhà ổ chuột và các khu vực dân cư có thu nhập thấp tồn tại bên cạnh với các khu vực giàu có hơn.

Mật độ dân số cực kỳ cao, và tình trạng quá đông đúc đã đạt tỷ lệ gần như không thể chấp nhận trong nhiều khu vực của thành phố. Kolkata có tỉ lệ tăng dân số cao trong hơn một thế kỷ, và sự chia cắt Bengal vào năm 1947 và chiến tranh ở Bangladesh trong đầu những năm 1970 đã dồn lượng dân cư  khổng lồ tràn vào.  Lượng lớn người tị nạn thuộc địa tị cũng đã xuất hiện ở các vùng ngoại ô phía bắc và phía nam. Ngoài ra, một số lượng lớn người nhập cư từ các bang khác chủ yếu là từ bang Bihar và Orissa lân cận và đông Uttar Pradesh, đã đến Kolkata tìm kiếm việc làm.

7/ Kinh tế

ship-kolkataVị trí của Kolkata là một trong những trung tâm kinh tế ưu việt của Ấn Độ bắt nguồn từ các ngành công nghiệp sản xuất, hoạt động tài chính và thương mại của nó, và vai trò của nó như là một cảng chính; nó cũng là một trung tâm in ấn, xuất bản, và báo chí quan trọng, cũng như nghỉ ngơi và vui chơi giải trí. Trong số các sản phẩm nội địa của Kolkata đã than đá, sắt, mangan, mica, xăng dầu, trà, và đay. Tuy nhiên, nạn thất nghiệp là một vấn đề tiếp tục gia tăng từ những năm 1950.

++ Công nghiệp : Kolkata là trung tâm của ngành công nghiệp chế biến đay lớn của Ấn Độ. Ngành công nghiệp đay được thành lập vào thập niên 1870, và các nhà máy hiện nay mở rộng về phía bắc và phía nam của trung tâm thành phố trên cả hai bờ sông Hugli. Công nghệ tạo thành ngành công nghiệp lớn khác của thành phố. Ngoài ra, các nhà máy thành phố sản xuất và phân phối hàng tiêu dùng đa dạng – đặc biệt là thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, và dệt may – ngành công nghiệp nhẹ khác, và hóa chất. Ngành công nghiệp Kolkata nhìn chung đã suy thoái kể từ khi độc lập của Ấn Độ vào năm 1947 (cacnuocchauau). Các yếu tố chính góp phần vào sự suy thoái này là do mất một phần phía đông của Bengal khi độc lập, một sự suy thoái tổng thể về năng suất công nghiệp ở Kolkata, và sự thiếu đa dạng hóa công nghiệp của thành phố.

super market, Kolkata++ Tài chính, thương mại và dịch vụ khác : Thị trường chứng khoáng Kolkata đóng một vai trò quan trọng trong tổ chức thị trường tài chính đất nước. Ngân hàng nước ngoài cũng có cơ sở kinh doanh quan trọng tại Kolkata, mặc dù tầm quan trọng của thành phố như trung tâm ngân hàng quốc tế đã suy thoái. Ngoài ra, các mỏ than, các nhà máy đay, và các ngành công nghiệp kỹ thuật quy mô lớn được điều khiển từ các văn phòng ở thành phố. Văn phòng thương mại tiểu bang và các quốc gia cũng có trụ sở tại Kolkata.

Thương mại bản chất của nền kinh tế của thành phố được phản ánh trong việc khoảng hai phần năm công dân làm việc trong kinh doanh.  Ngành nghề quan trọng khác bao gồm dịch vụ công trong cơ quan chính phủ, các tổ chức tài chính, và các tổ chức y tế và giáo dục. Dịch vụ khu vực tư nhân bao gồm thị trường chứng khoáng, dịch vụ dịch vụ y tế và giáo dục, dịch vụ pháp lý, kế toán, công ty tín dụng, và các dịch vụ tiện ích khác.

8/ Đời sống văn hoá

university of KolkataKolkata có lẽ là trung tâm văn hóa quan trọng nhất của Ấn Độ. Thành phố này là nơi sinh ra tư tưởng văn học và mỹ thuật hiện đại Ấn Độ và chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ, và người dân đã có nhiều nỗ lực để bảo tồn văn hóa và văn minh Ấn Độ. Sự pha trộn của ảnh hưởng văn hoá Phương Đông và Phương Tây trong nhiều thế kỷ đã kích thích việc tạo ra rất nhiều và đa dạng các tổ chức đóng góp cho đời sống văn hóa của Kolkata. Ngoài các trường đại học, còn bao gồm Hiệp hội châu Á Bengal (Asiatic Society of Bengal), Hiệp hội Văn học Bengal (Literary Society Bengal), Viện văn hoá Ramakrishna Mission (the Ramakrishna Mission Institute of Culture – Ramakrishna Mission là một tổ chức tôn giáo (cacnuocchauau). Nhiệm vụ là một tổ chức tình nguyện từ thiện tiến hành công việc rộng rãi trong y tế, cứu trợ thiên tai, quản lý nông thôn, phúc lợi xã hội, giáo dục tiểu học và cao hơn và văn hóa.), Học viện Mỹ thuật, Học viện Văn hóa và Mỹ thuật Birla (the Birla Academy of Art and Culture ) và Hội Bồ Đề Maha (Maha Bodhi Society.).

a/ Bảo tàng và thư viện

Đô thị Kolkata có hơn 30 bảo tàng, bao gồm một loạt các lĩnh vực. Bảo tàng Ấn Độ, được thành lập vào năm 1814, là bảo tàng lâu đời nhất ở Ấn Độ; bộ phận khảo cổ học và nghiên cứu tiền đúc chứa những bộ sưu tập có giá trị. Các cuộc triển lãm tại lâu đài Victoria Memorial đã tìm ra nguồn gốc mối quan hệ của Anh với Ấn Độ. Bảo tàng Mỹ thuật Ấn Độ Asutosh ở Đại học Calcutta đã triển lãm mỹ  thuật dân gian Bengal trong bộ sưu tập của nó. Là một thành phố Khoa học, một lượng lớn bảo tàng khoa học và giải trí phức tạp, nằm trong số loại hình đầu tiên ở châu Á. Thư viện Quốc gia lớn nhất ở Ấn Độ và có chứa một bộ sưu tập những cuốn sách hiếm và bản thảo.

b/ Nghệ  thuật

Người Kolkata từ lâu đã rất tích cực trong các hoạt động văn học và mỹ thuật. Thành phố này đã nhìn thấy bình minh của trào lưu văn học giữa thế kỷ 19 đã gây ra một sự phục hưng văn hóa trên khắp Ấn Độ. Tiêu biểu nhất của phong trào này là Rabindranath Tagore, người đoạt giải Nobel Văn học năm 1913, có sự sáng tạo đáng chú ý trong thơ ca, âm nhạc, kịch, và hội hoạ vẫn tiếp tục làm phong phú thêm đời sống văn hóa của thành phố. Kolkata vẫn là đội tiên phong của phong trào nghệ  thuật trong nước.

UdayKolkata cũng là một trung tâm âm nhạc và múa truyền thống và đương đại. Năm 1934, Tagore khánh thành Hội nghị âm nhạc toàn Bengal đầu tiên ở Kolkata. Kể từ đó, một số hội nghị âm nhạc cổ điển Ấn Độ đã được tổ chức hàng năm. Là nhà của nhiều vũ công cổ điển, Kolkata là địa điểm thử nghiệm của Uday Shankar ( Uday Shankar là vũ công và biên đạo múa Ấn Độ) phỏng theo kỹ thuật sân khấu phương tây cho các hình thức múa cổ điển. Các trường múa, âm nhạc và kịch được sáng lập bởi chính ông đã có mặt ở  thành phố kể từ năm 1965.

Nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp đã bắt đầu ở Kolkata vào những năm 1870 do sự thành lập của Nhà hát Quốc gia (sau này được thay thế bằng nhà hát Minerva). Các hình thức kịch hiện đại đã đi tiên phong trong thành phố bởi nhà soạn kịch như Girish Chandra Ghosh và Dirabandhu Mitra. Kolkata vẫn là một trung tâm quan trọng của sân khấu chuyên nghiệp, nghiệp dư và kịch nói. Thành phố cũng đã là một trung tâm tiên phong trong sản xuất phim tại Ấn Độ. Các đạo diễn phim tiên phong là Satyajit Ray và Mrinal Sen đã đạt được sự hoan nghênh của quốc tế. Có rất nhiều rạp chiếu bóng ở thành phố, đều đặn cho thấy các phim bằng tiếng Anh, Bengali, và tiếng Hindu.

F. KINH TẾ

chart 1

Ấn Độ là một trong những nền kinh tế đa dạng hóa nhất lớn nhất thế giới, nhưng, do dân số đông, liên quan đến thu nhập và tổng sản lượng quốc gia ( GNP ) theo đầu người – nó là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới. Từ khi độc lập, Ấn Độ đã thúc đẩy một hệ thống kinh tế hỗn hợp trong đó chính phủ, vạch rõ trong Hiến pháp Ấn Độ là nước theo ” chủ nghĩa xã hội “, nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong các kế hoạch tập trung, điều chỉnh, đầu tư, quản lý và sản xuất. Bắt đầu từ năm 1951, chính phủ đã thực hiện nền kinh tế kế hoạch dựa vào hàng loạt các kế hoạch 5 năm chịu ảnh hưởng của mô hình Liên Xô.

Tuy nhiên, với sự sụp đổ của hệ thống Xô Viết vào đầu những năm 1990, Ấn Độ đã thông qua một loạt các cải cách thị trường tự do thúc đẩy sự phát triển của tầng lớp trung lưu của nó, và lực lượng lao động có trình độ cao và được đào tạo tốt của nó làm Ấn Độ là một trong những trung tâm toàn cầu của sự bùng nổ công nghệ cao bắt đầu vào cuối thế kỷ 20 và được sản xuất đạt tỉ lệ tăng trưởng hàng năm đáng kể (cacnuocchauau). Nông nghiệp vẫn là lĩnh vực chính của nước này (chiếm khoảng một nửa lực lượng lao động), mặc dù, với khoảng một phần năm tổng sản phẩm trong nước (GDP), nó không còn đóng góp nhiều nhất vào GDP. Ngành công nghiệp vẫn là thành phần chính của GDP. Tuy nhiên, tăng trưởng chủ yếu ở ngành thương mại, tài chính, và dịch vụ khác, nhìn chung, chiếm thành phần lớn của GDP.

I.  NÔNG NGHIỆP, LÂM NGHIỆP VÀ NGƯ NGHIỆP

1. Nông nghiệp

Agriculture West BengalKhoảng một nửa dân số Ấn Độ kiếm sông bằng nông nghiệp. Tỷ lệ này chỉ tương đối giảm gần đây từ mức khá nhất quán trong suốt thế kỷ 20. Tuy nhiên, diện tích canh tác đã tăng nhanh đáng kể gồm hơn một nửa tổng diện tích của đất nước, bằng quy mô của một số quốc gia trên thế giới. Trong các khu vực màu mỡ hơn, chẳng hạn như Đồng bằng Ấn-Hằng (cacnuocchauau) hoặc các vùng đồng bằng của bờ biển phía đông, tỷ lệ trồng tổng diện tích đất thường vượt quá chín phần mười.

Nguồn nước dùng được thay đổi rất nhiều do khí hậu. Trong gần như những vùng nhỏ của đất nước, việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp là rất cao và thường phụ thuộc vào sự thay đổi của gió mùa tây nam. Kết quả là, người nông dân chỉ có thể trồng một vụ mùa mỗi năm ở các vùng thiếu tưới tiêu, và nguy cơ mất mùa là khá cao ở nhiều địa phương. Những triển vọng và thực tế phát triển thủy lợi cũng khác nhau rất nhiều từ vùng này tới vùng khác của đất nước. Chúng đặc biệt thuận lợi trên Đồng bằng Ấn-Hằng, một phần là do các dòng chảy tương đối thậm chí của những con sông phát nguồn từ dãy Himalaya (cacnuocchauau) và một phần vì trữ lượng nước ngầm mênh mông trong hàng ngàn mét phù sa nằm bên dưới khu vực. Tuy nhiên, ở vùng bán đảo Ấn Độ, nước ở bề mặt có sẳn nhờ vào chế độ mưa theo mùa của vùng rất cao, và, ở nhiều khu vực, cấu trúc đá cứng làm cho khó đào giếng và hạn chế khốc liệt việc tiếp cận với nguồn nước ngầm.

Araku fieldĐối với một nước chủ yếu là nông nghiệp như Ấn Độ, nguồn lực của đất canh tác và nước là rất quan trọng. Mặc dù Ấn Độ không có khu vực rộng lớn đất đai màu mỡ phù sa, riêng Đồng bằng Ấn-Hằng, và các khu vực quan trọng khác đất sản xuất tương đối hiệu quả, chẳng hạn như đất đen của cao nguyên dung nham Deccan, đất đá ong đỏ – vàng chiếm ưu thế so với hầu hết các vùng còn lại của đất nước rất kém màu mỡ (cacnuocchauau). Nhìn chung, bình quân đầu người đất canh tác rất thấp, và ít hơn một nửa diện tích đất canh tác có chất lượng cao. Hơn nữa, nhiều vùng đã bị mất đi nhiều khả năng màu mỡ của chúng do xói mòn, kiềm hoá (do tưới quá nhiều mà không có hệ thống thoát nước thích hợp), sự hình thành tầng đất cát dày đặt ngay dưới lớp đất mặt làm hạn chế sinh trưởng của rễ cây, và trồng trọt kéo dài mà không khôi phục lại làm cạn kiệt dưỡng chất thực vật.

Mặc dù quy mô trang trại trung bình chỉ có khoảng 2 ha và đang giảm, con số che dấu lệch rõ rệt trong phân phối đất đai. Hơn một nửa trong số tất cả các trang trại có ít hơn 1,2 ha diện tích, trong khi phần lớn còn lại được điều hành bởi một số lượng nhỏ nông dân và chủ đất  tương đối giàu có. Hầu hết những người canh tác sở hữu trang trại cung cấp chỉ vừa đủ cho gia đình họ; sự thay đổi bất thường trong thị trường nông nghiệp và bản chất hay thay đổi của gió mùa hàng năm khiến tỷ lệ thất bại của các trang trại thường khá cao, đặc biệt là trong số những nhà sản xuất nhỏ (cacnuocchauau). Ngoài ra, gần một phần ba của tất cả các hộ gia đình nông nghiệp không có miếng đất nào và, cùng với những nông dân có đất ít, phải làm việc cho các chủ đất lớn hoặc phải bổ sung thu nhập của họ từ một số nghề phụ, thường là một nghề truyền thống liên quan với đẳng cấp của họ.

tank 1Kỷ thuật nông nghiệp đã trải qua những thay đổi nhanh chóng ở Ấn Độ. Chính phủ đã tài trợ các dự án thủy lợi quy mô lớn, bắt đầu bởi người Anh vào giữa thế kỷ 19, đã được mở rộng rất nhiều sau khi độc lập. Sau đó tầm quan trọng này chuyển về phía giếng sâu (gọi là giếng khoan ở Ấn Độ), thường thuộc sở hữu tư nhân, từ đó nước được đưa  lên hoặc bằng máy bơm điện hoặc diesel; tuy nhiên ở nhiều nơi các giếng này đã làm cạn kiệt trữ lượng nước ngầm, và các nỗ lực đã nhằm vào vào việc bổ sung thêm các tầng chứa nước và sử dụng nước mưa. Bể tưới tiêu, một phương pháp mà theo đó nước được rút ra từ các bễ chứa nhỏ được tạo ra dọc theo các dòng suối, là quan trọng ở một số vùng của Ấn Độ, đặc biệt là phía đông nam.

tank 2Nhu cầu phân hóa học cũng đã tăng lên đều đặn, mặc dù kể từ cuối những năm 1960 do đưa ra các giống mới lai tạo có năng suất cao, chủ yếu là đối với lúa mì và lúa gạo, đã mang lại sự tăng trưởng mạnh mẽ trong sản xuất, đặc biệt là ở Punjab (nơi thông qua chúng hầu như là phổ biến), Haryana, phía tây Uttar Pradesh, và Gujarat (cacnuocchauau). Sự thành công tuyệt vời này là nhờ vào cuộc Cách mạng Xanh mà Ấn Độ đã có thể xây dựng các kho dự trữ ngũ cốc đủ cho đất nước để vượt qua những năm gió mùa khắc nghiệt với hầu như không có hàng nhập khẩu hoặc nạn đói và thậm chí trở thành một nước xuất khẩu lương thực trung bình, trong một số năm. Trong cùng kỳ, sản lượng ngũ cốc thô và các loại đậu, mà có ít nhu cầu hơn so với gạo và lúa mì, hoặc tăng không đáng kể hoặc giảm. Do đó, sản lượng ngũ cốc tổng bình quân đầu người ít hơn đáng kể so với yêu cầu của những người giữ vai trò chủ đạo của cuộc Cách mạng Xanh, và các mối đe dọa của tình trạng khan hiếm lương thực chính đã không được loại bỏ.

a/ Các vụ mùa

crop zone IndiaRagi field

Bajra field Maharashtracay lua

Hầu hết các trang trại của Ấn Độ không trồng gì ngoài cây lương thực, đặc biệt là các loại ngũ cốc, và chúng chiếm hơn ba phần năm diện tích trồng. Quan trọng nhất trong số các loại ngũ cốc, cả về diện tích và tổng sản lượng, là lúa, vụ mùa được lựa chọn trong gần như tất cả các vùng có lượng mưa trung bình hàng năm hơn 1.000 mm, cũng như trong một số khu vực được dẫn nước. Lúa mì đứng thứ hai trong cả diện tích lẫn năng suất, nhờ việc sử dụng các giống lai tạo có năng suất cao, dẫn đầu trong ngũ cốc về sản lượng trên mỗi hecta. Lúa mì được trồng chủ yếu trên đất màu mỡ của miền bắc và tây bắc Ấn Độ trong khu vực có lượng mưa trung bình hàng năm từ 380 – 1.000 mm, thường có tưới bổ sung. Không giống lúa, chủ yếu được trồng vào mùa hè, lúa mì được trồng vào mùa mát mẻ. Ngũ cốc quan trọng khác, theo thứ tự diện tích gieo trồng giảm dần, là lúa miến ( gọi là jowar ở Ấn Độ), kê ngọc trai (kê hạt nhỏ- Bajra), bắp, và kê ngón tay (Ragi). Tất cả những vụ mùa diển hình này thường được trồng trên các loại đất tương đối ít màu mở không phù hợp đối với gạo hoặc lúa mì, trong khi trồng ngô cũng được ưa chuộng ở các vùng đồi núi. Sau ngũ cốc, đậu là cây lương thực quan trọng nhất. Đậu được trồng ở mọi nơi – mà đậu xanh (gam) là quan trọng nhất, là nguồn protein chính của đối với hầu hết người Ấn Độ, người mà việc tiêu thụ các sản phẩm động vật thì sang trọng đắt tiền hoặc bị cấm trên cơ sở tôn giáo.

Cây không lương thực, được ăn chỉ một lượng nhỏ bởi hầu hết người Ấn Độ, bao gồm khoai tây, hành tây, rau xanh khác nhau, cà tím, đậu bắp, bí, và các loại rau khác, cũng như các loại trái cây như xoài, chuối, cam quýt, đu đủ, và dưa hấu. Cây mía được trồng rộng rãi, đặc biệt là ở các khu vực gần nhà máy chế biến.

harvest cottonMột loạt các loại cây trồng chủ yếu là đậu phộng (lạc), dừa, mù tạt, hạt bông và hạt cải dầu, được trồng làm nguồn dầu ăn. Những loại cây khác, chẳng hạn như ớt thường gặp, nghệ, gừng, được trồng để làm đồ gia vị. Chè được trồng, chủ yếu là để xuất khẩu, trên các đồn điền ở Assam, Tây Bengal, Kerala và Tamil Nadu, trong khi cà phê được trồng gần như độc quyền ở miền nam Ấn Độ, chủ yếu ở Karnataka. Thuốc lá được trồng chủ yếu ở Gujarat và Andhra Pradesh.

tea collectionQuan trọng nhất trong số các loại cây công nghiệp thương mại là bông. Maharashtra, Gujarat, và Punjab là những bang trồng bông chính. Đay, chủ yếu từ Tây Bengal, Assam, và Bihar, là chất xơ tự nhiên hàng đầu thứ hai. Phần lớn nó được xuất khẩu ở dạng chế biến, chủ yếu là vải bố. Một sợi thô là xơ dừa được chế biến đã tạo nên cơ sở cho một nghề thủ công quan trọng ở Kerala. Dừa và hạt có dầu cũng rất quan trọng cho việc chiết xuất dầu công nghiệp.

b/ Chăn nuôi

sheep in Thar desertMặc dù thực tế rằng người Ấn Độ ăn ít thịt, chăn nuôi đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp. Ấn Độ đến nay có số trâu, bò lớn hơn bất kỳ nước nào khác trên thế giới. Trâu bò được sử dụng chủ yếu như vật chuyên chở mà còn phục vụ cho nhiều mục đích khác – cung cấp sữa, là nguồn thịt (cho những người, bao gồm cả những người Hồi giáo, Thiên chúa giáo và cho những ai ăn thịt bò không phải là điều cấm kỵ), và là nguồn cow in Thar desertcung cấp phân bón, nhiên liệu nấu ăn (từ bánh phân bò khô), và da. Sản lượng sữa từ trâu bò của Ấn Độ khá thấp, mặc dù sữa trâu có phần tốt hơn và phong phú hơn. Do giết mổ bò là bất hợp pháp ở nhiều bang, hiếm trâu bò được nuôi cốt để cung cấp thịt, và hầu hết thịt bò được tiêu thụ là do bò chết vì nguyên nhân tự nhiên. Thay vì bị giết, gia súc trở nên vô dụng có thể được gởi đến goshalas ( nhà cho gia súc được duy trì do đóng góp của người theo đạo Hin – đu mộ đạo) hoặc được phép đi lang thang như gia súc bị lạc. Trong cả hai trường hợp, chúng cạnh tranh với con người nguồn thực phẩm hiếm hoi.

chicken farmTrong khi nhiều người Ấn Độ giáo chính thống là người ăn chay (cacnuocchauau), những người khác sẽ ăn dê, thịt cừu, thịt gia cầm, trứng, cá, tất cả đều được sản xuất với số lượng khiêm tốn. Cừu được nuôi để lấy len và thịt. Thịt lợn là cấm kỵ cho các thành viên của một vài tôn giáo, bao gồm cả người Hồi giáo và hầu hết người theo đạo Hindu, nhưng lợn được nuôi và ăn tự do ăn bởi những người đẳng cấp thấp.

2/ Lâm nghiệp

carry wood , RajasthanLâm nghiệp thương mại không phát triển cao ở Ấn Độ. Tuy nhiên, việc đốn cây hàng năm cao hơn bất kỳ nước nào khác trên thế giới. Các loài là nguồn gỗ, bột giấy, gỗ dán, lớp gỗ mặt và gỗ diêm bao gồm gỗ tếch, gỗ thông tuyết (thông tuyết trên núi Himalayas, một loại tuyết tùng), cây chai (sal  hay sala), gỗ xixu (sissoo- một loại gỗ quý của Ấn Độ ), và thông (Pinus roxburghii). Hầu như bất kỳ thực vật thân gỗ được sử dụng để làm củi đốt, phần lớn là thu thập bất hợp pháp, và một số lượng đáng kể làm than củi. Lâm sản phụ bao gồm tre, mía, cao su, nhựa thông, cây chiết suất làm thuốc nhuộm, các chất thuộc da, cánh kiến đỏ, và cây thuốc.

Các khu vực chính cho lâm nghiệp thương mại, theo thứ tự quan trọng, là GhatsTây, phía tây dãy Himalaya, và các vùng đồi trung tâm Ấn Độ. Trong một nỗ lực để chống lại sự suy giảm rừng, chính quyền trung ương đã hỗ trợ mạnh mẽ các dự án trồng rừng quy mô nhỏ; điều này đã đạt được thành công hỗn hợp, cả về kinh tế và sinh thái.

forest UttarakhandSự gia tăng dân số, qua nhiều thế kỷ, đã dẫn đến sự suy giảm liên tục của đất rừng. Hầu hết các khu vực trước đây là rừng của Ấn Độ đã được chuyển đổi thành đất nông nghiệp (mặc dù một số đất đai đó không có năng suất), và các khu vực rộng lớn khác đã bị biến thành đất hoang hậu quả do hoặc chăn thả quá mức hoặc khai thác gỗ quá mức. Việc thu gom đủ củi, chủ yếu là để nấu ăn, là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng. Ở dry forest, Andhra Pradeshnhiều khu vực rừng đã không còn tồn tại, và cây quan trọng duy nhất được tìm thấy trong khu rừng nhỏ được bảo vệ của làng, thường được trồng là xoài hoặc cây ăn quả khác, nơi người và động vật có thể tìm bóng mát trong mùa hè khắc nghiệt. Ở một số vùng, đặc biệt là phía đông bắc, bụi tre dày đặc cung cấp một loại cây thay thế quan trọng cho gỗ trong mục đích xây dựng. Con số chính thức về số lượng đất có rừng (khoảng một phần năm tổng diện tích của Ấn Độ) gần như vô nghĩa, nhiều vùng được chính thức phân loại là rừng chỉ chứa các cây bụi nhỏ. Các khu rừng sinh thái quan trọng bị tàn phá ở Ấn Độ đã làm giảm khả năng giữ lượng nước ngầm, đồng thời với dòng nước chảy xiết của mưa gió mùa, tác động của lũ lụt cao hơn, xóimòn và bồi lắng gia tốc, và tình trạng khan hiếm nước trầm trọng thêm.

3/ Đánh bắt cá

Đánh cá được thực hành dọc theo toàn bộ chiều dài của đường bờ biển của Ấn Độ và trên hầu như của nhiều con sông của nó. Việc sản xuất thủy sản biển và nước ngọt đã trở thành gần như tương đương. Do một ít nghề đánh cá được cơ giới hoá, tổng sản lượng khai thác thấp, và tiêu thụ cá hàng năm bình quân đầu người là khiêm tốn. Tuy nhiên, việc chuyển sang cơ giới hóa và chế biến hiện đại đã không thực hiện được. Do đó, các mẻ cá lớn xuất phát từ các ngư trường mà các thuyền nhỏ của gia đình đánh cá ven biển không thể tiếp cận. Vấn đề là nghiêm trọng nhất ở Kerala, bang đánh bắt cá hàng đầu. Các loại cá biển chính là cá mòi và cá thu; cá nước ngọt chiếm ưu thế là cá chép. Nghề nuôi trồng thủy sản tập trung ở nội địa, cho cả cá và tôm (sau đó đã trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng), đã tăng lên đáng kể.

II. Tài nguyên thiên nhiên và năng lượng.

Mặc dù Ấn Độ sở hữu nhiều khoáng chất và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, các bình quân đầu người các nguồn tài nguyên quan trọng như đất canh tác, nước, gỗ, và trữ lượng dầu khí được cho là tương đối thấp. Tuy vậy, sự đa dạng của các nguồn tài nguyên, nhất là khoáng chất, vượt trội hơn gần như so với vài nước và tạo cho Ấn Độ một sự thuận lợi rõ rệt trong sự phát triển công nghiệp của mình.

Khai thác khoáng sản trong nước hình thành một nền tảng quan trọng cho ngành công nghiệp sản xuất đa dạng của Ấn Độ, cũng như là một nguồn doanh thu xuất khẩu khiêm tốn. Việc quốc hữu hóa xí nghiệp nước ngoài, trong nước và sự quản lý các ngành công nghiệp khác của chính quyền đã khiến chính quyền Ấn Độ có một vai trò nổi bật trong ngành công nghiệp khai thác mỏ. Tuy nhiên, sự tham gia của chính phủ giảm dần khi đầu tư tư nhân gia tăng. Trong số các nguồn tài nguyên khoáng sản, quặng sắt (chất lượng thường cao) và hợp kim sắt – đáng kể là mangan và crôm – đặc biệt phong phú,  và tất cả được phân phối rộng rãi trên bán đảo Ấn Độ. Khoáng sản kim loại khác bao gồm đồng, bô xít (quặng chính của nhôm), kẽm, chì, vàng và bạc. Trong số khoáng sản không kim loại quan trọng là đá vôi, đôlômit, đá phosphat, đá xây dựng, sét gốm, mica, thạch cao, flourite, mangan, chì, và kim cương. Sắt được khai thác chủ yếu ở bang Madhya Pradesh, Bihar, Goa, Karnataka, và Orissa – có giá trị hàng đầu. Đồng, chủ yếu từ Rajasthan và Bihar.

petrol companyXét về mặt giá trị sản xuất, khoáng sản nhiên liệu vượt xa tất cả các khoáng khác cộng lại. Trong số các loại nhiên liệu, dầu mỏ đứng đầu về giá trị, tiếp theo than (bao gồm cả than non). Ấn Độ sản xuất chỉ một phần nhu cầu dầu mỏ của nó nhưng có một ít than thặng dư để xuất khẩu. Hầu như tất cả các dầu khí của Ấn Độ được khai thác ở ngoài khơi Bombay, Gujarat và Assam, trong khi than xuất phát từ khoảng 500 mỏ, phân bố trên một số tiểu bang. Cho đến nay các khu vực sản xuất than quan trọng nhất là dọc theo sông Damodar, bao gồm các dĩa than Jharia và Raniganj ở Bihar và Tây Bengal, chiếm khoảng một nửa sản lượng của quốc gia và hầu như tất cả là than cốc có chất lượng. Khí tự nhiên ít quan trọng. Uranium được sản xuất với số lượng khiêm tốn ở Bihar.

Các công ty dịch vụ công cộng của đất nước,  nằm trong tay chính phủ, hầu như không thể bắt kịp với nhu cầu đang tăng nhanh với nhiều loại hình dịch vụ. Ví dụ, điện năng tiêu thụ, tăng gấp 16 lần từ năm 1951 đến năm 1980 và tăng hơn gấp bốn lần một lần nữa trong một phần tư thế kỷ tiếp theo. Lượng lớn điện năng tạo ra là từ các nhà máy nhiệt điện than phân bố rộng rãi; phần còn lại là từ các nhà máy thủy điện, xây dựng chủ yếu ở miền núi, dọc theo vách núi lớn; và chỉ có một lượng nhỏ sản xuất từ nhà máy điện hạt nhân.

 nhiet dienTình trạng thiếu điện và phân phối thường là hậu quả tất yếu trong lúc nhu cầu tăng vọt, do nhu cầu phát triển thường vượt xa công suất lắp đặt ở nhiều địa phương (cacnuocchauau). Hơn một nửa năng lượng điện được sử dụng trong công nghiệp. Trong nông nghiệp, chủ yếu để bơm nước tưới từ các giếng sâu, đã vượt quá mức năng lượng tiêu thụ trong nước. Điện khí hóa nông thôn đang tăng lên nhanh chóng, và số lượng lớn các làng hiện nay được nối vào mạng lưới điện phân phối.

III. Công nghiệp

carry pot to marketNgành công nghiệp sản xuất của Ấn Độ rất đa dạng. Một phần đáng kể các công nhân làm việc trong hàng triệu doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ quy mô nhỏ. Những doanh nghiệp này chủ yếu là ngành công nghiệp hộ gia đình – như như kéo sợi, dệt, làm đồ gốm, luyện kim, và chế biến gỗ – chủ yếu phục vụ cho nhu cầu địa phương của làng nơi họ đang ở. Tuy nhiên, xét về tổng sản lượng và giá trị gia tăng, nhà xuong detmáy sản xuất cơ giới chiếm ưu thế. Nhiều nhà máy, đặc biệt là những nhà máy sản xuất hàng hóa (ví dụ, các kim loại cơ bản, máy móc thiết bị, phân bón, hóa chất ), được sở hữu và điều hành bởi chính quyền tiểu bang. Ngoài ra còn có hàng ngàn nhà sản xuất tư nhân, trong đó có một số tập đoàn công nghiệp lớn và đa dạng.  Ví dụ, ngành công nghiệp thép, là ngành mà tập đoàn tư nhân sở hữu, các công ty sắt thép dan gioTata (Tata Steel), tại Jamshedpur (sản xuất bắt đầu vào năm 1911), là một trong những nhà sản xuất lớn nhất và thành công nhất. Tại Trung Đông, Đông Phi và Đông Nam Á, một số tập đoàn Ấn Độ đã thành lập “các hoạt động chìa khóa trao tay”, mà được chuyển cho địa phương quản lý sau một thời gian quy định. Tuy nhiên, các tập đoàn nước ngoài, đã chậm đầu tư vào các ngành do gom West Bengalcông nghiệp Ấn Độ vì các quy định quá đáng (về sau đã thoải mái hơn) và quy tắc giới hạn nước ngoài quyền sở hữu kiểm soát cổ phần.

Các ngành công nghiệp dệt thiết lập lâu đời, đặc biệt dùng bông, đay, len, lụa, và sợi tổng hợp –  đã giải quyết phần lớn công ăn việc làm cho công nhân. Ít có thành phố lớn nào là không có ít nhất một nhà máy dệt bông. Xưởng dệt đay, Tatakhác với  xưởng dệt bông, tập trung ở  ” Hugliside ” chuỗi thành phố dọc theo sông Hugli (Hooghly) ngay phía bắc Kolkata. Thậm chí còn mở rộng hơn nữa nhà máy dệt là xưởng chế biến ban đầu cho nông nghiệp và sản phẩm mỏ. Chúng bao gồm các nhà máy cán bông, ép dầu, bóc vỏ đậu phộng, đường tinh chế, sấy và bảo quản lạnh thực phẩm, nghiền và luyện quặng ban đầu. Các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, mặc dù phân tán rộng rãi, được tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn. Để truyền bá những lợi ích của sự phát triển trong khu vực và để giảm bớt tắc nghẽn đô thị, chính quyền bang đã tài trợ nhiều khu công nghiệp, bao gồm cả đất giá rẻ và giảm thuế. Các chương trình này cũng đã khá thành công.

xe hoi XUVTrong số các ngành công nghiệp nặng, nhà máy luyện kim, chẳng hạn như các nhà máy sắt thép, thường được đặt gần hoặc nguyên liệu, hoặc than, tùy thuộc vào sự kết hợp tương đối của vật liệu cần thiết và chi phí vận chuyển. Ấn Độ là may mắn có một số địa điểm, đặc biệt là cao nguyên Chota Nagpur, nơi mà nguồn cung cấp than dồi dào là gần quặng sắt. Dễ dàng tiếp cận các thị trường Kolkata, cao nguyên Chota Nagpur đã trở thành khu vực chính của Ấn Độ cho ngành công nghiệp nặng, trong đó có nhiều doanh nghiệp hóa chất và kỹ thuật kết nối với nhau. Sản xuất thiết bị giao thông vận tải nặng, chẳng hạn như đầu máy xe lửa và xe tải, cũng tập trung ở đó.

IV. Tài chính

Hệ thống ngân hàng do chính phủ Ấn Độ điều khiển và làm chủ phát triển rất tốt. Tổ chức chủ yếu của nó là Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (thành lập 1935), điều khiển việc lưu hành tiền, quản lý dự trữ của đất nước về ngoại hối và điều khiển sự lưu hành tiền tệ và hệ thống tín dụng.Với việc quốc hữu hoá 14 ngân hàng thương mại lớn của quốc gia năm 1969 và quốc hữu hóa hơn nữa trong năm 1980, hầu hết các ngân hàng thương mại đã đi vào khu vực quốc doanh. Năm 1975 chính phủ thiết lập một hệ thống các ngân hàng nông thôn khu vực, mục đích chính là để đáp ứng nhu cầu tín dụng của các hộ nông dân nhỏ và tá điền. Điều này đã góp phần giảm bớt sức mạnh của người cho vay lãi làng tham tàn, mà các mức lãi suất được thường cắt cổ đến nỗi người đi vay đã để lại sau khi chết món nợ lớn lao. Các ngân hàng khác đã được thành lập bởi chính quyền trung ương để cung cấp các khoản tín dụng nhằm thúc đẩy các ngành công nghiệp và ngoại thương khác nhau. Nhiều ngân hàng nước ngoài duy trì các văn phòng chi nhánh tại Ấn Độ, và các ngân hàng Ấn Độ duy trì văn phòng ở nhiều nước ngoài.

Thị trường chứng khoán không đóng vai trò quan trọng ở Ấn Độ như các nước tư bản giàu có. Tuy nhiên, chúng tồn tại ở hầu hết các thành phố lớn nhất của Ấn Độ và tạo điều kiện thuận lợi cho luồng vốn dưới dạng cổ phần theo quy tắc đề ra bởi Bộ Tài chính.

V. Thương mại

importKhối lượng ngành ngoại thương của Ấn Độ, tạo nên sự đa dạng của các cơ sở kinh tế của nó, là thấp. Hơn nữa, thâm hụt thương mại nước ngoài thường xuyên và lớn, mà trầm trọng hơn bởi lượng lớn hàng nhập khẩu là hàng nhập lậu, chủ yếu là hàng xa xỉ.

Trong số các phạm vi rộng của xuất khẩu, không có loại hàng hoá duy nhất chiếm một vị trí thống trị. Xét về giá trị, đá quý và đồ trang sức (đặc biệt cho thị trường Trung Đông) từ lâu đã giữ vị trí hàng đầu, tiếp theo là quần áo may sẵn, da và sản phẩm da (do lao động giá rẻ và các số lượng lớn gia súc của đất nước). Tuy nhiên, kể từ đầu thế kỷ 21, các sản phẩm kỹ thuật đã trở thành hàng xuất khẩu hàng đầu, và hóa chất và sản phẩm hóa chất, thực phẩm và các sản phẩm nông nghiệp đã giảm sút sau đá quý và đồ trang sức. Nhập khẩu là rất đa dạng, gồm dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ, kim loại quý, và các hóa chất và sản phẩm hóa chất.

exportQuan hệ thương mại của Ấn Độ là toàn cầu. Hoa Kỳ và Liên Xô cũ đã lâu là những điểm đến chính cho xuất khẩu của Ấn Độ (thường, trong trường hợp này, theo các thỏa thuận trao đổi hàng hóa). Hoa Kỳ vẫn là một điểm đến chính của hàng hóa Ấn Độ, trong khi các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông), và các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất cũng quan trọng. Nguồn nhập khẩu chủ yếu là từ Trung Quốc, EU và Hoa Kỳ.

VI. Dịch vụ

Giống như hầu hết các nước có truyền thống xã hội chủ nghĩa, Ấn Độ có một bộ máy quan liêu rộng, nhưng nó cũng đã góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế và xã hội. Tăng trưởng kinh tế của đất nước, ví dụ, đã được tạo điều kiện rất nhiều bởi chuyên môn kỹ thuật đáng kể của nó. Hầu hết các hoạt động xây dựng quy mô lớn của nó, chẳng hạn như xây dựng các tuyến đường sắt, đường cao tốc quốc gia và tiểu bang, bến cảng, công trình thủy điện, thủy lợi, và các nhà máy của chính phủ và khách sạn – đã được xây dựng bởi các cơ quan xây dựng do chính phủ quản lý, trong đó lớn nhất là Ban trung ương các công trình công cộng.

Bắt đầu từ những năm 1990, khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp to lớn cho sự tăng trưởng  dịch vụ với việc thành lập ngành công nghiệp dịch vụ và phần mềm máy tính mạnh mẽ, phần lớn nằm trong khu vực đô thị của Thành phố Bengaluru (Bangalore) và Hyderabad. Với một số lượng lớn người nói tiếng Anh, Ấn Độ cũng nổi lên như là một giải pháp thay thế giá rẻ cho công ty viễn thông Hoa Kỳ và doanh nghiệp khác để thành lập trung tâm điện thoại. Ấn Độ vẫn là một điểm đến hàng đầu cho du khách đến từ châu Âu và châu Mỹ, và du lịch là một nguồn thu ngoại tệ lớn.

* Yêu cầu các bạn tham khảo bài viết nếu có copy nên trích dẫn nguồn www.cacnuocchauau.com/home. Đề tài này đã đăng ký ở Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, đã được Hội đồng khoa học thẩm định tháng 9/2006, xin đừng dùng nó lập website riêng, cướp công sức người khác, người tự trọng không làm vậy. Mỗi bài tác giả phải mất công sức dịch rất lâu, sắp xếp bố cục, lựa chọn hình ảnh thích hợp với nội dung. Với tâm huyết yêu nghề  tác giả mong muốn đóng góp chút công sức biên soạn nó  dành cho các bạn yêu thích bộ môn địa lý, dùng để giảng dạy, tham khảo.

___________________________________________________________________________

PHOTO GALLERY