ẤN ĐỘ

CỘNG HOÀ ẤN ĐỘ

Diện tích: 3.287.263 km2 –  Dân số : 1.293.057.000 người  

MAP 1        

PHẦN 1

A. GIỚI THIỆU

Ấn Độ, quốc gia chiếm diện tích lớn ở khu vực Nam Á. Nó là một nước cộng hòa lập hiến gồm 29 tiểu bang, mỗi với một mức độ đáng kể khả năng kiểm soát các vấn đề của riêng mình; 6 vùng lãnh thổ dưới quyền đầy đủ; và lãnh thổ thủ đô Delhi, trong đó bao gồm New Delhi, thủ đô của Ấn Độ. Với khoảng một phần sáu dân số thế giới, Ấn Độ là quốc gia đông dân thứ hai, sau Trung Quốc.

Ấn Độ nổi tiếng vì các bằng chứng khảo cổ họcđược tìm thấyở đó cho biết nó có một nền văn minh đô thị -văn minh Indus rất tinh vi– chiếm ưu thế ở phía tây bắc của tiểu lục địa từ khoảng 2600-2000 TCN. Từ thời kỳ trên, Ấn Độ hoạt động dưới cương vị một lãnh thổ văn hóa chính trị độc lập, đã dẫn đến một truyền thống đặc biệt có liên quan chủ yếu với Ấn Độ giáo, mà có thể phần lớn phát xuất từ nền văn minh Indus. Các tôn giáo khác, đặc biệt là Phật giáo và Kỳ Na giáo, nguồn gốc ở Ấn Độ – mặc dù sự hiện diện của chúng hiện nay là khá nhỏ – và trong suốt thế kỷ cư dân của tiểu lục địa phát triển một đời sống trí thức phong phú trong các lĩnh vực như toán học, thiên văn học, kiến trúc, văn học, âm nhạc, và  mỹ thuật.

1Trong suốt lịch sử của mình, Ấn Độ đã liên tục bị xáo trộn bởi sự xâm nhập từ bên ngoài vách núi phía bắc. Đặc biệt quan trọng là sự ra đời của đạo Hồi, được đưa vào từ phía tây bắc bởi Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư, và những kẻ xâm lăng khác bắt đầu đầu thế kỷ thứ 8 TCN. Cuối cùng, một số trong những kẻ xâm lăng ở lại; khoảng thế kỷ 13 nhiều vùng của tiểu lục địa nằm dưới sự cai trị Hồi giáo, và số người Hồi giáo tăng đều đặn. Chỉ sau khi sự xuất hiện của nhà thám hiểm Bồ Đào Nha Vasco da Gama năm 1498 và việc thành lập tiếp theo của thế lực hải quân châu Âu trong khu vực này đã khiến Ấn Độ đặt vào tình thế phải tiếp xúc với ảnh hưởng bên ngoài đến bằng đường biển, trong quá trình suy thoái cực điểm của tầng lớp thượng lưu Hồi giáo cầm quyền và sự hợp nhất của tiểu lục địa trong đế quốc Anh.

Sự cai trị trực tiếp của người Anh, bắt đầu từ năm 1858, đã đem lại thay đổi đến sự thống nhất về chính trị và kinh tế của tiểu lục địa. Khi cai trị của Anh kết thúc vào năm 1947, tiểu lục địa được phân chia theo các tôn giáo thành hai nước là Ấn Độ, với đa số người theo đạo Hindu, và Pakistan, với đa số người Hồi giáo; phần phía đông của Pakistan sau khi tách ra tạo thành Bangladesh (cacnuocchauau). Nhiều tổ chức Anh ở tại chỗ (như các hệ thống nghị viện của chính phủ); Tiếng Anh tiếp tục được sử dụng rộng rãi như một ngôn ngữ chung; và Ấn Độ vẫn nằm trong Khối thịnh vượng chung. Tiếng Hindi trở thành ngôn ngữ chính thức.

Ấn Độ vẫn là một trong những quốc gia đa sắc tộc nhất trên thế giới. Ngoài nhiều tôn giáo và các giáo phái của mình, Ấn Độ là nơi có vô số đẳng cấp và các bộ tộc, cũng như hơn chục nhóm ngôn ngữ chính và hàng trăm nhóm ngôn ngữ nhỏ có nguồn gốc từ một số hệ ngôn ngữ không liên quan đến nhau.Tôn giáo thiểu số, bao gồm cả Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Sikh, đạo Phật, và Kỳ Na Giáo, vẫn chiếm một tỷ lệ đáng kể dân số; nhìn chung, số lượng của chúng vượt quá dân số của tất cả các nước, ngoại trừ Trung Quốc. Nỗ lực gần đây đã được thực hiện để làm cho thấm nhuần dần tinh thần quốc gia trong một đất nước có nhiều dân số khác nhau, nhưng căng thẳng giữa các nhóm lân cận vẫn còn và có lúc đã dẫn đến sự bùng phát bạo lực.Tuy nhiên, pháp luật xã hội đã làm được nhiều để giảm bớt các hạn chế trước kia do sự phân biệt đẳng cấp, bộ  tộc, phụ nữ, và những người bị thiệt thòi do các truyền thống xã hội khác. Trong quá trình giành độc lập Ấn Độ may mắn có một số nhà lãnh đạo tầm cỡ thế giới, đặc biệt là Thánh Gandhi và Jawaharlal Nehru,  người đã có thể kích động quần chúng ở quê nhà và mang lại thanh thế cho Ấn Độ ở nước ngoài. Đất nước này ngày nay đã đóng một vai trò ngày càng tăng trong các vấn đề toàn cầu.

Đồng thời với sự thịnh vượng vật chất ngày càng tăng của Ấn Độ và sự năng động về văn hóa-  bất chấp thách thức liên tục trong nước và bất bình đẳng kinh tế – ta thấy sự phát triển tốt về cơ sở hạ tầng và cơ sở công nghiệp rất đa dạng, trong nhóm chuyên viên khoa học và kỹ thuật có sẳn để làm việc khi cần đến (một trong những nhóm  lớn nhất trên thế giới), trong tốc độ mở rộng nông nghiệp, và trong sự truyền bá nền văn hóa phong phú và năng động qua âm nhạc, văn học, và điện ảnh. Mặc dù dân cư vẫn còn sống ở nông thôn rộng lớn, Ấn Độ có ba trong những thành phố đông dân và có tính quốc tế nhất trên thế giới – Mumbai (Bombay), Kolkata (Calcutta), và Delhi. Ba thành phố khác của Ấn Độ – Bengaluru (Bangalore), Chennai (Madras), và Hyderabad – là một trong những trung tâm công nghệ cao phát triển nhanh nhất trên thế giới, và hầu hết các công ty công nghệ thông tin và phần mềm lớn nhất thế giới hiện nay có văn phòng ở Ấn Độ.

B. LÃNH THỔ

Biên giới của Ấn Độ, gồm khoảng 1/3 là bờ biển, tiếp giáp với sáu quốc gia. Nó được bao bọc ở phía tây bắc bởi Pakistan, phía bắc giáp Nepal, Trung Quốc, và Bhutan; và phía đông giáp Myanmar (Miến Điện). Bangladesh ở phía đông được bao quanh bởi Ấn Độ ở phía bắc, phía đông và tây. Quốc đảo Sri Lanka nằm khoảng 65 km ngoài khơi bờ biển phía đông nam của Ấn Độ qua eo biển Palk và Vịnh Mannar.

Vùng đất của Ấn Độ cùng với Bangladesh và phần lớn Pakistan hình thành một tiểu lục địa khá rõ rệt, ngăn cách với phần còn lại của châu Á bởi dãy núi Himalaya hùng vĩ ở phía bắc và tiếp giáp các dãy núi phía tây và phía đông. Trong khu vực, Ấn Độ được xếp hạng là quốc gia lớn thứ bảy trên thế giới. (Hoapham)

 Phần lớn lãnh thổ của Ấn Độ nằm trong phạm vi một bán đảo lớn, bao quanh bởi biển Ả Rập ở phía tây và vịnh Bengal ở phía đông; mũi Comorin, điểm cực nam của lục địa Ấn Độ, đánh dấu ranh giới giữa hai biển. Ấn Độ có hai vùng lãnh thổ gồm toàn đảo: Lakshadweep ở Biển Ả Rập, và các đảo Andaman và Nicobar Islands, nằm giữa vịnh Bengal và biển Andaman.

I. ĐỊA HÌNH

mảng India

Mảng Ấn Độ đang trôi về phía châu Á

Hiện nay người ta được chấp nhận rằng vị trí địa lý của Ấn Độ, đặc điểm lục địa, và cấu trúc địa chất cơ bản là kết quả của một quá trình kiến tạo địa tầng- đó là sự chuyển dịch của lớp võ trái đất khổng lồ trên lớp vật chất nóng chảy nằm bên dưới lòng đất. Mảng Ấn Độ, là một phần phía tây bắc của mảng Ấn-Úc (cacnuocchauau), sau khi tách ra khỏi siêu lục địa Gondwana ở nam bán cầu, mảng Ấn Độ bắt đầu trôi dần lên phía bắc và va chạm với mãng mảng Á-Âu trong khoảng từ 50 tới 55 triệu năm trước, thuộc thời kỳ của thế Eocen trong đại Tân sinh. Khi hai mảng cuối cùng đã va chạm, rìa phía bắc của mảng Ấn-Úc bị đẩy mạnh dưới mảng Á-Âu và hút chìm bên dưới mảng Á-Âu đẩy lên cao dãy Himalaya có độ cao lớn nhất hành tinh. Dãy Himalaya hiện tiếp giáp với Ấn Độ ở phía Bắc và Đông-Bắc. Tại đáy biển cũ nằm ngay phía nam dãy Himalaya, kiến tạo mảng hình thành nên một máng rộng lớn để rồi dần bị trầm tích từ sông bồi lấp; hình thành nên đồng bằng Ấn-Hằng hiện nay. Sự va chạm làm giảm tốc độ của mảng nền Ấn – Úc, nhưng sự chuyển dịch, hoặc hút chìm, của mảng nền Ấn – Úc vẫn tiếp tục cho đến hiện nay.

Địa hình Ấn Độ ngày nay dựa trên ba cấu trúc cơ bản : Dãy Himalayas ở phía bắc, Cao nguyên Decan ở phía nam và Đồng bằng Ấn Hằng ( nằm trong vùng sụp lún) giữa hai vùng trên.

 1/ Dãy Himalayas

Dãy Himalaya, hệ thống núi cao nhất trên thế giới, hình thành biên giới  phía bắc của Ấn Độ. Đó là hệ thống núi cánh cung trẻ dài 2.500km, kéo dài từ ngọn núi Nanga Parbat, cao 8126m, thuộc vùng Kashmir do Pakistan quản lý đến ngọn núi Namcha Barwa ở Khu tự trị Tây Tạng thuộc Trung Quốc. Dãy Himalaya trải khắp 7 quốc gia: Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Myanma và Afghanistan (cacnuocchauau)  với chiều rộng thay đổi từ 200- 400km.

Nanga Parbat* Nanga Parbat (Ngọn núi trần trụi), với chiều cao 8.126 mét  là ngọn núi cao thứ 9 thế giới. Ngọn núi nằm ở sườn tây của dãy núi Himalayas thuộc khu vực Gilgit-Baltistan của Pakistan. Ngọn núi này còn có tên gọi khác là “Kẻ ăn thịt người” hay “Núi quỷ”. Núi này là nơi chứng kiến nhiều tai nạn chôn vùi trong tuyết của người leo núi. Ở đây có nhiều vách đá dựng cao nhất thế giới, đặc biệt ở phía nam mọc lên bức tường cao 4.600 m. Các cố gắng vượt qua một đỉnh núi cao trên 8000 mét đầu tiên được ghi nhận là trong chuyến thám hiểm của Albert F. Mummery và J. Norman Collie, họ đã cố đến núi Nanga Parbat tại Kashmir (nay là Gilgit-Baltistan, Pakistan) vào năm 1895; song nỗ lực này đã thất bại khi Mummery và hai người khác là Gurkha Ragobir và Goman Singh thiệt mạng vì gặp phải một trận lở tuyết.

Bên trong Ấn độ dãy Himalayas được chia thành ba vành đai, gọi Đại,Trung và Ngoại Himalayas (Greater Himalaya,Lesser, và Outer) (cacnuocchauau).Tại mỗi vành đai là các khúc uốn khổng lồ liên kết với hệ thống, từ đó nhiều rặng  núi thấp và đồi trải ra. Những rặng núi phía tây nằm hoàn toàn bên trong Pakistan và Afghanistan, trong khi những rặng núi ở phía đông tạo thành biên giới của Ấn Độ với Myanmar. Bắc của Himalayas là Cao nguyên Tây Tạng và nhiều rặng núi chuyển tiếp của Hymalayas, chỉ một phần nhỏ trong số đó, ở vùng Ladakh thuộc bang Jammu và Kashmir (thuộc Ấn Độ – quản lý), là trong giới hạn lãnh thổ của Ấn Độ.

3 van dai hymaDo sự hút chìm của bán đảo Ấn Độ vào mảng Âu Á vẫn còn tiếp diễn, dãy Himalaya và các dãy núi  liên quan ở phía đông hoạt động kiến tạo vẫn còn. Kết quả là núi vẫn tiếp tục nhô cao lên, và động đất- thường đi đôi với lở đất là rất thông thường. Một số từ năm 1900 đã gây ra những tàn phá cực kỳ khủng khiếp, bao gồm trận động đất năm 1934 ở vùng mà bây giờ là tiểu bang Bihar đã giết chết hơn 10.000 người. Năm 2001 một trận động đất nhẹ khác (động đất Bhuj), xa khỏi  những ngọn núi,  trong tiểu bang Gujarat, ít mạnh mẽ nhưng gây ra thiệt hại lớn, lấy đi cuộc sống của hơn 20.000 người và khiến hơn 500.000 người vô gia cư. Còn những trận động đất khác, đặc biệt là trận động đất năm 2005 ở Kashmir thuộc Pakistan – và trận động đất 2015 ở Nepal – không những chủ yếu ảnh hưởng đến những vùng này mà còn gây thiệt hại trên diện rộng và làm hàng trăm người chết  ở các vùng lân cận của Ấn Độ. Tần số tương đối cao và sự phân bố rộng các trận động đất tương tự như vậy  đã tạo ra tranh cãi về sự an toàn và tính chất thích hợp của một số dự án thủy điện và thủy lợi.

+ Ngoại Himalayas (Outer Himalaya – Siwaliks):

Dehradun town

Thành phố Dehraduntrên đỉnh Chilmiri. Đỉnh Chilmiri về cơ bản là một khu đất bằng phẳng trên một đỉnh đồi được bao quanh bởi rừng thông tuyết, cây xanh tươi tốt (cacnuocchauau). Nó nổi tiếng với phong cảnh tuyệt đẹp của dãy Himalaya.

Siwaliks hillCực nam của ba vành đai núi là Ngoại Himalayas, còn gọi là dãy Siwaliks, cũng gọi là vùng đồi Siwalik. Nó mở rộng về phía tây – tây bắc hơn 1.600 km từ sông Tista ở bang Sikkim, đông bắc Ấn Độ, qua Nepal, qua tây bắc Ấn Độ, và vào miền bắc Pakistan. Mặc dù  ở nhiều nơi chỉ rộng 16 km, dãy núi cao trung bình từ 900 đến 1.500 mét. Nó nhô lên đột ngột từ đồng bằng sông Ấn và sông Hằng ở phía nam và song song dãy Himalaya chính  ở phía bắc, từ đó nó được phân cách bởi các thung lũng. Siwaliks đôi khi được coi là bao gồm các chân đồi phía nam của dãy Assam Himalaya, mà mở rộng về phía đông 640 km ngang qua miền nam Bhutan đến khúc uốn của sông Brahmaputra. Phạm vi thích hợp, mà tên Siwalik trước đây được giới hạn là 320 km của chân đồi ở Ấn Độ kéo dài từ sông Hằng ở Haridwar, bang Uttarakhand (Hoapham), hướng tây bắc tới sông Beas. Việc tàn phá rừng nghiêm trọng trên diện rộng, mưa lớn và xói mòn mãnh liệt, khiến trầm tích từ dãy Siwaliks được vận chuyển xuống đồng bằng.  Rải rác trong dãy Siwaliks rất nhiều thung lũng bằng phẳng được canh tác dày đặc có mật độ dân số cao. Thung lung nằm ở giữa Siwaliks và rặng núi Mussoorie được mệnh danh là Dehra Dun (thung lũng Dehra) chứa những kiều dân Á- Âu và những người Anh trồng trà. Đường đèo chính là Mohan mà qua đó hình thành một con đường từ Saharanur đến Dehra và Mussoorie vắt ngang qua rặng núi.

+Trung Himalayas (The Lesser Himalayas):

Rung Himachal Pradesh

Về phía bắc của Siwaliks và tách khỏi chúng bằng một đới đứt gãy là dãy Trung Himalayas, mở rộng 2.500 km theo hướng phía tây bắc-đông nam ngang qua giới hạn phía bắc của tiểu lục địa Ấn Độ, độ cao tăng lên từ 3.600 đến 4.600 m. Khu vực này bao gồm các vùng tranh chấp Kashmir (Gilgit-Baltistan, do Pakistan quản lý, và bang Jammu – Kashmir, do Ấn Độ quản lý), các bang của Ấn Độ là Himachal Pradesh và Uttarakhand, Nepal, Sikkim ( tiểu bang của Ấn Độ)  và Bhutan. Các ngọn núi bao gồm cả đá kết tinh cổ và đá trẻ về phương diện địa chất, đôi khi trong một chuỗi địa tầng đảo ngược vì lực đẩy đứt gãy. Trung Himalaya nằm vắt ngang bởi nhiều hẻm núi sâu, hình thành bởi các con suối chảy xiết (một số chúng có tuổi lớn hơn chính các dãy núi), được cung cấp bởi các sông băng và cánh đồng băng ở phía bắc.

+ Đại Himalaysa ( The great Himalayas) :

Kanchenjunga

Đỉnh Kanchenjunga cao 8.586m ở biên giới của Nepal và bang Sikkim là đỉnh cao thứ ba và là đỉnh cao nhất của Ấn độ

Cực bắc Đại Himalaya với đỉnh thường cao trên 4.900m, bao gồm các đá kết tinh cổ và trầm tích biển cũ. Giữa Đại Himalaya và Trung Himalayas là một số thung lũng dọc màu mỡ; thung lũng Kashmir thuộc Ấn độ là thung lũng lớn nhất, một hồ lòng chảo cổ với diện tích khoảng 4.400 km vuông. Đại Himalayas có chiều rộng từ 50- 75km, bao gồm một số đỉnh cao nhất thế giới. Đỉnh cao nhất là Everest ( 8.850m), ranh giới Trung quốc và Nepal, nhưng Ấn Độ cũng có nhiều đỉnh cao. Đáng chú ý nhất trong số này là đỉnh Kanchenjunga 8.586m ở biên giới của Nepal và bang dong co himalayaSikkim là đỉnh cao thứ ba và là đỉnh cao nhất của Ấn độ. Những đỉnh khác ở Ấn Độ gồm Nanda Devi ( 7.817m), Kamet ( 7.755m), và Trisul ( 7.120m)  ở Uttarakhand. Đại Himalayas nằm trong vành đai tuyết vĩnh viễn và vì thế chứa phần lớn băng hà Himalayas. (HoaPham)

+ Các dãy núi và đồi liên quan

Nói chung, các dãy núi và các ngọn đồi của vùng chạy song song với trục chính của dãy Himalaya. Đặc biệt nổi bật ở phía tây bắc, nơi dãy Zanskar, Ladakh và dãy Karakoram (tất cả ở bang Jammu và Kashmir) chạy về phía đông bắc của Đại Himalaya. Cũng ở Jammu và Kashmir là dãy Pir Panjal, mở rộng dọc theo phía tây nam của Đại Himalaya, tạo thành hai cánh phía tây và phía nam của Thung lũng  Kashmir.

Ladakh mountain

Ở cực đông của nó,  dãy Himalaya nhường đường cho một số các dãy núi nhỏ hơn chạy về phía đông bắc – tây nam, bao gồm cả dãy Patkai có rừng cây dày đặc và những ngọn đồi Naga và Mizo – những ngọn đồi này  mở rộng dọc theo biên giới của Ấn Độ với Myanmar (cacnuocchauau) và dãy đất hẹp đông nam Bangladesh. Trong vùng đồi  Naga, hồ Loktak đầy lau sậy, ở thung lũng sông Manipur, là một dạng địa hình quan trọng. Nhánh tách ra từ vùng đồi này về phía tây bắc là vùng đồi Mikir, và phía tây là Jaintia, Khasi, và vùng đồi Garo, mà chạy ngay phía bắc của biên giới của Ấn Độ với Bangladesh. Nói chung, các nhóm sau này cũng được gọi là cao nguyên Shillong (Meghalaya).

2/ Đồng bằng Ấn – Hằng ( Indo- Gangetic Plain)

field in PunjabĐồng bằng Ấn-Hằng (còn gọi là Đồng bằng bắc Ấn Độ), nằm giữa dãy Himalaya và Cao nguyên Deccan. Đồng bằng trước đây là một đáy biển nhưng bây giờ được phù sa sông bồi đắp độ sâu lên đến 1.800 mét. Đồng bằng trải dài từ tỉnh Sindh và Punjab của Pakistan ở phía tây, nơi nó được tưới bằng sông Indus và các nhánh của nó, phía đông giáp thung lũng sông Brahmaputra ở bang Assam. (Hoapham)

Lưu vực sông Hằng (Ganga) ở Ấn Độ, chủ yếu nằm ở bang Uttar Pradesh và Bihar là phần trung tâm và chủ yếu của đồng bằng. Phần đông được tạo thành do sự kết hợp của châu thổ sông Hằng và sông Brahmaputra, trong đó, mặc dù chủ yếu ở Bangladesh, cũng chiếm một phần bang Tây Bengal của Ấn Độ gần kề (cacnuocchauau). Đó là vùng châu thổ đặc trưng bởi lũ lụt hàng năm do lượng mưa gió mùa dữ dội, độ dốc đồng bằng thoai thoải đã khiến lượng phù sa nhiều vô kể làm tắc nghẻn các lòng sông của nó. Lưu vực sông Indus, mở rộng từ Delhi về phía tây, tạo thành phần phía tây của đồng bằng; phần đồng bằng thuộc Ấn Độ chủ yếu là ở các bang Haryana và Punjab.

field in BiharĐộ dốc chung của đồng bằng hầu như khó thể nhận thấy, nhìn chung lưu vực sông Hằngthoải hơn sông hơn sông Indus và Brahmaputra.Mặc dù vậy, với những người cày đất của nó, có một sự khác biệt quan trọng giữa bhangar– đất ruộng bậc thang của phù sa cổ hơi cao hơn và khadar, phù sa mới màu mỡ hơn ở vùng đồng bằng ngập trũng. Nhìn chung, tỷ lệ của khu vực bhangaso với khadar (cacnuocchauau) tăngdọc theo thượng nguồn tất cả các con sông lớn.  Ngoại trừ địa hình rộng lớn đơn điệu ở phần phía tây nam của đồng bằng, nơi có những vùng đất cằn cỗi được đào rãnh tập trung vào sông Chambal (cacnuocchauau). Khu vực đó từ lâu đã nổi tiếng với những băng nhóm bạo lực chứa chấp tội phạm gọi là dacoits, những kẻ  lẩn trốn ở nhiều khe núi ẩn.

Sa mạc Thar hình thành một phần mở rộng phía nam quan trọng của Đồng bằng Ấn-Hằng. Nó nằm chủ yếu ở phía tây bắc Ấn Độ nhưng cũng mở rộng sang phía đông Pakistan và là một khu vực địa hình nhấp nhô gợn sóng, bên trong nó là một số vùng chi bị phối bởi đụn cát di chuyển và nhiều ngọn đồi riêng lẻ. Vùng đồi này cung cấp bằng chứng rõ ràng rằng lớp trầm tích mỏng trên bề mặt của vùng, một phần là phù sa và một phần là do gió mang đến, bị chôn dùi trong mảng Ấn-Úc có tuổi địa chất già hơn rất nhiều, trong đó vùng đồi là một phần về mặt cấu trúc. (cacnuocchauau)

3/ Cao nguyên Deccan

India map 1

Bản đồ địa hình Ấn Dộ

Cao nguyên Deccan là một cao nguyên lớn ở Ấn Độ, chiếm hầu hết phần phía nam của đất nước. Nó nhô lên đến 100 mét ở phía bắc, và đến hơn 1 km ở phía nam. Nó trải dài qua tám tiểu bang của Ấn Độ và bao gồm một loạt các môi trường sống, bao phủ hầu hết trung tâm và miền nam Ấn Độ.

Cao nguyên nằm giữa hai dãy núi, Ghats Tây và Ghats Đông, mỗi dãy nhô lên từ đồng bằng ven biển lân cận tương ứng của nó, và gần như giao nhau ở ở chóp phía nam dốc đứng. Nó ngăn cách với đồng bằng sông Hằng ở phía bắc bởi dãy Satpura và Vindhya, tạo thành ranh giới phía bắc của nó. Độ cao trung bình của Deccan là khoảng 600 m, thoải dần về phía đông. Các sông chính là sông Godavari, Krishna, và Kaveri (Cauvery) – chảy từ Ghats Tây về phía đông đến vịnh Bengal (cacnuocchauau). Khí hậu của vùng cao nguyên khô hơn so với bờ biển và là khô cằn ở nhiều  nơi.

Vindhyas mountainCó thời là một phần của mảng lục địa Gondwana, cao nguyên Deccan có tuổi rất cổ và địa chất ổn định nhất ở Ấn Độ. Một số trong các dãy núi của Deccan đã bị xói mòn và trẻ lại nhiều lần, và chỉ những đỉnh còn lại của chúng làm chứng về quá khứ địa chất của chúng. Khối bán đảo chính gồm đá gneiss (gơnai), granit – gneiss,  đá phiến và đá granit, cũng như dòng nham thạch bazancó tuổi địa chất gần đây. (Hoapham)

a/ GhatsTây

Ghats Tây

Cao nguyên với thảm thực vật còi cọc trên dãy Ghat Tây, bang nam bộ Karnataka.

GhatsTây, còn gọi là Sahyadri, là một chuỗi núi, đồi chạy theo hướng bắc-nam đánh dấu rìa phía tây của cao nguyên Deccan, và ngăn cách cao nguyên với một vùng đông bằng hẹp dọc theo biển Ả Rập.Dãy núi bắt đầu từ khu vực ranh giới giữa hai bang Gujarat và Maharashtra, phía nam sông Tapti, và dài khoảng 1.600 km chạy qua các bang Maharashtra, Goa, Karnataka, Tamil Nadu và Kerala và kết thúc ở Kanyakumari, cực nam của lục địa Ấn Độ. Ghats Tây nhô lên đột ngột từ đồng bằng ven biển Ả Rập với vách đá dốc đứng có độ cao khác nhau, nhưng sườn phía đông của chúng thoải hơn nhiều. Ghats Tây chứa một loạt các cao nguyên và các đỉnh núi ngăn cách bởi các đèo yên ngựa. Khu nghỉ mát trên đồi của Mahabaleshwar, bố trí trên cao nguyên đá ong, là một trong những chỗ cao nhất ở một Nui dau voinửa phía bắc, cao đến 1.430 m. Hệ thống đạt tới đỉnh cao nhất ở phía nam, và kết thúc bằng vùng đồi Nilgiri, với đỉnh cao nhất là Doda Betta 2.637 m; và vùng đồi Anaimalai, Palni, và Cardamom, cả ba tỏa ra từ các đỉnh núi cao nhất ở Ghats Tây, có đỉnh Anai cao 2.695 m. Ghats Tây nhận được lượng mưa lớn, và một số con sông chính, đáng chú ý là Krishna (Kistna) và hai con sông linh thiêng, Godavari và Kaveri (Cauvery) – có nguồn của chúng  ở đó. (cacnuocchaua)

Khu vực Ghat Tây là một trong 10 “điểm nóng nhất về đa dạng sinh học” và có trên 5000 loài thực vật có hoa, 139 loài động vật có vú, 508 loài chim và 179 loài lưỡng cư, Ghat Tây cũng có nhiều loài chưa được khám phá. Ít nhất 325 loài bị đe dọa toàn cầu xuất hiện tại Ghat Tây.

b/ Ghats Đông

Ghats DongGhats Đông là một loạt núi thấp không liên tục chạy theo hướng đông bắc- tây nam song song với bờ biển của Vịnh Bengal. Ghat Đông chạy từ tiểu bang Tây Bengal ở phía bắc, qua Orissa và Andhra Pradesh đến Tamil Nadu ở phía nam. Dãy núi này còn ăn vào địa giới tiểu bang Karnataka. Một bộ phận lớn nhất  – còn sót lại của dãy núi cổ bị bào mòn và sau đó trẻ lại – được tìm thấy ở vùng Dandakaranya giữa sông Mahanadi và sông Godavari. Dãy núi hẹp đó có đỉnh ở trung tâm, đỉnh cao nhất trong số đó là Arma Konda (1.680 m) ở đông bắc bang Andhra Pradesh. Về phía tây nam vùng đồi thoải hơn, nơi đó sông Godavari cắt ngang qua hẻm núi dài 65km. Phía bên kia sông Krishna, Ghats Đông xuất hiện như là một loạt các dãy núi thấp và đồi, bao gồm Erramala, Nallamala, Velikonda, và Palkonda. Tây Nam của thành phố Chennai (Madras), Ghats Đông tiếp tục là vùng đồi Javadi và Shevaroy, xa hơn nữa là chúng kết hợp với Ghats Tây. (hoapham)

Nilgiri hillNhìn chung Ghats Đông thấp hơn Ghats Tây và khô ráo hơn, khí hậu trên cao thường mát mẻ và ẩm ướt hơn vùng đồng bằng và là nơi thích hợp cho các đồn điền cà phê xen kẽ với những cánh rừng khô. Vùng đồi Nilgiri nối dãy Ghat Tây đến sông Kaveri, tạo thành một hành lang rừng sinh thái giữa Ghat Đông và Tây (cacnuocchaua). Khu vực này cho phép quần thể voi rừng lớn thứ hai ở Ấn Độ di chuyển tự do từ Ghat Đông, Nilgiri và Ghat Tây. Đây cũng là khu vực ngôi đền nổi tiếng ở Malai Mahadeshwara thuộc Chamarajanagar, tiểu bang Karnataka.

4/ Vùng Nội địa

India map 2

Bản đồ địa hình Ấn Độ

Phần cực bắc của Deccan có thể được coi là mũi đất giới hạn của bán đảo. Đó là khu vực nằm giữa bán đảo về phía nam có ranh giới là dãy Vindhya, Đồng bằng Ấn-Hằng và Đại hoang mạc Thar Ấn Độ ( phía bên kia của dãy Aravalli) ở phía bắc.

Dãy Aravalli dài hơn 725 km chạy theo hướng tây nam-đông bắc từ nơi giao nhau của cao nguyên trung tâm gần Ahmedabad (cacnuocchauau), Gujarat, về phía đông bắc đến Delhi. Những ngọn núi được tạo thành từ đá cổ xưa và được chia thành nhiều phần, một trong số đó có hồ muối Sambhar. Đỉnh cao nhất của chúng là Guru cao 1.722 m, thuộc núi Abu. Dãy Aravallihình thành đường chia nước giữa các dòng suối chảy về phía tây, thoát vào sa mạc hoặc vào vùng Rann of Kutch,  và sông Chambal và các nhánh của nó chảy về phía đông trong phạm vi lưu vực sông Hằng.

Aravalli mountainGiữa dãy Aravali và dãy Vindhya là cao nguyên bazan màu mỡ Malwa. Cao nguyên cao dần về phía nam tới những ngọn đồi của dãy Vindhya, mà thực sự là một vùng dốc đứng hướng về phía nam bị xói mòn sâu bởi các con suối ngắn chảy vào thung lũng sông Narmada bên dưới. Các vách đá xuất hiện ở phía nam như một rặng núi hùng vĩ. Thung lũng Narmada tạo thành phần chính về phía tây của máng Narmada – Son (cacnuocchauau), một vùng trũng liên tục chạy theo hướng tây nam – đông bắc, chủ yếu dưới chân của dãy Vindhya, dài khoảng 1.200 km. (hoapham)

Chiraundi villagePhía đông của mũi đất bán đảo nằm trong cao nguyên Chota Nagpur giàu khoáng sản (chủ yếu là bên trong bang Jharkhand, tây bắc bang Odisha (Orissa), và Chhattisgarh (cacnuocchauau). Đây là khu vực có nhiều vách dốc đứng ngăn cách khu vực địa hình lượn sóng. Về phía tây nam của cao nguyên Chota Nagpur là đồng bằng Chhattisgarh, tập trung ở Chhattisgarh trên thượng nguồn sông Mahanadi.

Trap in Decan PlateauHầu hết các khu vực nội địa phía nam của mũi đất bán đảo và cao nguyên Chota Nagpur được đặc trưng bởi địa hình lượn sóng và địa hình nói chung là thấp, trong đó có một số dãy đồi, một số chúng có đỉnh bằng phẳng, chạy theo các hướng khác nhau. Chiếm phần lớn bộ phận phía tây bắc của bán đảo (hầu hết Maharashtra và một số khu vực giáp biên giới của bang Madhya Pradesh, Telangana, và Karnataka) là cao nguyên nham thạch Deccan. Địa hình có đỉnh bằng phẳng  đặc trưng của vùng rộng lớn màu mỡ, bị cắt ngang bởi dãy Satpura, Ajanta, và Balaghat. (cacnuocchauau).

5/ Vùng duyên hải

map Rann of Kutch

Bản đồ vị trí Rann of Kutch

Hầu hết bờ biển của Ấn Độ nằm ở hai sườn Ghats Đông và Tây Ghats. Tuy nhiên về phía tây bắc phần lớn bờ biển Gujarat nằm ở tây bắc của Ghats Tây, trải rộng quanh vịnh Khambhat (Cambay) và vào đầm lầy mặn của bán đảo Kathiawar và Ran of Kachchh (Kutch).Những đầm lầy hình thành do thủy triều đó bao gồm Đại Rann of Kachchh dọc theo biên giới với Pakistan và Tiểu Rann of Kachchh giữa hai bán đảo. Bởi vì mức độ các đầm lầy tăng rõ rệt trong mùa mưa, bán đảo Kachchh thường trở thành một hòn đảo trong vài tháng mỗi năm.

Rann of Kutch+ Rann of Kutch là vùng đầm lầy nằm ở tây bắc Gujarat và giáp với tỉnh Sindh của Pakistan, chiếm diện tích 27.900km2. Khu vực này là một phần của Biển Arab. Sức mạnh địa chất như động đất đã hình thành một cái đập biến nó thành một phá nước mặn lớn. Khu vực này dần dần bị lấp đầy phù sa do đó biến nó thành một đầm lầy muối mùa theo mùa. Trong các đợt gió mùa, khu vực này trở thành một đầm lầy cạn, thường ngập sâu đến đầu gối. Sau các đợt gió mùa, khu vực trở nên khô và rất nóng.

 

Các khu vực xa hơn về phía nam, đặc biệt là đoạn mở rộng  từ Daman đến Goa (gọi là bờ biển Konkan), bờ biển thụt sâu vào với các thung lũng dạng răng cưa ngập nước mở rộng vào nội địa vào đồng bằng ven sông hẹp. Các đồng bằng đó bị chi phối bởi các cao nguyên đá ong thấp và được đánh dấu bằng các mũi và các vịnh có bãi biển hình lưởi liềm xen kẽ. Từ Goa về phía nam đến Mũi Comorin (mũi cực nam của Ấn Độ) là đồng bằng ven biển Malabar, được hình thành từ sự lắng đọng trầm tích dọc theo bờ biển. Các đồng bằng có chiều rộng thay đổi từ 25 đến 100 km, được đặc trưng bởi các đầm phá nước lợ, các nhánh sông nhỏ nước tù ứ đọng.

Goa beach* Daman là một thành phố của quận Dìu ở Lãnh thổ Liên bang Daman và Diu. Quận này là một hòn đảo nằm ngoài khơi bờ biển phía nam bán đảo Kathiawar của Gujarat, ngăn cách với đất liền bằng một lạch triều. Nó có diện tích 40 km², dân số 44.110 (2001). Daman được chia bởi sông Daman Ganga thành hai phần cụ thể là Nanidaman (Nani có nghĩa là “nhỏ”) và Motidaman (Moti có nghĩa là “lớn”). Trớ trêu thay, Nanidaman là thị trấn lớn hơn. Đây là khu vực trung tâm thành phố chứa hầu hết các bệnh viện, siêu thị, khu dân cư lớn lớn v.v . Trong khi Motidaman chủ yếu là thành phố cũ nơi sinh sống chủ yếu của ngư dân và các quan chức chính phủ. Cả hai Nanidaman và Motidaman được kết nối với nhau bằng hai cây cầu

Các đồng bằng ven biển phía đông chủ yếu là đồng bằng châu thổ là một vùng trầm tích lắng sâu. Trong hầu hết chiều dài của nó có chiều rộng đáng kể hơn so với các đồng bằng trên bờ biển phía tây. Các đồng bằng châu thổ chính, từ nam đến bắc, là Kaveri, Krishna- Godavari,  Mahanadi, và đồng bằng châu thổ sông Hằng-Brahmaputra.

farm in SunderbantChâu thổ sông Hằng-Brahmaputra, (còn gọi là châu thổ Sunderbans, Brahmaputra, Bengal) là châu thổ thuộc Bangladesh và bang Tây Bengal của Ấn Độ, có chiều rộng khoảng 300km, nhưng chỉ khoảng 1/3 nằm ở Ấn Độ. Nó là châu thổ rộng lớn và màu mỡ nhất thế giới, có tên biệt danh là Châu thổ Xanh. Châu thổ mở rộng từ sông Hooghly ở phía tây đến sông Meghna ở phía đông. Kolkata (trước kia là Calcutta) và  Haldia ở Ấn Độ và Mongla và Chittagong ở Bangladesh là các cảng biển chính của châu thổ. Nằm vắt ngang qua châu thổ là vô số các chi lưu, châu thổ sông Hằng là vùng kém thoát nước và phần phía tây trong lãnh thổ Ấn Độ đã trở thành các nhánh sông đang hấp hối vì độ dốc nhỏ và sự thay đổi dòng ở các nhánh sông Hằng. Một số sông lớn chảy qua châu thổ Brahmaputra, gồm sông Padma ( nhánh chính của sông Hằng ) và sông Jamuna ( nhánh chính của sông Brahmaputra), chúng hợp nhất rồi hoà vào sông Meghna trước khi ra  biển.

cow shed in the island of Ganga riverChâu thổ sông Hằng có hình dạng của một hình tam giác, diện tích hơn 105.000 km2, và mặc dù châu thổ nằm chủ yếu ở Bangladesh và Ấn Độ, các con sông ở Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, và Nepal từ phía bắcchảy vào nó. Hầu hết châu thổ gồm đất phù sa được tạo thành bởi các hạt trầm tích nhỏ cuối cùng lắng xuống khi dòng sông chảy chậm lại tại các cửa sông. Con sông mang theo những hạt mịn, thậm chí từ các nguồn của chúng tại dòng sông do băng hà tan ra. Đất đá ong đỏ và đỏ-vàng được tìm thấy ở xa hơn về phía đông. Đất có một lượng lớn khoáng chất và chất dinh dưỡng, là đất tốt cho nông nghiệp.

rung duoc sunderbantChâu thổ bao gồm một mê cung của các kênh, đầm, hồ, và trầm tích vùng ngập lụt. Sông Gorai-Madhumati, một trong các phân lưu của sông Hằng, chia Châu thổ sông Hằng thành hai phần: phần địa chất trẻ, năng động, phía đông, và phần có tuổi địa chất già hơn,  ít năng động,  ở phía tây.

Sự xâm nhập của thuỷ triều vào sâu trong đất liền, và bất kỳ khi nào mực nước biển dâng cao tạm thời nhỏ cũng có thể nhấn chìm Kolkata (Calcutta), nằm khoảng 155 km từ đầu của Vịnh Bengal. Các đồng bằng ven biển phía Đông bao gồm một số đầm phá, lớn nhất trong số đó là Pulicat và Chilka (Chilika), là kết quả từ trầm tích lắng đọng dọc theo bờ biển.

6/ Các đảo

Một số quần đảo ở Ấn Độ Dương về phương diện chính trị là một phần của Ấn Độ. Lãnh thổ liên minh Lakshadweep là một nhóm các đảo san hô nhỏ ở biển Ả Rập ở phía tây của bờ biển Malabar. Ngoài khơi bờ biển phía đông, ngăn cách vịnh Bengal và biển Andaman, là một chuỗi đảo Andaman và Nicobar (hoapham) có nhiều đồi, cũng là một lãnh thổ liên minh; Andamans gần với Myanmar và Nicobars gần với  Indonesia hơn với đất liền Ấn Độ.

II. SÔNG NGÒI VÀ HỒ

Hơn 70 phần trăm sông ngòi của Ấn Độ chảy vào vịnh Bengal qua hệ thống sông Hằng-Brahmaputra và một số sông chảy qua các bán đảo lớn nhỏ.Các sông chảy vào biển Arab chiếm 20 phần trăm, một phần nằm trong hệ thống sông Indus và một phần trong lưu vực tách biệt hoàn toàn ở phía nam (ở Gujarat, miền tây bang Madhya Pradesh, bắc Maharashtra, và các vùng phía tây của Tây Ghats).

Hầu hết các khu vực còn lại, ít hơn 10 phần trăm của tổng số, nằm trong hệ thống thoát nước nội địa, đặc biệt là ở Đại sa mạc Ấn Độ bang Rajasthan ( còn lại là ở  Aksai Chin, một cao nguyên trơ trụi cằn cỗi ở Khasmir do Trung Quốc quản lý nhưng còn đang tranh chấp với Ấn Độ).  Cuối cùng, ít hơn 1 phần trăm diện tích của Ấn Độ, dọc theo biên giới với Myanmar, là các sông chảy vào biển Andaman qua các nhánh của sông Irrawaddy.

1/ Sông ngòi

a/ Sông chảy vào Vịnh Bengal

hop luu song Hang+ Hệ thống sông Hằng – Brahmaputra: Sông Hằng và Brahmaputra, cùng với các nhánh sông của chúng dẩn nước cho hơn 1/3 lãnh thổ Ấn độ. Sông Hằng được xem là sông linh thiêng của những người theo đạo Hindu, dài 2510km. Dù rằng vùng châu thổ của nó chủ yếu nằm ở Bangladesh, dòng sông Hằng ở bên trong lãnh thổ Ấn Độ dài hơn bất kỳ con sông của các quốc gia khác. Nó có rất nhiều sông suối đầu nguồn được cung cấp bởi sự tan chảy của băng hà Himalayas và đỉnh núi. Dòng sông đầu nguồn chính là Bhagirathi, bắt nguồn từ độ cao 3.000m ở chân của băng hà Gangotri, cũng đượcxem là sông linh thiêng của những người theo đạo Hindu.

song hang o HariwarSông Hằng vào Đồng bằng Ấn Hằng ở thành phố Haridwar (Hardwar). Từ Haridwar đến Kolkata nó hợp lưu với nhiều sông nhánh. Từ tây sang đông là sông Ghaghara, Gandak, và Kosi, tất cả đều xuất phát từ dãy Himalaya, hợp lưu sông Hằng ở phía bắc, trong khi Yamuna và Son là hai nhánh quan trọng nhất ở phía nam. Yamuna, cũng có một nguồn ở Himalaya (sông băng Yamunotri) và chảy gần song song với sông Hằng trong suốt chiều dài của nó, nhận được dòng chảy của nhiều con sông quan trọng, bao gồm sông Chambal, Betwa, và Ken, có nguồn ở mũi đất bán đảo Ấn Độ. Trong số các nhánh phía bắc của sông Hằng, sông Kosi, là sông phá hủy nhất của Ấn Độ (gọi tắt là “Nỗi buồn của Bihar”), được đặc biệt quan tâm đến. Do lưu vực lớn của nó trong dãy Himalaya của Nepal và độ dốc nhỏ của nó khi đến đồng bằng, sông Kosi không thể vận chuyển khối lượng lớn nước nó mang ở thượng nguồn về, và nó thường xuyên gây ngập lụt và thay đổi dòng.

boat on Bramaputra, AssamMặc dù tổng chiều dài của sông Brahmaputra (khoảng 2.900 km) vượt trội so với sông Hằng, chỉ có 725 km nằm bên trong Ấn Độ. Brahmaputra, giống sông Ấn, có nguồn  ở Hồ Mapam thuộc khu tự trị Tây Tạng của Trung Quốc. Con sông chạy theo hướng Đông ngang qua Tây Tạng trong hơn một nửa tổng số chiều dài của nó trước khi cắt vào Ấn Độ ở biên giới phía bắc của bang Arunachal Pradesh. Sau đó nó chảy về phía nam và phía tây qua bang Assam và phía nam vào Bangladesh, nơi đó nó đổ vào châu thổ sông Hằng-Brahmaputra rộng lớn. Lưu vực sông Brahmaputra hẹp ở Assam là nơi dốc dễ bị ngập lụt do lưu vực rộng lớn của nó, là vùng mà thường trải nhiệm những cơn mưa lớn.

b/ Các con sông ở bán đảo

Mahanadi riverCác con sông ở bán đảo chảy vào vịnh Bengal bao gồm một số con sông lớn, đáng chú ý nhất là sông Mahanadi, Godavari, Krishna, và Kaveri. Ngoại trừ sông Mahanadi, đầu nguồn của các con sông ở trong vùng có lượng mưa cao GhatsTây, và chúngvắt ngang qua toàn bộ chiều rộng của cao nguyên (thường từ tây bắc xuống đông nam) trước khi đến vịnh Bengal. Sông Mahanadi có nguồn ở rìa phía nam của Đồng bằng Chhattisgarh.

Sông bán đảo Ấn Độ có độ dốc cao và do đó hiếm khi làm gia tăng lũ lụt như các sông ở vùng đồng bằng phía bắc Ấn Độ, bất chấp sự khác biệt đáng kể của dòng chảy từ mùa khô sang mùa mưa. Hạ nguồn của một số những con sông được đánh dấu bởi thác, ghềnh và hẻm núi, thường là khi chúng chảy qua Ghats Đông. Do độ dốc của chúng, nằm bên dưới núi đá, và chế độ dòng chảy thay đổi, các con sông ở bán đảo không thể thông thuyền.

c/ Các sông chảy vào Biển Arab

Indus riberMột phần quan trọng ở Tây Bắc Ấn Độ là lưu vực sông Indus, nơi  Ấn Độ chia sẽ biên giới với Trung Quốc, Afghanistan và Pakistan. Sông Indus và nhánh dài nhất của nó, là Sutlej, cả hai bắt nguồn từ vùng đồi chuyển tiếp của Himalayas ở Tây Tạng. Sông Indus ban đầu chảy về phía tây bắc giữa các dãy núi cao chót vót và qua bang Jammu và Kashmir của Ấn Độ trước khi vào vùng Kashmir do Pakistan quản lý. Sau đó nó có hướng chung là tây nam qua Pakistan cho đến khi tới biển Arab. Sông  Sutlej từ nguồn cũng chảy theo hướng tây bắc nhưng vào Ấn Độ ở xa hơn về phía nam, ở biên giới của bang Himachal Pradesh (hoapham). Từ đó nó chảy về phía tây vào bang Punjab cuối cùng vào Pakistan, nơi mà nó hợp lưu với sông Indus.

Giữa Indus và Sutlej là nhiều nhánh chính khác của sông Indus. Sông Jhelum, nằm ở cực bắc của hai sông, chảy ra khỏi Dãy Pir Panjal vào Thung lũng Kashmir và từ đó qua Hẽm núi Baramulla vào Kashmir  của Pakistan. Ba con sông khác – Chenab, Ravi, và Beas-bắt nguồn từ dãy Himalaya trong bang Himachal Pradesh. Sông Chenab chảy ngang qua bang Jammu – Kashmir trước khi vào Pakistan. Sông Ravi hình thành một phần biên giới phía nam giữa bang Jammu – Kashmir và Himachal Pradesh và sau đó một đoạn ngắn là biên giới Ấn Độ-Pakistan trước khi vào Pakistan; và sông Beas chảy hoàn toàn trong Ấn Độ, hợp lưu với sông Sutlej ở bang PunjabẤn Độ.

Khu vực mà xuyên qua nó là dòng chảy của năm nhánh sông Indus theo truyền thống được gọi là Punjab (từ Ba Tư panj nghĩa là “năm” và ab  nghĩa là “nước”). Khu vực đó hiện đang thuộc bang Punjab của Ấn Độ (chứa Sutlej và Beas) và tỉnh Punjab của Pakistan. Mặc dù lượng mưa thấp ở vùng đồng bằng Punjab, dòng chảy từ dãy Himalaya tương đối cao đảm bảo một dòng chảy quanh năm trong sông Indus và các nhánh của nó, mà đã được sử dụng rộng rãi để cho các kênh tiêu nước.

Narmada riverXa hơn về phía nam, một dòng sông nổi tiếng chảy vào biển Ả Rập là Luni phía nam Rajasthan, mà trong nhiều năm đã qua chuyên chở đủ nước tới Đại Rann of Kutch ở miền tây Gujarat. Cũng chảy qua Gujarat là sông Mahi, cũng như hai con sông quan trọng nhất chảy về phía tây của bán đảo Ấn Độ – Sông Narmada (lưu vực 98.900 km2) và Tapi ( lưu vực 65.000 km2). Sông Narmada và lưu vực của nó đã trải qua quá trình thay đổi quy mô lớn. Hầu hết các con sông khác ở bán đảo chảy vào Biển Ả Rập có dòng chảy ngắn, và những dòng từ thượng nguồn ở Ghats Tây chảy về phía tây có dòng chảy xiết theo mùa.

 2/ Hồ

wular lakeẤn Độ có vài hồ tự nhiên. Hầu hết các hồ ở dãy Himalaya được hình thành khi các sông băng đào thành chỗ trũng hoặc hình thành đập gồm toàn đất và đá. Hồ  Wular ở Jammu và Kashmir, ngược lại, là kết quả của sụp lún kiến tạo. Mặc dù diện tích của nó dao động, Hồ Wular  là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất ở Ấn Độ.

Sambambha salt lakeThoát nước nội địa ở Ấn Độ chủ yếu là phù du và gần như hoàn toàn ở vùng khô hạn và bán khô hạn ở tây bắc Ấn Độ, đặc biệt là ở Đại sa mạc Rajasthan, nơi có nhiều hồ muối phù du – nổi bật nhất  là Hồ muối Sambhar, hồ lớn nhất ở Ấn Độ. Những hồ nước này được cung cấp bởi những dòng suối ngắn không liên tục, mà hình thành do lũ quét trong suốt những cơn mưa dữ dội và trở nên khô, mất đi hình dạng khi những cơn mưa đã qua. Nước trong hồ cũng bốc hơi và sau đó để lại một lớp đất mặn trắng, từ đó một số lượng đáng kể muối được sản xuất thương mại. Nhiều hồ lớn nhất của Ấn Độ là hồ chứa nước hình thành bằng cách đắp đập ngăn sông.

III.THỔ NHƯỠNG

Có một loạt các loại đất ở Ấn Độ. Là sản phẩm của quá trình tự nhiên, chúng có thể được phân chia thành hai nhóm: đất ở tại chỗ và đất vận chuyển.Đất ở tại chỗ có đặc điểm nhận dạng từ các đá mẹ, được sàng lọc bởi dòng nước chảy, băng trôi, và do gió lắng đọng trầm tích xuống địa hình như thung lũng sông và đồng bằng ven biển. Quá trình sàng lọc đất như vậy đã dẫn đến lắng đọng các trầm tích thành những lớp mà không có bất kỳ địa tầng thổ nhưỡng rõ rệt, mặc dù nó đã bị biến đổi thành phần hóa học ban đầu của nó.

Trong số các loại đất ở tại chỗ là đất đỏ-vàng (bao gồm cả đá ong) và đất đen địa phương gọi là regur. Sau những lớp đất phù sa đó là loại đất thông thường nhất. Đáng kể là đất sa mạc Rajasthan, đất mặn ở Gujarat, miền nam Rajasthan, và một số vùng  ven biển và đất núi của dãy Himalaya. Các loại đất được xác định bởi nhiều yếu tố, bao gồm khí hậu, địa hình, độ cao, và sông ngòi, cũng như của các thành phần của vật liệu đá nằm bên dưới.

1/ Đất ở tại chỗ

a/  Đất đỏ vàng

Những loại đất này được bắt gặp trên những vùng không phù sa rộng lớn của bán đảo Ấn Độ và được tạo thành từ các loại đá có tính axit như đá granit, gneiss, và đá phiến. Chúng phát triển trong khu vực, trong đó lượng mưa lọc và hòa tan các khoáng chất ra khỏi đất và kết quả là chúng mất đi các thành phần hóa học cơ bản; tăng tỷ lệ tương ứng sắt bị oxy hóa có một màu đỏ phổ biến đối với nhiều loại đất. Vì lý do đó, chúng thường được mô tả như đất ferralitic. Trong trường hợp nặng, nồng độ của các oxit sắt dẫn đến sự hình thành của một lớp vỏ cứng, trong trường hợp đó chúng được mô tả như là đất đá ong ( lateritic – từ later, thuật ngữ Latin có nghĩa là “gạch”). Các loại đất đỏ-vàng có nồng độ oxit sắt cao tập trung ở các khu vực có lượng mưa nhiều của Ghats Tây, phía tây bán đảo Kathiawar, đông Rajasthan, GhatsĐông, vùng cao nguyên Chota Nagpur, và những vùng núi khác của vùng đông bắc Ấn Độ. Đất đỏ- -vàng ít được lọc xảy ra tại các khu vực có lượng mưa thấp ngay phía đông của GhatsTây ở bên trong vùng nội địa khô hạn của cao nguyên Decan. Đất đỏ- vàng thường không màu mỡ, nhưng vấn đề đó phần nào được cải thiện ở những vùng có rừng, nơi đất mùn tập trung và tái chế các chất dinh dưỡng giúp phục hồi sự màu mỡ ở tầng đất mặt.

b/ Đất đen

Trong số đất tại chỗ của Ấn Độ, đất đen được tìm thấy trong các khu vực dung nham bao phủ là dễ thấy nhất. Những loại đất này thường được gọi là regur nhưng phổ biến được gọi là “đất bông đen”, vì bông được xem là vụ mùa truyền thống phổ biến nhất ở những nơi mà chúng được tìm thấy. Đất đen là các biến thể của khoáng chất trong dung nham và lan rộng phần lớn qua Gujarat, Maharashtra, Karnataka, và Madhya Pradesh trên cao nguyên nham thạch Deccan và cao nguyên Malwa, nơi có mưa trung bình và đá bazan nằm bên dưới. Do hàm lượng sét cao, đất đen phát triển các vết nứt rộng trong mùa khô, nhưng cấu trúc hạt giàu chất sắt của chúng làm chúng có khả năng chống gió và nước xói mòn. Chúng nghèo mùn nhưng vẫn có khả năng giữ ẩm cao, do đó đáp ứng tốt việc dẫn nước tưới tiêu. Những loại đất này cũng được tìm thấy ở nhiều vùng ngoại vi nơi lớp bazan cơ bản bên dưới đã được di chuyển khỏi vị trí ban đầu của nó bởi tiến trình của sông ngòi. Việc