ẤN ĐỘ

CỘNG HOÀ ẤN ĐỘ

Diện tích: 3.287.263 km2 –  Dân số : 1.293.057.000 người  

MAP 1        

PHẦN 1

A. GIỚI THIỆU

Ấn Độ, quốc gia chiếm diện tích lớn ở khu vực Nam Á. Nó là một nước cộng hòa lập hiến gồm 29 tiểu bang, mỗi với một mức độ đáng kể khả năng kiểm soát các vấn đề của riêng mình; 6 vùng lãnh thổ dưới quyền đầy đủ; và lãnh thổ thủ đô Delhi, trong đó bao gồm New Delhi, thủ đô của Ấn Độ. Với khoảng một phần sáu dân số thế giới, Ấn Độ là quốc gia đông dân thứ hai, sau Trung Quốc.

Ấn Độ nổi tiếng vì các bằng chứng khảo cổ họcđược tìm thấyở đó cho biết nó có một nền văn minh đô thị -văn minh Indus rất tinh vi– chiếm ưu thế ở phía tây bắc của tiểu lục địa từ khoảng 2600-2000 TCN. Từ thời kỳ trên, Ấn Độ hoạt động dưới cương vị một lãnh thổ văn hóa chính trị độc lập, đã dẫn đến một truyền thống đặc biệt có liên quan chủ yếu với Ấn Độ giáo, mà có thể phần lớn phát xuất từ nền văn minh Indus. Các tôn giáo khác, đặc biệt là Phật giáo và Kỳ Na giáo, nguồn gốc ở Ấn Độ – mặc dù sự hiện diện của chúng hiện nay là khá nhỏ – và trong suốt thế kỷ cư dân của tiểu lục địa phát triển một đời sống trí thức phong phú trong các lĩnh vực như toán học, thiên văn học, kiến trúc, văn học, âm nhạc, và  mỹ thuật.

1Trong suốt lịch sử của mình, Ấn Độ đã liên tục bị xáo trộn bởi sự xâm nhập từ bên ngoài vách núi phía bắc. Đặc biệt quan trọng là sự ra đời của đạo Hồi, được đưa vào từ phía tây bắc bởi Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư, và những kẻ xâm lăng khác bắt đầu đầu thế kỷ thứ 8 TCN. Cuối cùng, một số trong những kẻ xâm lăng ở lại; khoảng thế kỷ 13 nhiều vùng của tiểu lục địa nằm dưới sự cai trị Hồi giáo, và số người Hồi giáo tăng đều đặn. Chỉ sau khi sự xuất hiện của nhà thám hiểm Bồ Đào Nha Vasco da Gama năm 1498 và việc thành lập tiếp theo của thế lực hải quân châu Âu trong khu vực này đã khiến Ấn Độ đặt vào tình thế phải tiếp xúc với ảnh hưởng bên ngoài đến bằng đường biển, trong quá trình suy thoái cực điểm của tầng lớp thượng lưu Hồi giáo cầm quyền và sự hợp nhất của tiểu lục địa trong đế quốc Anh.

Sự cai trị trực tiếp của người Anh, bắt đầu từ năm 1858, đã đem lại thay đổi đến sự thống nhất về chính trị và kinh tế của tiểu lục địa. Khi cai trị của Anh kết thúc vào năm 1947, tiểu lục địa được phân chia theo các tôn giáo thành hai nước là Ấn Độ, với đa số người theo đạo Hindu, và Pakistan, với đa số người Hồi giáo; phần phía đông của Pakistan sau khi tách ra tạo thành Bangladesh (cacnuocchauau). Nhiều tổ chức Anh ở tại chỗ (như các hệ thống nghị viện của chính phủ); Tiếng Anh tiếp tục được sử dụng rộng rãi như một ngôn ngữ chung; và Ấn Độ vẫn nằm trong Khối thịnh vượng chung. Tiếng Hindi trở thành ngôn ngữ chính thức.

Ấn Độ vẫn là một trong những quốc gia đa sắc tộc nhất trên thế giới. Ngoài nhiều tôn giáo và các giáo phái của mình, Ấn Độ là nơi có vô số đẳng cấp và các bộ tộc, cũng như hơn chục nhóm ngôn ngữ chính và hàng trăm nhóm ngôn ngữ nhỏ có nguồn gốc từ một số hệ ngôn ngữ không liên quan đến nhau.Tôn giáo thiểu số, bao gồm cả Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Sikh, đạo Phật, và Kỳ Na Giáo, vẫn chiếm một tỷ lệ đáng kể dân số; nhìn chung, số lượng của chúng vượt quá dân số của tất cả các nước, ngoại trừ Trung Quốc. Nỗ lực gần đây đã được thực hiện để làm cho thấm nhuần dần tinh thần quốc gia trong một đất nước có nhiều dân số khác nhau, nhưng căng thẳng giữa các nhóm lân cận vẫn còn và có lúc đã dẫn đến sự bùng phát bạo lực.Tuy nhiên, pháp luật xã hội đã làm được nhiều để giảm bớt các hạn chế trước kia do sự phân biệt đẳng cấp, bộ  tộc, phụ nữ, và những người bị thiệt thòi do các truyền thống xã hội khác. Trong quá trình giành độc lập Ấn Độ may mắn có một số nhà lãnh đạo tầm cỡ thế giới, đặc biệt là Thánh Gandhi và Jawaharlal Nehru,  người đã có thể kích động quần chúng ở quê nhà và mang lại thanh thế cho Ấn Độ ở nước ngoài. Đất nước này ngày nay đã đóng một vai trò ngày càng tăng trong các vấn đề toàn cầu.

Đồng thời với sự thịnh vượng vật chất ngày càng tăng của Ấn Độ và sự năng động về văn hóa-  bất chấp thách thức liên tục trong nước và bất bình đẳng kinh tế – ta thấy sự phát triển tốt về cơ sở hạ tầng và cơ sở công nghiệp rất đa dạng, trong nhóm chuyên viên khoa học và kỹ thuật có sẳn để làm việc khi cần đến (một trong những nhóm  lớn nhất trên thế giới), trong tốc độ mở rộng nông nghiệp, và trong sự truyền bá nền văn hóa phong phú và năng động qua âm nhạc, văn học, và điện ảnh. Mặc dù dân cư vẫn còn sống ở nông thôn rộng lớn, Ấn Độ có ba trong những thành phố đông dân và có tính quốc tế nhất trên thế giới – Mumbai (Bombay), Kolkata (Calcutta), và Delhi. Ba thành phố khác của Ấn Độ – Bengaluru (Bangalore), Chennai (Madras), và Hyderabad – là một trong những trung tâm công nghệ cao phát triển nhanh nhất trên thế giới, và hầu hết các công ty công nghệ thông tin và phần mềm lớn nhất thế giới hiện nay có văn phòng ở Ấn Độ.

B. LÃNH THỔ

Biên giới của Ấn Độ, gồm khoảng 1/3 là bờ biển, tiếp giáp với sáu quốc gia. Nó được bao bọc ở phía tây bắc bởi Pakistan, phía bắc giáp Nepal, Trung Quốc, và Bhutan; và phía đông giáp Myanmar (Miến Điện). Bangladesh ở phía đông được bao quanh bởi Ấn Độ ở phía bắc, phía đông và tây. Quốc đảo Sri Lanka nằm khoảng 65 km ngoài khơi bờ biển phía đông nam của Ấn Độ qua eo biển Palk và Vịnh Mannar.

Vùng đất của Ấn Độ cùng với Bangladesh và phần lớn Pakistan hình thành một tiểu lục địa khá rõ rệt, ngăn cách với phần còn lại của châu Á bởi dãy núi Himalaya hùng vĩ ở phía bắc và tiếp giáp các dãy núi phía tây và phía đông. Trong khu vực, Ấn Độ được xếp hạng là quốc gia lớn thứ bảy trên thế giới. (Hoapham)

 Phần lớn lãnh thổ của Ấn Độ nằm trong phạm vi một bán đảo lớn, bao quanh bởi biển Ả Rập ở phía tây và vịnh Bengal ở phía đông; mũi Comorin, điểm cực nam của lục địa Ấn Độ, đánh dấu ranh giới giữa hai biển. Ấn Độ có hai vùng lãnh thổ gồm toàn đảo: Lakshadweep ở Biển Ả Rập, và các đảo Andaman và Nicobar Islands, nằm giữa vịnh Bengal và biển Andaman.

I. ĐỊA HÌNH

mảng India

Mảng Ấn Độ đang trôi về phía châu Á

Hiện nay người ta được chấp nhận rằng vị trí địa lý của Ấn Độ, đặc điểm lục địa, và cấu trúc địa chất cơ bản là kết quả của một quá trình kiến tạo địa tầng- đó là sự chuyển dịch của lớp võ trái đất khổng lồ trên lớp vật chất nóng chảy nằm bên dưới lòng đất. Mảng Ấn Độ, là một phần phía tây bắc của mảng Ấn-Úc (cacnuocchauau), sau khi tách ra khỏi siêu lục địa Gondwana ở nam bán cầu, mảng Ấn Độ bắt đầu trôi dần lên phía bắc và va chạm với mãng mảng Á-Âu trong khoảng từ 50 tới 55 triệu năm trước, thuộc thời kỳ của thế Eocen trong đại Tân sinh. Khi hai mảng cuối cùng đã va chạm, rìa phía bắc của mảng Ấn-Úc bị đẩy mạnh dưới mảng Á-Âu và hút chìm bên dưới mảng Á-Âu đẩy lên cao dãy Himalaya có độ cao lớn nhất hành tinh. Dãy Himalaya hiện tiếp giáp với Ấn Độ ở phía Bắc và Đông-Bắc. Tại đáy biển cũ nằm ngay phía nam dãy Himalaya, kiến tạo mảng hình thành nên một máng rộng lớn để rồi dần bị trầm tích từ sông bồi lấp; hình thành nên đồng bằng Ấn-Hằng hiện nay. Sự va chạm làm giảm tốc độ của mảng nền Ấn – Úc, nhưng sự chuyển dịch, hoặc hút chìm, của mảng nền Ấn – Úc vẫn tiếp tục cho đến hiện nay.

Địa hình Ấn Độ ngày nay dựa trên ba cấu trúc cơ bản : Dãy Himalayas ở phía bắc, Cao nguyên Decan ở phía nam và Đồng bằng Ấn Hằng ( nằm trong vùng sụp lún) giữa hai vùng trên.

 1/ Dãy Himalayas

Dãy Himalaya, hệ thống núi cao nhất trên thế giới, hình thành biên giới  phía bắc của Ấn Độ. Đó là hệ thống núi cánh cung trẻ dài 2.500km, kéo dài từ ngọn núi Nanga Parbat, cao 8126m, thuộc vùng Kashmir do Pakistan quản lý đến ngọn núi Namcha Barwa ở Khu tự trị Tây Tạng thuộc Trung Quốc. Dãy Himalaya trải khắp 7 quốc gia: Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Myanma và Afghanistan (cacnuocchauau)  với chiều rộng thay đổi từ 200- 400km.

Nanga Parbat* Nanga Parbat (Ngọn núi trần trụi), với chiều cao 8.126 mét  là ngọn núi cao thứ 9 thế giới. Ngọn núi nằm ở sườn tây của dãy núi Himalayas thuộc khu vực Gilgit-Baltistan của Pakistan. Ngọn núi này còn có tên gọi khác là “Kẻ ăn thịt người” hay “Núi quỷ”. Núi này là nơi chứng kiến nhiều tai nạn chôn vùi trong tuyết của người leo núi. Ở đây có nhiều vách đá dựng cao nhất thế giới, đặc biệt ở phía nam mọc lên bức tường cao 4.600 m. Các cố gắng vượt qua một đỉnh núi cao trên 8000 mét đầu tiên được ghi nhận là trong chuyến thám hiểm của Albert F. Mummery và J. Norman Collie, họ đã cố đến núi Nanga Parbat tại Kashmir (nay là Gilgit-Baltistan, Pakistan) vào năm 1895; song nỗ lực này đã thất bại khi Mummery và hai người khác là Gurkha Ragobir và Goman Singh thiệt mạng vì gặp phải một trận lở tuyết.

Bên trong Ấn độ dãy Himalayas được chia thành ba vành đai, gọi Đại,Trung và Ngoại Himalayas (Greater Himalaya,Lesser, và Outer) (cacnuocchauau).Tại mỗi vành đai là các khúc uốn khổng lồ liên kết với hệ thống, từ đó nhiều rặng  núi thấp và đồi trải ra. Những rặng núi phía tây nằm hoàn toàn bên trong Pakistan và Afghanistan, trong khi những rặng núi ở phía đông tạo thành biên giới của Ấn Độ với Myanmar. Bắc của Himalayas là Cao nguyên Tây Tạng và nhiều rặng núi chuyển tiếp của Hymalayas, chỉ một phần nhỏ trong số đó, ở vùng Ladakh thuộc bang Jammu và Kashmir (thuộc Ấn Độ – quản lý), là trong giới hạn lãnh thổ của Ấn Độ.

3 van dai hymaDo sự hút chìm của bán đảo Ấn Độ vào mảng Âu Á vẫn còn tiếp diễn, dãy Himalaya và các dãy núi  liên quan ở phía đông hoạt động kiến tạo vẫn còn. Kết quả là núi vẫn tiếp tục nhô cao lên, và động đất- thường đi đôi với lở đất là rất thông thường. Một số từ năm 1900 đã gây ra những tàn phá cực kỳ khủng khiếp, bao gồm trận động đất năm 1934 ở vùng mà bây giờ là tiểu bang Bihar đã giết chết hơn 10.000 người. Năm 2001 một trận động đất nhẹ khác (động đất Bhuj), xa khỏi  những ngọn núi,  trong tiểu bang Gujarat, ít mạnh mẽ nhưng gây ra thiệt hại lớn, lấy đi cuộc sống của hơn 20.000 người và khiến hơn 500.000 người vô gia cư. Còn những trận động đất khác, đặc biệt là trận động đất năm 2005 ở Kashmir thuộc Pakistan – và trận động đất 2015 ở Nepal – không những chủ yếu ảnh hưởng đến những vùng này mà còn gây thiệt hại trên diện rộng và làm hàng trăm người chết  ở các vùng lân cận của Ấn Độ. Tần số tương đối cao và sự phân bố rộng các trận động đất tương tự như vậy  đã tạo ra tranh cãi về sự an toàn và tính chất thích hợp của một số dự án thủy điện và thủy lợi.

+ Ngoại Himalayas (Outer Himalaya – Siwaliks):

Dehradun town

Thành phố Dehraduntrên đỉnh Chilmiri. Đỉnh Chilmiri về cơ bản là một khu đất bằng phẳng trên một đỉnh đồi được bao quanh bởi rừng thông tuyết, cây xanh tươi tốt (cacnuocchauau). Nó nổi tiếng với phong cảnh tuyệt đẹp của dãy Himalaya.

Siwaliks hillCực nam của ba vành đai núi là Ngoại Himalayas, còn gọi là dãy Siwaliks, cũng gọi là vùng đồi Siwalik. Nó mở rộng về phía tây – tây bắc hơn 1.600 km từ sông Tista ở bang Sikkim, đông bắc Ấn Độ, qua Nepal, qua tây bắc Ấn Độ, và vào miền bắc Pakistan. Mặc dù  ở nhiều nơi chỉ rộng 16 km, dãy núi cao trung bình từ 900 đến 1.500 mét. Nó nhô lên đột ngột từ đồng bằng sông Ấn và sông Hằng ở phía nam và song song dãy Himalaya chính  ở phía bắc, từ đó nó được phân cách bởi các thung lũng. Siwaliks đôi khi được coi là bao gồm các chân đồi phía nam của dãy Assam Himalaya, mà mở rộng về phía đông 640 km ngang qua miền nam Bhutan đến khúc uốn của sông Brahmaputra. Phạm vi thích hợp, mà tên Siwalik trước đây được giới hạn là 320 km của chân đồi ở Ấn Độ kéo dài từ sông Hằng ở Haridwar, bang Uttarakhand (Hoapham), hướng tây bắc tới sông Beas. Việc tàn phá rừng nghiêm trọng trên diện rộng, mưa lớn và xói mòn mãnh liệt, khiến trầm tích từ dãy Siwaliks được vận chuyển xuống đồng bằng.  Rải rác trong dãy Siwaliks rất nhiều thung lũng bằng phẳng được canh tác dày đặc có mật độ dân số cao. Thung lung nằm ở giữa Siwaliks và rặng núi Mussoorie được mệnh danh là Dehra Dun (thung lũng Dehra) chứa những kiều dân Á- Âu và những người Anh trồng trà. Đường đèo chính là Mohan mà qua đó hình thành một con đường từ Saharanur đến Dehra và Mussoorie vắt ngang qua rặng núi.

+Trung Himalayas (The Lesser Himalayas):

Rung Himachal Pradesh

Về phía bắc của Siwaliks và tách khỏi chúng bằng một đới đứt gãy là dãy Trung Himalayas, mở rộng 2.500 km theo hướng phía tây bắc-đông nam ngang qua giới hạn phía bắc của tiểu lục địa Ấn Độ, độ cao tăng lên từ 3.600 đến 4.600 m. Khu vực này bao gồm các vùng tranh chấp Kashmir (Gilgit-Baltistan, do Pakistan quản lý, và bang Jammu – Kashmir, do Ấn Độ quản lý), các bang của Ấn Độ là Himachal Pradesh và Uttarakhand, Nepal, Sikkim ( tiểu bang của Ấn Độ)  và Bhutan. Các ngọn núi bao gồm cả đá kết tinh cổ và đá trẻ về phương diện địa chất, đôi khi trong một chuỗi địa tầng đảo ngược vì lực đẩy đứt gãy. Trung Himalaya nằm vắt ngang bởi nhiều hẻm núi sâu, hình thành bởi các con suối chảy xiết (một số chúng có tuổi lớn hơn chính các dãy núi), được cung cấp bởi các sông băng và cánh đồng băng ở phía bắc.

+ Đại Himalaysa ( The great Himalayas) :

Kanchenjunga

Đỉnh Kanchenjunga cao 8.586m ở biên giới của Nepal và bang Sikkim là đỉnh cao thứ ba và là đỉnh cao nhất của Ấn độ

Cực bắc Đại Himalaya với đỉnh thường cao trên 4.900m, bao gồm các đá kết tinh cổ và trầm tích biển cũ. Giữa Đại Himalaya và Trung Himalayas là một số thung lũng dọc màu mỡ; thung lũng Kashmir thuộc Ấn độ là thung lũng lớn nhất, một hồ lòng chảo cổ với diện tích khoảng 4.400 km vuông. Đại Himalayas có chiều rộng từ 50- 75km, bao gồm một số đỉnh cao nhất thế giới. Đỉnh cao nhất là Everest ( 8.850m), ranh giới Trung quốc và Nepal, nhưng Ấn Độ cũng có nhiều đỉnh cao. Đáng chú ý nhất trong số này là đỉnh Kanchenjunga 8.586m ở biên giới của Nepal và bang dong co himalayaSikkim là đỉnh cao thứ ba và là đỉnh cao nhất của Ấn độ. Những đỉnh khác ở Ấn Độ gồm Nanda Devi ( 7.817m), Kamet ( 7.755m), và Trisul ( 7.120m)  ở Uttarakhand. Đại Himalayas nằm trong vành đai tuyết vĩnh viễn và vì thế chứa phần lớn băng hà Himalayas. (HoaPham)

+ Các dãy núi và đồi liên quan

Nói chung, các dãy núi và các ngọn đồi của vùng chạy song song với trục chính của dãy Himalaya. Đặc biệt nổi bật ở phía tây bắc, nơi dãy Zanskar, Ladakh và dãy Karakoram (tất cả ở bang Jammu và Kashmir) chạy về phía đông bắc của Đại Himalaya. Cũng ở Jammu và Kashmir là dãy Pir Panjal, mở rộng dọc theo phía tây nam của Đại Himalaya, tạo thành hai cánh phía tây và phía nam của Thung lũng  Kashmir.

Ladakh mountain

Ở cực đông của nó,  dãy Himalaya nhường đường cho một số các dãy núi nhỏ hơn chạy về phía đông bắc – tây nam, bao gồm cả dãy Patkai có rừng cây dày đặc và những ngọn đồi Naga và Mizo – những ngọn đồi này  mở rộng dọc theo biên giới của Ấn Độ với Myanmar (cacnuocchauau) và dãy đất hẹp đông nam Bangladesh. Trong vùng đồi  Naga, hồ Loktak đầy lau sậy, ở thung lũng sông Manipur, là một dạng địa hình quan trọng. Nhánh tách ra từ vùng đồi này về phía tây bắc là vùng đồi Mikir, và phía tây là Jaintia, Khasi, và vùng đồi Garo, mà chạy ngay phía bắc của biên giới của Ấn Độ với Bangladesh. Nói chung, các nhóm sau này cũng được gọi là cao nguyên Shillong (Meghalaya).

2/ Đồng bằng Ấn – Hằng ( Indo- Gangetic Plain)

field in PunjabĐồng bằng Ấn-Hằng (còn gọi là Đồng bằng bắc Ấn Độ), nằm giữa dãy Himalaya và Cao nguyên Deccan. Đồng bằng trước đây là một đáy biển nhưng bây giờ được phù sa sông bồi đắp độ sâu lên đến 1.800 mét. Đồng bằng trải dài từ tỉnh Sindh và Punjab của Pakistan ở phía tây, nơi nó được tưới bằng sông Indus và các nhánh của nó, phía đông giáp thung lũng sông Brahmaputra ở bang Assam. (Hoapham)

Lưu vực sông Hằng (Ganga) ở Ấn Độ, chủ yếu nằm ở bang Uttar Pradesh và Bihar là phần trung tâm và chủ yếu của đồng bằng. Phần đông được tạo thành do sự kết hợp của châu thổ sông Hằng và sông Brahmaputra, trong đó, mặc dù chủ yếu ở Bangladesh, cũng chiếm một phần bang Tây Bengal của Ấn Độ gần kề (cacnuocchauau). Đó là vùng châu thổ đặc trưng bởi lũ lụt hàng năm do lượng mưa gió mùa dữ dội, độ dốc đồng bằng thoai thoải đã khiến lượng phù sa nhiều vô kể làm tắc nghẻn các lòng sông của nó. Lưu vực sông Indus, mở rộng từ Delhi về phía tây, tạo thành phần phía tây của đồng bằng; phần đồng bằng thuộc Ấn Độ chủ yếu là ở các bang Haryana và Punjab.

field in BiharĐộ dốc chung của đồng bằng hầu như khó thể nhận thấy, nhìn chung lưu vực sông Hằngthoải hơn sông hơn sông Indus và Brahmaputra.Mặc dù vậy, với những người cày đất của nó, có một sự khác biệt quan trọng giữa bhangar– đất ruộng bậc thang của phù sa cổ hơi cao hơn và khadar, phù sa mới màu mỡ hơn ở vùng đồng bằng ngập trũng. Nhìn chung, tỷ lệ của khu vực bhangaso với khadar (cacnuocchauau) tăngdọc theo thượng nguồn tất cả các con sông lớn.  Ngoại trừ địa hình rộng lớn đơn điệu ở phần phía tây nam của đồng bằng, nơi có những vùng đất cằn cỗi được đào rãnh tập trung vào sông Chambal (cacnuocchauau). Khu vực đó từ lâu đã nổi tiếng với những băng nhóm bạo lực chứa chấp tội phạm gọi là dacoits, những kẻ  lẩn trốn ở nhiều khe núi ẩn.

Sa mạc Thar hình thành một phần mở rộng phía nam quan trọng của Đồng bằng Ấn-Hằng. Nó nằm chủ yếu ở phía tây bắc Ấn Độ nhưng cũng mở rộng sang phía đông Pakistan và là một khu vực địa hình nhấp nhô gợn sóng, bên trong nó là một số vùng chi bị phối bởi đụn cát di chuyển và nhiều ngọn đồi riêng lẻ. Vùng đồi này cung cấp bằng chứng rõ ràng rằng lớp trầm tích mỏng trên bề mặt của vùng, một phần là phù sa và một phần là do gió mang đến, bị chôn dùi trong mảng Ấn-Úc có tuổi địa chất già hơn rất nhiều, trong đó vùng đồi là một phần về mặt cấu trúc. (cacnuocchauau)

3/ Cao nguyên Deccan

India map 1

Bản đồ địa hình Ấn Dộ

Cao nguyên Deccan là một cao nguyên lớn ở Ấn Độ, chiếm hầu hết phần phía nam của đất nước. Nó nhô lên đến 100 mét ở phía bắc, và đến hơn 1 km ở phía nam. Nó trải dài qua tám tiểu bang của Ấn Độ và bao gồm một loạt các môi trường sống, bao phủ hầu hết trung tâm và miền nam Ấn Độ.

Cao nguyên nằm giữa hai dãy núi, Ghats Tây và Ghats Đông, mỗi dãy nhô lên từ đồng bằng ven biển lân cận tương ứng của nó, và gần như giao nhau ở ở chóp phía nam dốc đứng. Nó ngăn cách với đồng bằng sông Hằng ở phía bắc bởi dãy Satpura và Vindhya, tạo thành ranh giới phía bắc của nó. Độ cao trung bình của Deccan là khoảng 600 m, thoải dần về phía đông. Các sông chính là sông Godavari, Krishna, và Kaveri (Cauvery) – chảy từ Ghats Tây về phía đông đến vịnh Bengal (cacnuocchauau). Khí hậu của vùng cao nguyên khô hơn so với bờ biển và là khô cằn ở nhiều  nơi.

Vindhyas mountainCó thời là một phần của mảng lục địa Gondwana, cao nguyên Deccan có tuổi rất cổ và địa chất ổn định nhất ở Ấn Độ. Một số trong các dãy núi của Deccan đã bị xói mòn và trẻ lại nhiều lần, và chỉ những đỉnh còn lại của chúng làm chứng về quá khứ địa chất của chúng. Khối bán đảo chính gồm đá gneiss (gơnai), granit – gneiss,  đá phiến và đá granit, cũng như dòng nham thạch bazancó tuổi địa chất gần đây. (Hoapham)

a/ GhatsTây

Ghats Tây

Cao nguyên với thảm thực vật còi cọc trên dãy Ghat Tây, bang nam bộ Karnataka.

GhatsTây, còn gọi là Sahyadri, là một chuỗi núi, đồi chạy theo hướng bắc-nam đánh dấu rìa phía tây của cao nguyên Deccan, và ngăn cách cao nguyên với một vùng đông bằng hẹp dọc theo biển Ả Rập.Dãy núi bắt đầu từ khu vực ranh giới giữa hai bang Gujarat và Maharashtra, phía nam sông Tapti, và dài khoảng 1.600 km chạy qua các bang Maharashtra, Goa, Karnataka, Tamil Nadu và Kerala và kết thúc ở Kanyakumari, cực nam của lục địa Ấn Độ. Ghats Tây nhô lên đột ngột từ đồng bằng ven biển Ả Rập với vách đá dốc đứng có độ cao khác nhau, nhưng sườn phía đông của chúng thoải hơn nhiều. Ghats Tây chứa một loạt các cao nguyên và các đỉnh núi ngăn cách bởi các đèo yên ngựa. Khu nghỉ mát trên đồi của Mahabaleshwar, bố trí trên cao nguyên đá ong, là một trong những chỗ cao nhất ở một Nui dau voinửa phía bắc, cao đến 1.430 m. Hệ thống đạt tới đỉnh cao nhất ở phía nam, và kết thúc bằng vùng đồi Nilgiri, với đỉnh cao nhất là Doda Betta 2.637 m; và vùng đồi Anaimalai, Palni, và Cardamom, cả ba tỏa ra từ các đỉnh núi cao nhất ở Ghats Tây, có đỉnh Anai cao 2.695 m. Ghats Tây nhận được lượng mưa lớn, và một số con sông chính, đáng chú ý là Krishna (Kistna) và hai con sông linh thiêng, Godavari và Kaveri (Cauvery) – có nguồn của chúng  ở đó. (cacnuocchaua)

Khu vực Ghat Tây là một trong 10 “điểm nóng nhất về đa dạng sinh học” và có trên 5000 loài thực vật có hoa, 139 loài động vật có vú, 508 loài chim và 179 loài lưỡng cư, Ghat Tây cũng có nhiều loài chưa được khám phá. Ít nhất 325 loài bị đe dọa toàn cầu xuất hiện tại Ghat Tây.

b/ Ghats Đông

Ghats DongGhats Đông là một loạt núi thấp không liên tục chạy theo hướng đông bắc- tây nam song song với bờ biển của Vịnh Bengal. Ghat Đông chạy từ tiểu bang Tây Bengal ở phía bắc, qua Orissa và Andhra Pradesh đến Tamil Nadu ở phía nam. Dãy núi này còn ăn vào địa giới tiểu bang Karnataka. Một bộ phận lớn nhất  – còn sót lại của dãy núi cổ bị bào mòn và sau đó trẻ lại – được tìm thấy ở vùng Dandakaranya giữa sông Mahanadi và sông Godavari. Dãy núi hẹp đó có đỉnh ở trung tâm, đỉnh cao nhất trong số đó là Arma Konda (1.680 m) ở đông bắc bang Andhra Pradesh. Về phía tây nam vùng đồi thoải hơn, nơi đó sông Godavari cắt ngang qua hẻm núi dài 65km. Phía bên kia sông Krishna, Ghats Đông xuất hiện như là một loạt các dãy núi thấp và đồi, bao gồm Erramala, Nallamala, Velikonda, và Palkonda. Tây Nam của thành phố Chennai (Madras), Ghats Đông tiếp tục là vùng đồi Javadi và Shevaroy, xa hơn nữa là chúng kết hợp với Ghats Tây. (hoapham)

Nilgiri hillNhìn chung Ghats Đông thấp hơn Ghats Tây và khô ráo hơn, khí hậu trên cao thường mát mẻ và ẩm ướt hơn vùng đồng bằng và là nơi thích hợp cho các đồn điền cà phê xen kẽ với những cánh rừng khô. Vùng đồi Nilgiri nối dãy Ghat Tây đến sông Kaveri, tạo thành một hành lang rừng sinh thái giữa Ghat Đông và Tây (cacnuocchaua). Khu vực này cho phép quần thể voi rừng lớn thứ hai ở Ấn Độ di chuyển tự do từ Ghat Đông, Nilgiri và Ghat Tây. Đây cũng là khu vực ngôi đền nổi tiếng ở Malai Mahadeshwara thuộc Chamarajanagar, tiểu bang Karnataka.

4/ Vùng Nội địa

India map 2

Bản đồ địa hình Ấn Độ

Phần cực bắc của Deccan có thể được coi là mũi đất giới hạn của bán đảo. Đó là khu vực nằm giữa bán đảo về phía nam có ranh giới là dãy Vindhya, Đồng bằng Ấn-Hằng và Đại hoang mạc Thar Ấn Độ ( phía bên kia của dãy Aravalli) ở phía bắc.

Dãy Aravalli dài hơn 725 km chạy theo hướng tây nam-đông bắc từ nơi giao nhau của cao nguyên trung tâm gần Ahmedabad (cacnuocchauau), Gujarat, về phía đông bắc đến Delhi. Những ngọn núi được tạo thành từ đá cổ xưa và được chia thành nhiều phần, một trong số đó có hồ muối Sambhar. Đỉnh cao nhất của chúng là Guru cao 1.722 m, thuộc núi Abu. Dãy Aravallihình thành đường chia nước giữa các dòng suối chảy về phía tây, thoát vào sa mạc hoặc vào vùng Rann of Kutch,  và sông Chambal và các nhánh của nó chảy về phía đông trong phạm vi lưu vực sông Hằng.

Aravalli mountainGiữa dãy Aravali và dãy Vindhya là cao nguyên bazan màu mỡ Malwa. Cao nguyên cao dần về phía nam tới những ngọn đồi của dãy Vindhya, mà thực sự là một vùng dốc đứng hướng về phía nam bị xói mòn sâu bởi các con suối ngắn chảy vào thung lũng sông Narmada bên dưới. Các vách đá xuất hiện ở phía nam như một rặng núi hùng vĩ. Thung lũng Narmada tạo thành phần chính về phía tây của máng Narmada – Son (cacnuocchauau), một vùng trũng liên tục chạy theo hướng tây nam – đông bắc, chủ yếu dưới chân của dãy Vindhya, dài khoảng 1.200 km. (hoapham)

Chiraundi villagePhía đông của mũi đất bán đảo nằm trong cao nguyên Chota Nagpur giàu khoáng sản (chủ yếu là bên trong bang Jharkhand, tây bắc bang Odisha (Orissa), và Chhattisgarh (cacnuocchauau). Đây là khu vực có nhiều vách dốc đứng ngăn cách khu vực địa hình lượn sóng. Về phía tây nam của cao nguyên Chota Nagpur là đồng bằng Chhattisgarh, tập trung ở Chhattisgarh trên thượng nguồn sông Mahanadi.

Trap in Decan PlateauHầu hết các khu vực nội địa phía nam của mũi đất bán đảo và cao nguyên Chota Nagpur được đặc trưng bởi địa hình lượn sóng và địa hình nói chung là thấp, trong đó có một số dãy đồi, một số chúng có đỉnh bằng phẳng, chạy theo các hướng khác nhau. Chiếm phần lớn bộ phận phía tây bắc của bán đảo (hầu hết Maharashtra và một số khu vực giáp biên giới của bang Madhya Pradesh, Telangana, và Karnataka) là cao nguyên nham thạch Deccan. Địa hình có đỉnh bằng phẳng  đặc trưng của vùng rộng lớn màu mỡ, bị cắt ngang bởi dãy Satpura, Ajanta, và Balaghat. (cacnuocchauau).

5/ Vùng duyên hải

map Rann of Kutch

Bản đồ vị trí Rann of Kutch

Hầu hết bờ biển của Ấn Độ nằm ở hai sườn Ghats Đông và Tây Ghats. Tuy nhiên về phía tây bắc phần lớn bờ biển Gujarat nằm ở tây bắc của Ghats Tây, trải rộng quanh vịnh Khambhat (Cambay) và vào đầm lầy mặn của bán đảo Kathiawar và Ran of Kachchh (Kutch).Những đầm lầy hình thành do thủy triều đó bao gồm Đại Rann of Kachchh dọc theo biên giới với Pakistan và Tiểu Rann of Kachchh giữa hai bán đảo. Bởi vì mức độ các đầm lầy tăng rõ rệt trong mùa mưa, bán đảo Kachchh thường trở thành một hòn đảo trong vài tháng mỗi năm.

Rann of Kutch+ Rann of Kutch là vùng đầm lầy nằm ở tây bắc Gujarat và giáp với tỉnh Sindh của Pakistan, chiếm diện tích 27.900km2. Khu vực này là một phần của Biển Arab. Sức mạnh địa chất như động đất đã hình thành một cái đập biến nó thành một phá nước mặn lớn. Khu vực này dần dần bị lấp đầy phù sa do đó biến nó thành một đầm lầy muối mùa theo mùa. Trong các đợt gió mùa, khu vực này trở thành một đầm lầy cạn, thường ngập sâu đến đầu gối. Sau các đợt gió mùa, khu vực trở nên khô và rất nóng.

 

Các khu vực xa hơn về phía nam, đặc biệt là đoạn mở rộng  từ Daman đến Goa (gọi là bờ biển Konkan), bờ biển thụt sâu vào với các thung lũng dạng răng cưa ngập nước mở rộng vào nội địa vào đồng bằng ven sông hẹp. Các đồng bằng đó bị chi phối bởi các cao nguyên đá ong thấp và được đánh dấu bằng các mũi và các vịnh có bãi biển hình lưởi liềm xen kẽ. Từ Goa về phía nam đến Mũi Comorin (mũi cực nam của Ấn Độ) là đồng bằng ven biển Malabar, được hình thành từ sự lắng đọng trầm tích dọc theo bờ biển. Các đồng bằng có chiều rộng thay đổi từ 25 đến 100 km, được đặc trưng bởi các đầm phá nước lợ, các nhánh sông nhỏ nước tù ứ đọng.

Goa beach* Daman là một thành phố của quận Dìu ở Lãnh thổ Liên bang Daman và Diu. Quận này là một hòn đảo nằm ngoài khơi bờ biển phía nam bán đảo Kathiawar của Gujarat, ngăn cách với đất liền bằng một lạch triều. Nó có diện tích 40 km², dân số 44.110 (2001). Daman được chia bởi sông Daman Ganga thành hai phần cụ thể là Nanidaman (Nani có nghĩa là “nhỏ”) và Motidaman (Moti có nghĩa là “lớn”). Trớ trêu thay, Nanidaman là thị trấn lớn hơn. Đây là khu vực trung tâm thành phố chứa hầu hết các bệnh viện, siêu thị, khu dân cư lớn lớn v.v . Trong khi Motidaman chủ yếu là thành phố cũ nơi sinh sống chủ yếu của ngư dân và các quan chức chính phủ. Cả hai Nanidaman và Motidaman được kết nối với nhau bằng hai cây cầu

Các đồng bằng ven biển phía đông chủ yếu là đồng bằng châu thổ là một vùng trầm tích lắng sâu. Trong hầu hết chiều dài của nó có chiều rộng đáng kể hơn so với các đồng bằng trên bờ biển phía tây. Các đồng bằng châu thổ chính, từ nam đến bắc, là Kaveri, Krishna- Godavari,  Mahanadi, và đồng bằng châu thổ sông Hằng-Brahmaputra.

farm in SunderbantChâu thổ sông Hằng-Brahmaputra, (còn gọi là châu thổ Sunderbans, Brahmaputra, Bengal) là châu thổ thuộc Bangladesh và bang Tây Bengal của Ấn Độ, có chiều rộng khoảng 300km, nhưng chỉ khoảng 1/3 nằm ở Ấn Độ. Nó là châu thổ rộng lớn và màu mỡ nhất thế giới, có tên biệt danh là Châu thổ Xanh. Châu thổ mở rộng từ sông Hooghly ở phía tây đến sông Meghna ở phía đông. Kolkata (trước kia là Calcutta) và  Haldia ở Ấn Độ và Mongla và Chittagong ở Bangladesh là các cảng biển chính của châu thổ. Nằm vắt ngang qua châu thổ là vô số các chi lưu, châu thổ sông Hằng là vùng kém thoát nước và phần phía tây trong lãnh thổ Ấn Độ đã trở thành các nhánh sông đang hấp hối vì độ dốc nhỏ và sự thay đổi dòng ở các nhánh sông Hằng. Một số sông lớn chảy qua châu thổ Brahmaputra, gồm sông Padma ( nhánh chính của sông Hằng ) và sông Jamuna ( nhánh chính của sông Brahmaputra), chúng hợp nhất rồi hoà vào sông Meghna trước khi ra  biển.

cow shed in the island of Ganga riverChâu thổ sông Hằng có hình dạng của một hình tam giác, diện tích hơn 105.000 km2, và mặc dù châu thổ nằm chủ yếu ở Bangladesh và Ấn Độ, các con sông ở Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, và Nepal từ phía bắcchảy vào nó. Hầu hết châu thổ gồm đất phù sa được tạo thành bởi các hạt trầm tích nhỏ cuối cùng lắng xuống khi dòng sông chảy chậm lại tại các cửa sông. Con sông mang theo những hạt mịn, thậm chí từ các nguồn của chúng tại dòng sông do băng hà tan ra. Đất đá ong đỏ và đỏ-vàng được tìm thấy ở xa hơn về phía đông. Đất có một lượng lớn khoáng chất và chất dinh dưỡng, là đất tốt cho nông nghiệp.

rung duoc sunderbantChâu thổ bao gồm một mê cung của các kênh, đầm, hồ, và trầm tích vùng ngập lụt. Sông Gorai-Madhumati, một trong các phân lưu của sông Hằng, chia Châu thổ sông Hằng thành hai phần: phần địa chất trẻ, năng động, phía đông, và phần có tuổi địa chất già hơn,  ít năng động,  ở phía tây.

Sự xâm nhập của thuỷ triều vào sâu trong đất liền, và bất kỳ khi nào mực nước biển dâng cao tạm thời nhỏ cũng có thể nhấn chìm Kolkata (Calcutta), nằm khoảng 155 km từ đầu của Vịnh Bengal. Các đồng bằng ven biển phía Đông bao gồm một số đầm phá, lớn nhất trong số đó là Pulicat và Chilka (Chilika), là kết quả từ trầm tích lắng đọng dọc theo bờ biển.

6/ Các đảo

Một số quần đảo ở Ấn Độ Dương về phương diện chính trị là một phần của Ấn Độ. Lãnh thổ liên minh Lakshadweep là một nhóm các đảo san hô nhỏ ở biển Ả Rập ở phía tây của bờ biển Malabar. Ngoài khơi bờ biển phía đông, ngăn cách vịnh Bengal và biển Andaman, là một chuỗi đảo Andaman và Nicobar (hoapham) có nhiều đồi, cũng là một lãnh thổ liên minh; Andamans gần với Myanmar và Nicobars gần với  Indonesia hơn với đất liền Ấn Độ.

II. SÔNG NGÒI VÀ HỒ

Hơn 70 phần trăm sông ngòi của Ấn Độ chảy vào vịnh Bengal qua hệ thống sông Hằng-Brahmaputra và một số sông chảy qua các bán đảo lớn nhỏ.Các sông chảy vào biển Arab chiếm 20 phần trăm, một phần nằm trong hệ thống sông Indus và một phần trong lưu vực tách biệt hoàn toàn ở phía nam (ở Gujarat, miền tây bang Madhya Pradesh, bắc Maharashtra, và các vùng phía tây của Tây Ghats).

Hầu hết các khu vực còn lại, ít hơn 10 phần trăm của tổng số, nằm trong hệ thống thoát nước nội địa, đặc biệt là ở Đại sa mạc Ấn Độ bang Rajasthan ( còn lại là ở  Aksai Chin, một cao nguyên trơ trụi cằn cỗi ở Khasmir do Trung Quốc quản lý nhưng còn đang tranh chấp với Ấn Độ).  Cuối cùng, ít hơn 1 phần trăm diện tích của Ấn Độ, dọc theo biên giới với Myanmar, là các sông chảy vào biển Andaman qua các nhánh của sông Irrawaddy.

1/ Sông ngòi

a/ Sông chảy vào Vịnh Bengal

hop luu song Hang+ Hệ thống sông Hằng – Brahmaputra: Sông Hằng và Brahmaputra, cùng với các nhánh sông của chúng dẩn nước cho hơn 1/3 lãnh thổ Ấn độ. Sông Hằng được xem là sông linh thiêng của những người theo đạo Hindu, dài 2510km. Dù rằng vùng châu thổ của nó chủ yếu nằm ở Bangladesh, dòng sông Hằng ở bên trong lãnh thổ Ấn Độ dài hơn bất kỳ con sông của các quốc gia khác. Nó có rất nhiều sông suối đầu nguồn được cung cấp bởi sự tan chảy của băng hà Himalayas và đỉnh núi. Dòng sông đầu nguồn chính là Bhagirathi, bắt nguồn từ độ cao 3.000m ở chân của băng hà Gangotri, cũng đượcxem là sông linh thiêng của những người theo đạo Hindu.

song hang o HariwarSông Hằng vào Đồng bằng Ấn Hằng ở thành phố Haridwar (Hardwar). Từ Haridwar đến Kolkata nó hợp lưu với nhiều sông nhánh. Từ tây sang đông là sông Ghaghara, Gandak, và Kosi, tất cả đều xuất phát từ dãy Himalaya, hợp lưu sông Hằng ở phía bắc, trong khi Yamuna và Son là hai nhánh quan trọng nhất ở phía nam. Yamuna, cũng có một nguồn ở Himalaya (sông băng Yamunotri) và chảy gần song song với sông Hằng trong suốt chiều dài của nó, nhận được dòng chảy của nhiều con sông quan trọng, bao gồm sông Chambal, Betwa, và Ken, có nguồn ở mũi đất bán đảo Ấn Độ. Trong số các nhánh phía bắc của sông Hằng, sông Kosi, là sông phá hủy nhất của Ấn Độ (gọi tắt là “Nỗi buồn của Bihar”), được đặc biệt quan tâm đến. Do lưu vực lớn của nó trong dãy Himalaya của Nepal và độ dốc nhỏ của nó khi đến đồng bằng, sông Kosi không thể vận chuyển khối lượng lớn nước nó mang ở thượng nguồn về, và nó thường xuyên gây ngập lụt và thay đổi dòng.

boat on Bramaputra, AssamMặc dù tổng chiều dài của sông Brahmaputra (khoảng 2.900 km) vượt trội so với sông Hằng, chỉ có 725 km nằm bên trong Ấn Độ. Brahmaputra, giống sông Ấn, có nguồn  ở Hồ Mapam thuộc khu tự trị Tây Tạng của Trung Quốc. Con sông chạy theo hướng Đông ngang qua Tây Tạng trong hơn một nửa tổng số chiều dài của nó trước khi cắt vào Ấn Độ ở biên giới phía bắc của bang Arunachal Pradesh. Sau đó nó chảy về phía nam và phía tây qua bang Assam và phía nam vào Bangladesh, nơi đó nó đổ vào châu thổ sông Hằng-Brahmaputra rộng lớn. Lưu vực sông Brahmaputra hẹp ở Assam là nơi dốc dễ bị ngập lụt do lưu vực rộng lớn của nó, là vùng mà thường trải nhiệm những cơn mưa lớn.

b/ Các con sông ở bán đảo

Mahanadi riverCác con sông ở bán đảo chảy vào vịnh Bengal bao gồm một số con sông lớn, đáng chú ý nhất là sông Mahanadi, Godavari, Krishna, và Kaveri. Ngoại trừ sông Mahanadi, đầu nguồn của các con sông ở trong vùng có lượng mưa cao GhatsTây, và chúngvắt ngang qua toàn bộ chiều rộng của cao nguyên (thường từ tây bắc xuống đông nam) trước khi đến vịnh Bengal. Sông Mahanadi có nguồn ở rìa phía nam của Đồng bằng Chhattisgarh.

Sông bán đảo Ấn Độ có độ dốc cao và do đó hiếm khi làm gia tăng lũ lụt như các sông ở vùng đồng bằng phía bắc Ấn Độ, bất chấp sự khác biệt đáng kể của dòng chảy từ mùa khô sang mùa mưa. Hạ nguồn của một số những con sông được đánh dấu bởi thác, ghềnh và hẻm núi, thường là khi chúng chảy qua Ghats Đông. Do độ dốc của chúng, nằm bên dưới núi đá, và chế độ dòng chảy thay đổi, các con sông ở bán đảo không thể thông thuyền.

c/ Các sông chảy vào Biển Arab

Indus riberMột phần quan trọng ở Tây Bắc Ấn Độ là lưu vực sông Indus, nơi  Ấn Độ chia sẽ biên giới với Trung Quốc, Afghanistan và Pakistan. Sông Indus và nhánh dài nhất của nó, là Sutlej, cả hai bắt nguồn từ vùng đồi chuyển tiếp của Himalayas ở Tây Tạng. Sông Indus ban đầu chảy về phía tây bắc giữa các dãy núi cao chót vót và qua bang Jammu và Kashmir của Ấn Độ trước khi vào vùng Kashmir do Pakistan quản lý. Sau đó nó có hướng chung là tây nam qua Pakistan cho đến khi tới biển Arab. Sông  Sutlej từ nguồn cũng chảy theo hướng tây bắc nhưng vào Ấn Độ ở xa hơn về phía nam, ở biên giới của bang Himachal Pradesh (hoapham). Từ đó nó chảy về phía tây vào bang Punjab cuối cùng vào Pakistan, nơi mà nó hợp lưu với sông Indus.

Giữa Indus và Sutlej là nhiều nhánh chính khác của sông Indus. Sông Jhelum, nằm ở cực bắc của hai sông, chảy ra khỏi Dãy Pir Panjal vào Thung lũng Kashmir và từ đó qua Hẽm núi Baramulla vào Kashmir  của Pakistan. Ba con sông khác – Chenab, Ravi, và Beas-bắt nguồn từ dãy Himalaya trong bang Himachal Pradesh. Sông Chenab chảy ngang qua bang Jammu – Kashmir trước khi vào Pakistan. Sông Ravi hình thành một phần biên giới phía nam giữa bang Jammu – Kashmir và Himachal Pradesh và sau đó một đoạn ngắn là biên giới Ấn Độ-Pakistan trước khi vào Pakistan; và sông Beas chảy hoàn toàn trong Ấn Độ, hợp lưu với sông Sutlej ở bang PunjabẤn Độ.

Khu vực mà xuyên qua nó là dòng chảy của năm nhánh sông Indus theo truyền thống được gọi là Punjab (từ Ba Tư panj nghĩa là “năm” và ab  nghĩa là “nước”). Khu vực đó hiện đang thuộc bang Punjab của Ấn Độ (chứa Sutlej và Beas) và tỉnh Punjab của Pakistan. Mặc dù lượng mưa thấp ở vùng đồng bằng Punjab, dòng chảy từ dãy Himalaya tương đối cao đảm bảo một dòng chảy quanh năm trong sông Indus và các nhánh của nó, mà đã được sử dụng rộng rãi để cho các kênh tiêu nước.

Narmada riverXa hơn về phía nam, một dòng sông nổi tiếng chảy vào biển Ả Rập là Luni phía nam Rajasthan, mà trong nhiều năm đã qua chuyên chở đủ nước tới Đại Rann of Kutch ở miền tây Gujarat. Cũng chảy qua Gujarat là sông Mahi, cũng như hai con sông quan trọng nhất chảy về phía tây của bán đảo Ấn Độ – Sông Narmada (lưu vực 98.900 km2) và Tapi ( lưu vực 65.000 km2). Sông Narmada và lưu vực của nó đã trải qua quá trình thay đổi quy mô lớn. Hầu hết các con sông khác ở bán đảo chảy vào Biển Ả Rập có dòng chảy ngắn, và những dòng từ thượng nguồn ở Ghats Tây chảy về phía tây có dòng chảy xiết theo mùa.

 2/ Hồ

wular lakeẤn Độ có vài hồ tự nhiên. Hầu hết các hồ ở dãy Himalaya được hình thành khi các sông băng đào thành chỗ trũng hoặc hình thành đập gồm toàn đất và đá. Hồ  Wular ở Jammu và Kashmir, ngược lại, là kết quả của sụp lún kiến tạo. Mặc dù diện tích của nó dao động, Hồ Wular  là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất ở Ấn Độ.

Sambambha salt lakeThoát nước nội địa ở Ấn Độ chủ yếu là phù du và gần như hoàn toàn ở vùng khô hạn và bán khô hạn ở tây bắc Ấn Độ, đặc biệt là ở Đại sa mạc Rajasthan, nơi có nhiều hồ muối phù du – nổi bật nhất  là Hồ muối Sambhar, hồ lớn nhất ở Ấn Độ. Những hồ nước này được cung cấp bởi những dòng suối ngắn không liên tục, mà hình thành do lũ quét trong suốt những cơn mưa dữ dội và trở nên khô, mất đi hình dạng khi những cơn mưa đã qua. Nước trong hồ cũng bốc hơi và sau đó để lại một lớp đất mặn trắng, từ đó một số lượng đáng kể muối được sản xuất thương mại. Nhiều hồ lớn nhất của Ấn Độ là hồ chứa nước hình thành bằng cách đắp đập ngăn sông.

III.THỔ NHƯỠNG

Có một loạt các loại đất ở Ấn Độ. Là sản phẩm của quá trình tự nhiên, chúng có thể được phân chia thành hai nhóm: đất ở tại chỗ và đất vận chuyển.Đất ở tại chỗ có đặc điểm nhận dạng từ các đá mẹ, được sàng lọc bởi dòng nước chảy, băng trôi, và do gió lắng đọng trầm tích xuống địa hình như thung lũng sông và đồng bằng ven biển. Quá trình sàng lọc đất như vậy đã dẫn đến lắng đọng các trầm tích thành những lớp mà không có bất kỳ địa tầng thổ nhưỡng rõ rệt, mặc dù nó đã bị biến đổi thành phần hóa học ban đầu của nó.

Trong số các loại đất ở tại chỗ là đất đỏ-vàng (bao gồm cả đá ong) và đất đen địa phương gọi là regur. Sau những lớp đất phù sa đó là loại đất thông thường nhất. Đáng kể là đất sa mạc Rajasthan, đất mặn ở Gujarat, miền nam Rajasthan, và một số vùng  ven biển và đất núi của dãy Himalaya. Các loại đất được xác định bởi nhiều yếu tố, bao gồm khí hậu, địa hình, độ cao, và sông ngòi, cũng như của các thành phần của vật liệu đá nằm bên dưới.

1/ Đất ở tại chỗ

a/  Đất đỏ vàng

Những loại đất này được bắt gặp trên những vùng không phù sa rộng lớn của bán đảo Ấn Độ và được tạo thành từ các loại đá có tính axit như đá granit, gneiss, và đá phiến. Chúng phát triển trong khu vực, trong đó lượng mưa lọc và hòa tan các khoáng chất ra khỏi đất và kết quả là chúng mất đi các thành phần hóa học cơ bản; tăng tỷ lệ tương ứng sắt bị oxy hóa có một màu đỏ phổ biến đối với nhiều loại đất. Vì lý do đó, chúng thường được mô tả như đất ferralitic. Trong trường hợp nặng, nồng độ của các oxit sắt dẫn đến sự hình thành của một lớp vỏ cứng, trong trường hợp đó chúng được mô tả như là đất đá ong ( lateritic – từ later, thuật ngữ Latin có nghĩa là “gạch”). Các loại đất đỏ-vàng có nồng độ oxit sắt cao tập trung ở các khu vực có lượng mưa nhiều của Ghats Tây, phía tây bán đảo Kathiawar, đông Rajasthan, GhatsĐông, vùng cao nguyên Chota Nagpur, và những vùng núi khác của vùng đông bắc Ấn Độ. Đất đỏ- -vàng ít được lọc xảy ra tại các khu vực có lượng mưa thấp ngay phía đông của GhatsTây ở bên trong vùng nội địa khô hạn của cao nguyên Decan. Đất đỏ- vàng thường không màu mỡ, nhưng vấn đề đó phần nào được cải thiện ở những vùng có rừng, nơi đất mùn tập trung và tái chế các chất dinh dưỡng giúp phục hồi sự màu mỡ ở tầng đất mặt.

b/ Đất đen

Trong số đất tại chỗ của Ấn Độ, đất đen được tìm thấy trong các khu vực dung nham bao phủ là dễ thấy nhất. Những loại đất này thường được gọi là regur nhưng phổ biến được gọi là “đất bông đen”, vì bông được xem là vụ mùa truyền thống phổ biến nhất ở những nơi mà chúng được tìm thấy. Đất đen là các biến thể của khoáng chất trong dung nham và lan rộng phần lớn qua Gujarat, Maharashtra, Karnataka, và Madhya Pradesh trên cao nguyên nham thạch Deccan và cao nguyên Malwa, nơi có mưa trung bình và đá bazan nằm bên dưới. Do hàm lượng sét cao, đất đen phát triển các vết nứt rộng trong mùa khô, nhưng cấu trúc hạt giàu chất sắt của chúng làm chúng có khả năng chống gió và nước xói mòn. Chúng nghèo mùn nhưng vẫn có khả năng giữ ẩm cao, do đó đáp ứng tốt việc dẫn nước tưới tiêu. Những loại đất này cũng được tìm thấy ở nhiều vùng ngoại vi nơi lớp bazan cơ bản bên dưới đã được di chuyển khỏi vị trí ban đầu của nó bởi tiến trình của sông ngòi. Việc sàng lọc chỉ dẫn đến việc gia tăng các mảnh vụn trong thành phần của đất.

2/ Đất phù sa

Đất phù sa rất phổ biến. Chúng hiện diện trong suốt Đồng bằng Ấn-Hằng và dọc theo hạ lưu của hầu như tất cả các con sông lớn của đất nước (đặc biệt là các vùng đồng bằng châu thổ ven biển phía đông). Các đồng bằng không phải là đồng bằng châu thổ dọc theo bờ biển của Ấn Độ cũng được đánh dấu bằng dãy phù sahẹp.

Phù sa mới được tìm thấy trên nhiều vùng lũ Ấn-Hằng được gọi khadar cực kỳ màu mỡ và thống nhất trong kết cấu; ngược lại, phù sa cũ trên các ruộng bậc thang hơi cao, gọi là bhangar, giàu kiềm, được gọi là usar, khiến một số khu vực không màu mỡ.Trong lưu vực sông Hằng, các tầng cát ngậm nước dự trữ lượng nước ngầm khổng lồ đảm bảo tưới tiêu và giúp làm cho đồng bằng thành vùng nông nghiệp năng suất cao nhất của đất nước.

IV. KHÍ HẬU

ban do huong gio

Khí hậu gió mùa ở Ấn Độ là loại khí hậu gió mùa ví dụ điển hình nhất trên thế giới. Mùa mưa và mùa khô của hệ thống gió mùa Ấn Độ, cùng với sự dao động nhiệt độ hàng năm, đã tạo nên ba giai đoạn khí hậu nói chung trên nhiều vùng đất nước:

– (1) thời tiết nóng ẩm từ khoảng giữa tháng Sáu đến cuối tháng Chín.

– (2) thời tiết khô mát từ đầu tháng Mười đến tháng Hai.

– (3) thời tiết khô nóng (mặc dù bình thường với độ ẩm không khí cao) từ khoảng tháng Ba đến giữa tháng Sáu.

Thời gian thực tế của những thời kỳ có thể thay đổi vài tuần, không chỉ từ vùng này của Ấn Độ tới vùng khác mà  còn từ năm này sang năm khác. Sự khác nhau trong khu vực, thường rất đáng kể, là kết quả của một số yếu tố, bao gồm cả độ cao, loại địa hình, và gần nước.

1/  Gió mùa

may gio muaMột hệ thống gió mùa được đặc trưng bởi sự thay đổi hướng gió theo mùa và cả mùa mưa và mùa khô. Ở Ấn Độ, mùa mưa, còn gọi là gió mùa tây nam, xảy ra từ khoảng giữa tháng Sáu đến đầu tháng Mười, khi những cơn gió từ Ấn Độ Dương mang không khí nặng trĩu hơi ẩm vào tiểu lục địa, gây mưa lớn và khiến lũ lụt diễn ra thường.Thông thường khoảng ba phần tư tổng lượng mưa hàng năm của nước này xảy ra vào những tháng đó. Trong những tháng khô hạn nhất, đặc biệt là từ tháng Mười một đến tháng Hai, mô hình được đảo ngược, không khí khô từ từ di chuyển vào nội địa châu Á ngang qua Ấn Độ về phía đại dương. Từ tháng Mười và tháng Ba qua đến  tháng Năm, ngược lại, phổ biến là loại gió rời rạc không hệ thống.

+ Gió mùa tây nam

mua bong mayMặc dù những cơn gió của mùa mưa được gọi là gió mùa tây nam, chúng thực sự  theo hai nhánh riêng biệt, một ban đầu từ biển Ả Rập thổi về phía đông và một từ phía bắc vào vịnh Bengal. Nhánh đầu bắt đầu thổi vào bờ tây của vịnh Ấn Độ đến tận Ghats Tây. Trong khi vượt qua dãy núi này, hơi ẩm trong không khí lạnh dần và ngưng tụ thành mưa ở sườn đón gió của các cao nguyên.  Lượng mưa hàng năm ở các bộ phận của khu vực vượt quá 2.540 mm và lên đến 6.250 mm ở Mahabaleshwar trên đỉnh Ghats Tây. Ngược lại, ở phía sườn khuất gió của Ghats Tây không khí mất dần hơi ẩm và gây hệ quả mưa bóng mây tạo thành một vành đai địa hình khô hạn, phần lớn có lượng mưa ít hơn 635 mm mỗi năm.

lụt 1Nhánh gió mùa thổi vào vịnh Bengal ngang qua đông Ấn Độ, Bangladesh và ở vài vùng cũng mang lại nhiều mưa giống như cách chúng diễn ra ở Ghats Tây. Ảnh hưởng rõ rệt nhất là ở Cao nguyên Shillong (cacnuocchauau), nơi mà ở Cherrapunji lượng mưa trung bình hàng năm là 11.430 mm, một trong những vùng có mưa nhiều nhất trên thế giới. Về phía bắc Thung lũng Brahmaputra cũng trải nghiệm hiệu ứng mưa bóng; tuy nhiên ít hơn, do dãy Himalaya gần kề, đã làm cho gió mạnh lên trở lại, do đó thành lập một vành đai song song với những cơn mưa dữ dội.  Bị chặn bởi dãy Himalaya, nhánh gió mùa ở Vịnh Bengal chuyển hướng về phía tây đến tận Đồng bằng sông Hằng, đạt tới Punjab chỉ trong tuần đầu tiên của tháng Bảy.

Ở Đồng bằng sông Hằng hai nhánh hợp nhất thành một. Khi chúng đến Punjab (cacnuocchauau) độ ẩm đã giảm đi nhiều. Việc giảm dần lượng mưa về phía tây được chứng minh bởi sự suy giảm từ 1.625 mm tại Kolkata đến 660 mm ở Delhi và điều kiện khí hậu hoang mạc được hình thành ở viễn tây. Ở phần đông bắc bán đảo Ấn Độ, hai nhánh xung đột gián đoạn, tạo frông thời tiết yếu với lượng mưa đủ để tạo ra một vùng có lượng mưa khá cao hơn 1.520mm ở Cao nguyên  Chota Nagpur.

lụt 2+ Mưa trong giai đoạn gió mùa rút lui 

Phần lớn Ấn Độ ít xảy ra mưa và mưa tương đối yếu trong giai đoạn gió mùa rút lui. Một ngoại lệ cho quy tắc đó xảy ra dọc theo bờ biển phía đông nam của Ấn Độ và đối với một số khoảng cách nội địa. Khi gió mùa đông bắc rút lui xuyên qua vịnh Bengal, nó mang lượng hơi ẩm đáng kể, sau đó phóng thích khi di rút lui khỏi bán đảo.  Như vậy, từ tháng Mười đến tháng Mười hai bờ biển của bang Tamil Nadu (cacnuocchauau) nhận được ít nhất một nửa lượng mưa hàng năm khoảng 1.000 mm. Sau đó thời tiết dần chuyển sang mùa khô gọi là mùa gió mùa đông bắc.

Một loại mưa mùa đông khác xảy ra ở miền bắc Ấn Độ, mà nhận được cơn bão lốc yếu có nguồn gốc ở Địa Trung Hải. Trong dãy Himalaya những cơn bão mang lại những tuần mưa phùn và mây và theo sau bởi nhiệt độ lạnh và tuyết rơi. Các bang Jammu và Kashmir đặc biệt nhận được nhiều lượng mưa từ những cơn bão.

+ Bảo nhiệt đới

Bão nhiệt đới dữ dội xảy ra ở Ấn Độ trong giai đoạn tiền gió mùa, có nguồn gốc ở cả Vịnh Bengal và Biển Ả Rập, lốc xoáy nhiệt đới thường đạt vận tốc hơn 160 km/ giờ và nổi tiếng vì gây ra những cơn mưa dữ dội và bão triều (nước dâng) khi chúng ngang qua các bờ biển của Ấn Độ. Các bang Andhra Pradesh, Orissa, và bờ Tây Bengal dễ bị ảnh hưởng với các cơn bão đó.

+ Tầm quan trọng đối với nông nghiệp

Gió mùa đóng một vai trò quan trọng trong nông nghiệp Ấn Độ, và lượng mưa thay đổi đáng kể từ năm này sang năm khác, cả về thời gian và số lượng, tạo ra  sự không ổn định của sản lượng cây trồng của đất nước.Những năm mưa dồi dào mang lại mùa màng bội thu, nhưng năm mưa kém có thể dẫn đến mất mùa trên diện rộng, đặc biệt nơi thiếu các công trình thủy lợi. Quy mô ngập lụt lớn cũng có thể gây thiệt hại cho cây trồng. Như một quy luật chung, những vùng có lượng mưa trung bình hàng năm cao có lượng mưa điều hoà, nhưng ít vùng của Ấn độ có lượng mưa trung bình đủ cao để thoát khỏi khả năng đôi khi hạn hán và mất mùa.

2/ Nhiệt độ

nhiet do an do mapNhiệt độ ở Ấn Độ thường ấm áp nhất vào tháng Năm hay tháng Sáu,  ngay trước khi trận mưa lớn của gió mùa tây nam đem đến khí hậu mát mẻ. Một tối đa thứ cấp thường xảy ra trong tháng Chín hoặc tháng Mười, khi mưa chấm dứt. Nhiệt độ có xu hướng giảm đi đáng kể dọc theo đồng bằng ven biển hơn các vùng nội địa. Nhiệt độ cũng có

 xu hướng tăng theo vĩ độ. Gần cực nam của Ấn Độ sự dao động theo mùa không nhiều hơn một vài độ; Ví dụ, tại thành phố Thiruvananthapuram (Trivandrum), ở Kerala, sự  dao động trung bình chỉ 2.4 ° C nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27 ° C. Tuy nhiên, ở phía tây bắc, sự dao động lớn hơn  nhiều, như, ví dụ, tại Ambala, ở bang Haryana, nơi có nhiệt độ dao động từ 13 ° C  vào tháng Giêng đến 33 ° C vào tháng Sáu. Nhiệt độ cũng ôn hoà ở những nơi có độ cao lớn, và nhiều thị trấn nghỉ mát trên dãy Himalaya, có đủ điều kiện về địa hình để trở thành nơi giải toả không khí nóng ngột ngạt. Đôi khi, làn khí nóng, như làn khí nóng trải rộng trên tiểu lục địa vào giữa năm 2015, có thể nguy hiểm chết người.

V. THỰC VẬT VÀ ĐỘNG VẬT

1/ Thực vật

forest and lake NilgirisHệ thực vật của Ấn Độ phản ánh bởi sự phân phối mưa. Rừng nhiệt đới thường xanh lá rộng và rừng hỗn hợp phần lớn ở những khu vực có lượng mưa cao; ở những khu vực mưa ít người ta tìm thấy những khu rừng ẩm ướt và rừng khô rụng lá, rừng cây bụi, đồng cỏ, thảm thực vật sa mạc. Rừng lá kim chỉ giới hạn ở dãy Himalaya. Có khoảng 17.000 loài thực vật có hoa trong nước. Sự cô lập của tiểu lục địa, gây nên bởi địa hình và các rào cản khí hậu, đã dẫn đến một số lượng đáng kể của hệ thực vật đặc hữu.

Khoảng một phần tư của đất nước là rừng. Tuy nhiên, bắt đầu từ cuối thế kỷ 20, sự suy giảm rừng tăng tốc đáng kể để nhường chỗ cho nông nghiệp và phát triển đô thị-công nghiệp. Hoạt động đó đã gây thiệt hại cho  nhiều loài thực vật Ấn Độ. Khoảng 20 loài thực vật bậc cao được cho là đã tuyệt chủng, và đã có khoảng 1.300 loài được coi là có nguy cơ tuyệt chủng. Các cây phổ biến trong những khu rừng có nhiều tầng bao gồm loài vấp ( Mesua- là một loài thực vật có hoa trong họ Calophyllaceae), hồng xuân (Toona ciliate), Sao (Hopea), và Eugenia, cũng như gurjun (Dipterocarpus Turbinatus- là một loài thực vật có hoa trong họ Dầu), phát triển lên tầm cao vượt quá 50 mét trên quần đảo Andaman và Assam. Các khu rừng thường xanh rụng lá hỗn hợp của bang Kerala và dãy Himalaya Bengal có một lượng lớn các cây gỗ cứng có giá trị thương mại, trong đó bằng lăng lanceolata, đông Ấn Độ, hoặc Malabar ( khu vực nằm bên bờ biển phía tây bắc Ấn Độ thuộc bang Kerala) , kino (Pterocarpus marsupium- là một loài thực vật có hoa trong họ Đậu), và gỗ hồng mộc (Dalbergia latifolia) nổi tiếng.

rung thong va soiRừng rụng lá ẩm nhiệt đới thường có ở những vùng có lượng mưa từ 1.500 đến 2.000 mm, chẳng hạn như phần phía bắc của Ghats Đông, phía đông – trung tâm Ấn Độ, và phía tây bang Karnataka. Rừng rụng lá khô, mọc ở những nơi nhận được lượng mưa ít hơn 1.500 mm, đặc trưng là vùng có độ ẩm trung bình và khu vực bán khô cằn của Gujarat, Madhya Pradesh, miền đông Rajasthan, miền trung bang Andhra Pradesh, và phía tây Tamil Nadu. Tếch hay giả tỵ ( là một loài cây gỗ lớn trong chi Tectona, cao tới 30–40 m và rụng lá vào mùa khô. Khu vực phân bố là Ấn Độ và Đông Dương.), cây chai (sal, sala), chò nhai (Anogeissus latifolia), cây mun ( tendu – một loại cây ở Nam Á, lá phơi khô và hút như thuốc lá ), ain, và Adina cordifoliauơr ( cây thuộc họ thiến thảo) là một số loài rụng lá lớn.

Rừng gai nhiệt đới chiếm diện tích ở các vùng khác nhau của đất nước, mặc dù chủ yếu ở phía bắc đồng bằng sông Hằng và miền nam bán đảo Ấn Độ. Những khu rừng đó thường mọc ở những vùng ít mưa hơn 600 mm, nhưng cũng được tìm thấy ở các khu vực ẩm ướt hơn, nơi rừng rụng lá đã bị suy thoái do chăn thả không kiểm soát, do đốn hạ, và do sự chuyển dịch sang nông nghiệp. Trong những khu vực đó, loài cây như xương rồng (cây chịu hạn) là loài cây keo và gièng gièng (là một chi thực vật có hoa thuộc họ Đậu ) chiếm ưu thế.

sal treeCác loài có giá trị kinh tế quan trọng bao gồm gỗ tếch và cây chai . Gỗ tếch, tập trung chủ yếu phạm vi bán đảo. Trong thời gian cai trị của Anh, nó được sử dụng rộng rãi trong ngành đóng tàu, và do đó rừng được bảo tồn ở các đồn điền gỗ tếch. Cây chai (sal) nằm giới hạn ở vùng thấp dãy Himalaya, Uttar Pradesh, Bihar, Jharkhand, Chhattisgarh, Assam và Madhya Pradesh. Loài khác có giá trị thương mại là gỗ đàn hương (album Santalum), gỗ thơm đó có lẽ là quý giá nhất trên thế giới, và gỗ hồng mộc, thường xanh dùng để chạm khắc và làm đồ nội thất.

Nhiều loài khác rất đáng chú ý, một số do môi trường sinh thái đặc biệt mà chúng chiếm đóng. Ví dụ, khu vực châu thổ có rừng đước ngập mặn, trong đó những loài chi phối – gọi là sundri hay Sundari (Heritiera fomes – là một loài cây ngập mặn thuộc họ cẩm quỳ). Đặc điểm đáng lưu ý của cảnh quan nhiệt đới là cây cọ, trong đó ở Ấn Độ có khoảng 100 loài tiêu biểu. Dừa và cau được trồng chủ yếu ở vùng duyên hải Karnataka và Kerala. Xoài được tìm thấy ở nhiều vùng của Ấn Độ và là nguồn trái cây chính.  Hai loài cây được tôn kính trong Phật giáo là cây bồ đề và cây đa. Nhiều loại tre phát triển trên nhiều vùng của đất nước nước, tập trung vào các khu vực có mưa.

duaThảm thực vật ở dãy Himalaya có thể nói chung được chia thành một số vành đai. Rừng thường xanh rụng lá hỗn hợp chiếm lĩnh khu vực chân đồi lên đến độ cao 1.500m. Trên mức đó là sự hiện diện của rừng thông cận nhiệt đới, sau đó là các khu rừng ẩm ôn đới Himalaya của gỗ sồi, cây thông, thông tuyết Himalaya, và vân sam. Vành đai rừng cao nhất, bao gồm cây bụi trên núi cao (cây bụi An – pơ), được tìm thấy lên đến độ cao khoảng 4.500 mét. Cây đỗ quyên (Rhododendrons) phổ biến ở độ cao 3.700 mét, trên vành đai đó đôi khi có bách xù (Junipers) và đồng cỏ núi cao. Các vành đai chồng chéo lên nhau đáng kể, và có dải chuyển tiếp rộng.

2/ Động vật

Ấn Độ hình thành một mảng quan trọng của những gì được gọi là phương Đông, hoặc Trung -Ấ, khu vực địa sinh học, từ Ấn Độ kéo dài về phía đông bao gồm đất liền và nhiều đảo Đông Nam Á. Thực vật của nó là rất nhiều và rất đa dạng.

a/ Động vật có vú

te giac an doĐộng vật có vú của vùng núi thấp bao gồm voi Ấn Độ. Những đàn voi hoang dã được bảo vệ ở trong công viên quốc gia nổi tiếng như Periyar Wildlife Sanctuary, ở Kerala, và Bandipur, ở Karnataka. Tê giác Ấn Độ được bảo vệ ở Công viên quốc gia Kaziranga và Manas Wildlife Sanctuary ở Assam.

Các động vật nhai lại bao gồm bò rừng hoang dã Ấn Độ, hoặc bò tót (Bos gaurus), sống ở các khu rừng của bán đảo; trâu Ấn Độ; linh dương bốn sừng, linh dương đen; Ngoài ra còn có một số loài hưu, như hưu hiếm Kashmir (Hangul), hươu đầm lầy, hươu đốm, hươu xạ, hươu có gạc nâu (một loài đang bị đe doạ), và hưu chuột.

elephant in Chandaka forest, OdishaTrong số các loài linh trưởng là những con khỉ khác nhau, bao gồm khỉ nâu và xám, hoặc khỉ đuôi dài ( thần khỉ – Hanuman – trong đạo Hindu), voọc (Presbytis entellus), cả hai đều được tìm thấy trong các khu vực rừng và gần các khu định cư của con người. Khỉ không đuôi chỉ có duy nhất  ở Ấn Độ,  vượn hoolock, chỉ giới hạn trong các khu rừng nhiệt đới phía đông. khỉ Lion đuôi ngắn ở Ghats Tây, với quầng lông sáng xung quanh khuôn mặt của chúng, đang trở nên hiếm hoi vì bị săn trộm.

Động vật ăn thịt gồm hổ, báo, chó, cáo, chó rừng, và cầy mangut. Trong số các loài động vật săn mồi có sư tử châu Á – giới hạn trong Công viên Quốc gia Gir, ở bán đảo Kathiawar thuộc bang Gujarat (cacnuocchauau) – là phân loài sư tử còn tồn tại duy nhất ở bên ngoài châu Phi. Loài hổ Ấn Độ, hoặc hổ Bengal, (Panthera tigris tigris), là loài nổi tiếng với màu sắc phong phú, và có sức mạnh ghê gớm. Trong số năm phân loài hổ còn tồn tại trên toàn thế giới, hổ Bengal là nhiều nhất. Hổ được tìm thấy trong các khu rừng của khu vực Tarai của miền bắc Ấn Độ, Bihar và Assam; vùng đồng bằng sông Hằng ở tây Bengal; Ghats Đông; bang Madhya Pradesh; và phía đông Rajasthan. Có thời loài hổ này trên bờ vực của sự tuyệt chủng, hiện nay hổ Ấn Độ đã tăng lên đến vài ngàn, phần lớn nhờ vào Dự án bảo tồn loài hổ, đã thành lập để bảo tồn chúng ở những vùng khác nhau của đất nước. Trong số những báo có báo hoa mai, báo gấm, và các loài nhỏ hơn nhiều.

Bengal tigerĐại Himalaya có động vật đáng chú ý bao gồm cừu hoang dã và dê, sơn dương núi Pakistan (Capra falconeri), và dê rừng núi Aples . Gấu trúc và báo tuyết cũng được tìm thấy ở trên tầng cao của các ngọn núi.

Bò, trâu, ngựa, lạc đà lạc đà, cừu, dê và lợn là vật nuôi phổ biến. Các giống bò Brahman, hoặc Zebu (Bos indicus), một loài bò đặc biệt, là một động vật kéo quan trọng.

b/ Các loài chim

Ấn Độ đã có hơn 1.200 loài chim và có lẽ có 2.000 phân loài, mặc dù một số loài di cư được tìm thấy trong nước chỉ trong mùa đông. Số lượng các loài chim trong nước chiếm khoảng một phần tám trên thế giới. Lý do chính cho một mức độ cao như vậy của sự đa dạng là sự hiện diện của một loạt các môi trường sống, từ lãnh nguyên núi cao lạnh và khô của Ladakh và Sikkim (cacnuocchauau) đến vùng ẩm ướt, rừng nhiệt đới phức tạp Sundarbans, rừng ẩm ướt của Ghats Tây và phía đông bắc. Nhiều con sông lớn của đất nước này tạo thành đồng bằng châu thổ, các kênh rạch là môi trường sống của  loài nhiềunational park Keoladeo loài thủy sản, và nhiều con sông nhỏ bắt nguồn từ nôi địa và kết thúc trong các hồ nước mặn rộng lớn là môi trường quan trọng cho các loài chim như sếu cổ đen (Grus nigricollis), ngỗng barheaded (Anser indicus) , và chim lặn mào lớn, cũng như các loại chim nhạn biển, mòng biển, chim choi choi, và chim sáo. Diệc, cò, cò quăm, và chim hồng hạc. Nhiều trong số những loài chim thường xuyên ở Vườn quốc gia Keoladeo Ghana, gần Bharatpur, bang Rajasthan (được chỉ định là di sản thế giới của UNESCO vào năm 1985). Vùng Rann of Kachchh (Hoapham) là một trong những nơi có đàn chim hồng hạc cư trú lớn nhất thế giới.

Chim săn mồi gồm diều hâu, kền kền và đại bàng. Gà lôi, gà rừng, gà gô, và chim cút.. Công cũng rất phổ biến, đặc biệt là ở Gujarat và Rajasthan, nơi chúng được xem như là vật nuôi. Với bộ lông đẹp sặc sở, công đã được công nhận là loài chim quốc gia của Ấn Độ.

seuLoài chim đáng chú ý khác ở Ấn Độ bao gồm sếu Ấn Độ, thường được gọi là Sarus (Grus antigone); một loại chim lớn màu xám với đôi chân màu đỏ thẫm, Sarus đứng cao bằng  con người. Chim otit sống ở đồng cỏ của Ấn Độ. Chim otit lớn Ấn Độ (ardeotis nigriceps) (Hoapham), hiện nay giới hạn ở trung tâm và phía tây Ấn Độ, là một loài có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ bởi pháp luật. Gà gô trắng, chim bồ câu hoang dã, bồ câu, vẹt đuôi dài và chim cu cu được tìm thấy trên khắp đất nước. Chim bói cá không di trú chủ  yếu, sống gần mặt nước, được coi là thiêng liêng trong nhiều lĩnh vực. Chim mỏ sừng, chim cu rốc ( chim nhỏ vùng nhiệt đới, màu sắc sặc sỡ), và chim gõ kiến cũng rất phổ biến, như chim chiền chiện, quạ, chim hét cao cẳng, và chim hét.

c/ Bò sát, cá và côn trùng

Loài bò sát hiện diện nhiều ở Ấn Độ. Cá sấu sinh sống ở các con sông, đầm lầy, hồ. Cá sấu cửa sông (Crocodilus porosus) (cacnuocchauau) – có thời đạt chiều dài tối đa là 9 mét, mặc dù loại vượt quá 6 mét hiện nay là rất hiếm, thường ăn cá, chim, và cua của vùng bùn lầy châu thổ để sống. Cá sấu có mõm dài, hoặc Cá sấu Ấn Độ (Gavialis gangeticus), một loài giống với cá sấu, là loài đặc hữu của miền bắc Ấn Độ; nó được tìm thấy trong một số sông lớn, bao gồm cả sông Hằng và sông Brahmaputra và các nhánh của chúng. Trong số gần 400 loài rắn, một phần năm đều độc. Rắn cạp nong và rắn hổ mang là loài có độc rất phổ biến. Vua rắn hổ mang thường có chiều dài ít nhất 3,6 mét. Mãng xà  Ấn Độ thường hay lui tới khu vực đầm lầy và đồng cỏ. Thằn lằn cũng rất phổ biến, và rùa được tìm thấy trên khắp Ấn Độ, đặc biệt là dọc theo bờ biển phía đông.

Trong số 2.000 loài cá ở Ấn Độ, khoảng một phần năm sống ở nước ngọt. cá nước ngọt ăn được phổ biến bao gồm cá tra và các loài cá chép, đáng chú ý là cá hồi Ấn Độ (mahseer), độ dài tăng trưởng đến 2 mét và nặng 90 kg. Cá mập được tìm thấy ở các ven biển của Ấn Độ và đôi khi đi bơi vào nội địa qua cửa sông chính. Các loài hải sản có giá trị thương mại bao gồm tôm, tôm hồng ( tôm pandan) , cua, tôm hùm, trai ngọc, và ốc xà cừ.

Trong số các loài côn trùng có giá trị thương mại là tằm, ong, và các con cánh kiến đỏ (Laccifer lacca). Cánh kiến đỏ tiết ra một chất nhựa dính được dùng làm vec-ni. Nhiều loài côn trùng khác, chẳng hạn như các loài muỗi, là loài côn trùng truyền bệnh ( (ví dụ, bệnh sốt rét và sốt vàng da) hoặc ký sinh trùng ở người (ví dụ, giun dẹp và giun tròn).

C. DÂN CƯ, DÂN TỘC

I. DÂN SỐ

pilgrim peopleVới dân số ước tính 1.293.057.000 người theo điều tra năm 2016, Ấn Độ là quốc gia đông dân thứ hai trên thế giới. Tổng dân số Ấn Độ vào năm 1921 trong biên giới hiện tại của Ấn Độ (tức là, không bao gồm bây giờ là Pakistan và Bangladesh) là 251 triệu người,  và vào năm 1947, tại thời điểm độc lập, là khoảng 340 triệu. Theo điều tra dân số, dân số của Ấn Độ đã tăng gấp đôi từ năm 1947 – 1981, và vào năm 2001, nó đã vượt qua một tỷ. Riêng Sự gia tăng dân số trong các năm 1991 và 2001 là hơn 182 triệu – đã lớn hơn tổng dân số hiện nay của tất cả nhưng các quốc gia đông dân nhất thế giới. Mặc dù đã có sự sụt giảm đáng kể trong tỷ lệ sinh, giảm nhanh hơn nhiều hơn trong tỷ lệ tử vong đã góp phần vào việc gia tăng tỷ lệ tăng dân số của quốc gia. Hơn nữa, tỷ lệ ngày càng tăng của phụ nữ đạt và sống qua tuổi sinh đẻ của họ đã tiếp tục hạn chế việc giảm đáng kể trong tỷ lệ sinh. Các tiến bộ về y tế trong suốt 50 năm vừa qua cùng với năng suất nông nghiệp gia tăng (Cách mạng xanh) khiến dân số Ấn Độ gia tăng nhanh chóng. Ấn Độ tiếp tục phải đối mặt với một số thách thức liên quan đến sức khỏe cộng đồng.Theo Tổ chức Y tế thế giới, 900.000 người Ấn Độ tử vong mỗi năm do uống nước bị nhiễm bẩn hay hít khí bị ô nhiễm. Có khoảng 50 bác sĩ trên 100.000 người Ấn Độ. (cacnuocchauau)

house im MumbaiHậu quả của việc di cư hoặc nhập cư đến Ấn Độ đối với sự gia tăng dân số nói chung đã không đáng kể trong suốt lịch sử hiện đại. Tuy nhiên, bên trong Ấn Độ, sự di cư từ các vùng tương đối nghèo tới các khu vực, đặc biệt là các thành phố, đã khiến cho sự cải thiện kinh tế trở thành một trách nhiệm lớn lao đối với tốc độ tăng trưởng từ tiểu bang này đến khu vực khác. Nói chung, thành phố càng lớn, tỷ lệ dân nhập cư càng nhiều. Ở Mumbai, ví dụ, hơn một nửa dân số nói ngôn ngữ khác ngoài Tiếng Marathi, ngôn ngữ chính của bang Maharashtra (cacnuocchauau). Tỉ lệ dân nhập cư đến các thành phố của Ấn Độ là gánh nặng khốc liệt mà chính quyền phải đương đầu đối với nhu cầu của người mới đến là nhà ở, nước uống an toàn, và các tiện ích vệ sinh, chưa kể tiện nghi.  Kết quả là nhiều người di cư sống trong điều kiện nghèo khổ kinh khủng trong nhà ổ chuột hoặc, thậm chí tệ hơn, không có chỗ ở cố định cho tất cả.

slum-KolkataTừ năm 1991 – 2001 số người Ấn Độ sinh sống tại thành thị tăng 31,2%.Tuy nhiên, theo số liệu năm 2001, có trên 70% cư dân Ấn Độ sinh sống tại các vùng nông thôn.Theo điều tra dân số năm 2001, có 27 đô thị trên 1 triệu dân tại Ấn Độ; trong đó có Delhi, Mumbai, Kolkata, Chennai, Bangalore, Hyderabad, Ahmedabad, và Pune là các vùng đô thị đông dân nhất.

Người tị nạn tạo thành một tầng lớp người nhập cư khác. Một số từ sự phân vùng của Ấn Độ năm 1947 và nhiều người khác, đặc biệt là ở Assam và Tây Bengal (cacnuocchauau), từ việc chia tách bạo lực trong năm 1971 của Bangladesh khỏi Pakistan. Còn những người khác là những người tị nạn nội bộ từ bạo lực công xã và các hình thức xung đột dân tộc một cách định kỳ gây phiền toái nhiều vùng của Ấn Độ.

II. CÁC LOẠI HÌNH CƯ TRÚ

1/ Loại hình cư trú ở nông thôn

a well in a villagePhần lớn dân nông thôn Ấn Độ sống thành làng mạc, đường phố thường chật hẹp, quanh co, và không trải nhựa, và thường kết thúc bằng hẽm cụt. Thường có một vài không gian mở, nơi mọi người tụ tập: giáp với một ngôi đền hay nhà thờ Hồi giáo, tại cái giếng làng chính, và ở phía trước nhà của người trưởng làng. Tùy thuộc vào kích thước của ngôi làng, có thể thấy phòng hội nghị của hội đồng làng, một vài cửa hàng, một quán trà, một đài phát thanh công cộng, một bưu điện nhỏ, hoặc có lẽ  một nhà khách miễn phí cho du khách (dharmshala). Các trường làng thường ở bìa làng là để cung cấp cho học sinh không gian chơi đầy đủ. Một đặc điểm phổ biến dọc theo rìa của một ngôi làng là một khu rừng xoài hoặc cây khác, cung cấp bóng mát cho người và gia súc và thường có một cái giếng lớn.

house in rural IndiaHầu hết các ngôi nhà trong làng thì nhỏ, thường đắp bằng bùn chỉ một tầng đơn giản, nơi ăn chốn ở cho cả người và gia súc ở trong một hoặc vài phòng. Mái nhà thường là bằng phẳng và được làm bằng bùn ở vùng khô hạn, nhưng ở những vùng có lượng mưa đáng kể chúng thường dốc để thoát nước và được lợp bằng rơm, vật liệu nhà tranh khác, hoặc gạch đất sét (cacnuocchauau). Những mudy house in a villagengôi nhà thường là không có cửa sổ và chứa rất ít đồ nội thất, một kho chứa thực phẩm, nước và đồ dùng, một vài kệ và mắc áo, một hốc tường để làm bàn thờ gia đình, và thường là một vài đồ trang trí, chẳng hạn như hình ảnh của các vị thần, anh hùng phim, hình ảnh gia đình, lịch, hoặc có lẽ một số kỷ vật của một cuộc hành hương. Trong một góc của ngôi nhà hoặc ngoài sân là lò bằng đất là nơi nấu các bữa ăn. Điện, nước, nhà vệ sinh và cơ sở vật chất nói chung là không có.

a richer house in a village, IndiaHầu như ở khắp mọi nơi ở Ấn Độ, các nhà ở của các hộ gia đình giàu có hơn thì lớn hơn và thường được xây dựng bằng vật liệu bền hơn, chẳng hạn như gạch hoặc đá. Mái nhà của họ cũng xây dựng chắc chắn hơn, đôi khi lợp các tôn sóng, và thường gác bằng xà gỗ vững chắc hoặc thậm chí bằng thép. Cửa sổ, thường không có vì an ninh, là phổ biến. Số lượng các phòng, các đồ nội thất và trang trí nội thất và ngoại thất, đặc biệt là cổng vào, thường phản ánh sự giàu có của gia đình (cacnuocchauau). Thường khu vực bên trong vòng rào của ngôi nhà là nơi vụ mùa thu hoạch được lưu trữ. Có thể có một giếng riêng hoặc thậm chí một máy bơm tay, một khu vực để tắm, và một nhà vệ sinh có tường bao quanh. Chuồng gia súc, kho thóc, và thiết bị nông nghiệp ở riêng biệt xa nhữngnơi có người.

normad in Thar desertNhững người du mục có thể hiện diện ở nhiều vùng của Ấn Độ. Một số là các ban nhạc nhỏ của nghệ sĩ lang thang, các xưởng làm đồ sắt, và người buôn bán gia súc. Nhiều bộ tộc hành nghề tương tự theo mùa. Những người chăn cừu, phần lớn của giai cấp Gujar (cacnuocchauau), đưa gia súc lên phía tây dãy Himalaya. Trong khu vực bán khô cằn và khô cằn, nơi nông nghiệp bấp bênh, người chăn nuôi gia súc, cừu, dê, lạc đà sống trong một mối quan hệ cộng sinh với người làm ruộng ở địa phương hoặc gần đó.

2/ Loại hình cư trú ở đô thị

Mặc dù ít hơn một phần ba của người dân Ấn Độ sống ở các thị trấn và thành phố, hơn 6.100 nơi được xếp là đô thị. Nhìn chung, tỷ lệ cao hơn ở khu vực nông nghiệp thịnh vượng của phía tây bắc, phía tây và phía nam hơn ở vùng trồng lúa đông bắc của đất nước, nơi mà khả năng sản xuất của người dân bị hạn chế bởi thặng dư thu hoạch ít ỏi.

jama Masjid street, old DelhiTại Ấn Độ các thành phố lớn từ lâu đã phát triển với tỷ lệ nhanh hơn so với các thành phố và thị trấn nhỏ. Các đại đô thị chính có tỷ lệ phát triển nhanh hơn hết, kể cả Kolkata, sự tắc nghẽn giao thông ở trung tâm thành phố lên đến mức độ cao. Các yếu tố chính đối với sự phát triển đô thị là sự phát triển cơ quan hành chính,  thương mại hoá gia tăng của nền kinh tế nông nghiệp, và sự mở rộng của ngành công nghiệp và dịch vụ.

narrow street MumbaiỞ nhiều thành phố có niên đại từ thời kỳ tiền thuộc địa, như Delhi và Agra, trung tâm  đô thị là nơi cực kỳ tắc nghẽn bên trong một bức tường thành phố cổ, ở những nơi mà nó có thể còn đứng vững được. Ở những ” thành phố cổ, ” đó kỳ thị nhà ở do tôn giáo và đẳng cấp và quy hoạch đường phố và không gian mở, ngoài quy mô, thường khác nhau không nhiều với những gì được mô tả ở trên đối với ngôi làng.Tương phản với nhiều thành phố Miền tây, các gia đình giàu có thường chiếm ngôi nhà ở trung tâm của đô thị đông đúc nhất. Các phố chợ chuyên bán đồ ngọt, hạt ngũ cốc, vải, kim loại, đồ trang sức, sách và văn phòng phẩm và các hàng hóa khác là đặc trưng của thành phố cổ.

Vendor DelhiTrung tâm đô thị cổ khá chật hẹp cũng là đặc trưng cho nhiều thành phố phát triển trong thời kỳ chiếm đóng của Anh. Trong số đó, Kolkata, Mumbai và Chennai là những ví dụ đáng chú ý nhất. Tuy nhiên, trong những trường hợp như vậy, thường có một vài đường lớn chính, không gian dành cho công viên, và một trung tâm thương mại, bao gồm cả văn phòng cũ của chính phủ, các tòa nhà cao tầng văn phòng thương mại, ngân hàng, khu mua sắm cho những người giàu có, nhà hàng, khách sạn, bảo tàng, một vài nhà thờ, và những kiến trúc xây dựng khác nhắc nhở đến thời kỳ thực dân hiện diện.

Trang suc shopTrong giai đoạn trước độc lập, với tốc độ tăng trưởng đô thị nhanh và nhu cầu quy hoạch đô thị,  một hình thức mới nảy sinh. Ví dụ, hàng triệu người tị nạn từ Pakistan, đã dẫn đến việc thành lập nhiều “mô hình” thị trấn ở ngoài rìa của thành phố hiện hữu.Tiếp theo là những người đổ xô đến người tìm việc, cùng với sự tăng tự nhiên dân số, đã tạo nên nhiều khu dân cư quy hoạch, được gọi là ” khu kiều dân”, thường bao gồm các khối căn hộ bốn hoặc năm tầng, một trung tâm mua sắm nhỏ, trường học và sân chơi và không gian giải trí khác. Nói chung, việc đi lại từ các khu kiều dân tới nơi làm việc trong nội thành là do một trong hai phương tiện xe buýt hoặc xe đạp.

HomelessĐối với những người nhập cư nghèo, do không có khả năng cư trú trong những khu kiều dân họ phải sống trong các căn nhà ổ chuột, thường xuyên chia sẻ không gian với những người nhập cư trước đó từ các làng bản xứ của họ. Các khu ổ chuột,  gồm  hàng trăm nhà ở tạm bợ, thường dọc theo đường sắt và công viên, bên ngoài các bức tường của các nhà máy, dọc bờ sông, và bất cứ nơi nào khác mà chính quyền đô thị không phản đối sự hiện diện của họ. Cuối cùng, có những người cư ngụ trong thành phố, chủ yếu là người đàn ông độc thân tìm kiếm việc làm tạm thời, người mà thiếu thậm chí cả chỗ ở nghèo nàn ở các khu nhà ổ chuột.

ShimlaMột nơi ở đặc biệt của đô thị là khu an dưỡng trên đồi mà người Anh xây dựng, như Shimla và Darjiling. Những khu an dưỡng đó được xây dựng trên cao dành làm nơi nghỉ dưỡng vào mùa hè cho những sĩ quan châu Âu đóng quân ở Ấn Độ.  Khách sạn, nhà khách, trường nội trú, các câu lạc bộ, và các phương tiện giải trí khác là đặc trưng của nơi thực dân đã định cư. Từ khi độc lập, người Ấn Độ giàu có đã đến khu an dưỡng trên đồi này không kém hơn so với người Anh.

III. CÁC NHÓM DÂN TỘC

Ấn Độ là một đất nước đa sắc tộc đa dạng, là nơi cư trú của hàng ngàn các nhóm dân tộc và bộ lạc nhỏ. Sự phức tạp đó phát triển từ một quá trình lâu dài và phức tạp của việc di cư và hôn nhân trong họ gần. Các nền văn minh đô thị lớn như nền văn minh Indus, nằm ở thung lũng sông Indus được cho là của  dân bản xứ Ấn Độ thuộc ngữ hệ Dravida,  phát triển mạnh từ khoảng 2500-1700 TCN ( ngữ hệ Dravida (cacnuocchauau) là tên gọi chung của một nhóm gồm khoảng 85 ngôn ngữ được khoảng 200 triệu người sử dụng. Ngôn ngữ này phổ biến ở miền Nam Ấn Độ và một vài nơi khác như miền Trung Ấn Độ, Sri Lanka, bán đảo Mã Lai, Singapore,… nơi mà những người nói các thứ tiếng này từ Nam Ấn Độ di cư đến. Cũng có giả thuyết cho rằng bản thân ngữ hệ Dravida có nguồn gốc từ vùng Trăng Lưỡi Liềm Màu Mỡ (cacnuocchauau) ở Trung Đông. Trong ngữ hệ Dravida,Dravidian women các thứ tiếng phổ biến nhất là tiếng Tamil, tiếng Telugu, tiếng Kannada và tiếng Malayalam). Nền văn minh cổ Aryan, chi phối bởi những người mà ngôn ngữ giống với người Iran và châu Âu – đã đến chiếm tây bắc và sau đó là miền trung bắc Ấn Độ trong giai đoạn trong khoảng 2000-1500 TCN và sau đó lan ra miền tây nam và phía đông với cái giá phải trả của người bản địa. Bất chấp sự hạn chế về đẳng cấp, các cuộc hôn phối giữa các nhóm đã diễn ra mà có lẽ đã tiếp tục cho đến ngày nay, bất chấp sự phản đối đáng kể từ các dân tộc có nền văn minh riêng biệt đã phát triển trong thời gian đầu lịch sử. Trong số những cuộc xâm lược đó đáng kể là sự hòa hợp dân tộc giữa người Ấn Độ và người Ba Tư, người Scyth, Ả Rập, Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ, và Afghanistan (cacnuocchauau). Cuối cùng và về mặt chính trị cuộc xâm lược vĩ đại thành công nhất – đó là, từ châu Âu đã làm thay đổi rất lớn đến văn hoá Ấn Độ nhưng khá ít tác động đến thành phần sắc tộc của Ấn Độ.

Dravidian and AryanNói chung, các dân tộc miền trung bắc và tây bắc Ấn Độ có xu hướng có sắc tộc giống với các dân tộc châu Âu và người Ấn – Âu từ miền nam châu Âu, khu vực Caucasus, Tây Nam và Trung Á. Ở miền đông bắc Ấn Độ, Tây Bengal (ở độ cao thấp hơn), đạt tới độ cao hơn ở tây Hymalaya, và Ladakh ( thuộc bang Jammu – Kashmir), phần lớn dân tộc giống với nhiều dân tộc ở phía bắc và phía đông – đặc biệt là người Tây Tạng và Miến Điện. Nhiều người bản xứ ở Cao nguyên Chota Nagpu ( ở đông bắc bán đảo Ấn Độ) giống với dân tộc Môn (cacnuocchauau), dân tộc cư trú ở Đông Nam Á. Ít hơn nhiều là những nhóm dân tộc phía nam người mà có nguồn gốc, ít nhất là một phần, hoặc từ các dân tộc có nguồn gốc Đông Phi (vài người trong số đó định cư bên bờ biển phía tây của Ấn Độ ) hoặc từ một dân tộc gọi là Negrito, bây giờ đại diện bởi nhiều các dân tộc nhỏ và phân tán rộng từ các quần đảo Andaman, Philippines, New Guinea (Hoapham), và các khu vực khác.

IV. NGÔN NGỮ

IMG_0005-India

Các vùng ngôn ngữ của Ấn Độ

Có lẽ có hàng trăm ngôn ngữ lớn và nhỏ và hàng trăm phương ngữ được công nhận ở Ấn Độ, mà ngôn ngữ của nó thuộc về bốn ngữ hệ khác nhau: Ấn-Iran (một phân họ của hệ ngôn ngữ  Ấn-Âu), Dravidian, ngữ hệ Đông  Nam Á, và Tạng-Miến (một phân họ của ngữ hệ Hán – Tạng). Ngoài ra còn có một số ngôn ngữ cô lập, chẳng hạn như Nahali, được nói trong một khu vực nhỏ của bang Madhya Pradesh (cacnuocchauau). Đại đa số người Ấn Độ nói các ngôn ngữ Ấn-Iran (74% cư dân nói ) hoặc Dravidian ( 24%) . Các ngôn ngữ đã trở nên ngày càng được chuẩn hóa từ khi độc lập do sự tiến bộ của giáo dục và những ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng. Tiếng Anh là một ngôn ngữ “liên kết” chính thức và được sử dụng rộng rãi trong kinh doanh,hành chính và có địa vị “ngôn ngữ phó chính thức”; và có vị thế quan trọng trong giáo dục, đặc biệt là trong môi trường giáo dục đại học.

Hầu hết các ngôn ngữ  Ấn Độ ( bao gồm hệ thống chữ viết chính thức tiếng Hin – đi ngôn ngữ chính thức của người Ấn Độ ) được viết bằng cách sử dụng bộ mẫu tự Devanagari ( bộ mẫu tự dùng để viết tiếng Phạn và nhiều ngôn ngữ hiện đại của Ấn Độ, còn gọi là Nagari), nhưng mẫu tự khác cũng được sử dụng.  Chẳng hạn như tiếng Sindhi ( một nhánh của ngữ hệ Ấn – Âu được nói ở vùng Sind và một phần của  miền tây Ấn Độ, có khoảng 14 triệu người sử dụng ngôn ngữ này), được viết dưới hình thức dạng Ba Tư hoá mẫu tự Ả Rập, nhưng đôi khi được viết bằng mẫu tự Devanagari (cacnuocchauau) hay mẫu tự Gurmukhi ( chữ Punjab).

V. TÔN GIÁO

Akshardham temple, DelhiDo tôn giáo hình thành một khía cạnh quan trọng về bản sắc đối với hầu hết người Ấn Độ, phần lớn lịch sử của Ấn Độ có thể được hiểu thông qua sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nhóm tôn giáo đa dạng của nó. Một trong nhiều tôn giáo sinh ra ở Ấn Độ là Ấn Độ giáo, một sự tập hợp của các giáo lý khác nhau, các giáo phái, và lối sống được theo bởi đại đa số người dân. Các tôn giáo chính của Ấn Độ là Ấn Độ giáo, Kỳ Na giáo, Phật giáo, và đạo Sikh ( kết hợp giữa Ấn giáo và Hồi giáo) (cacnuocchauau). Các  ý tưởng triết học liên quan với các tôn giáo được đề cập trong triết học Ấn Độ.

Jama Masjid temple, DelhiNăm 1947, với sự phân vùng của tiểu lục địa và mất dân chủ yếu là người Hồi giáo Pakistan, Ấn Độ đã trở thành một đất nước chủ yếu là Ấn Độ giáo. Sự di cư đồng thời khoảng 10 triệu người Hồi giáo tới Pakistan và sự nhập cư của gần như nhiều người theo đạo Hindu và đạo Sikh từ Pakistan (cacnuocchauau) vào Ấn Độ tiếp tục nhấn mạnh sự thay đổi đó. Người Hindu hiện chiếm khoảng ba phần tư dân số của Ấn Độ. Tuy nhiên, Hồi giáo, vẫn là thiểu số lớn nhất (nhiều hơn một phần chín của tổng dân số), tập trung ở nhiều vùng của đất nước, bao gồm Jammu – Kashmir, phía tây bang Uttar Pradesh, Tây Bengal, Kerala, và nhiều thành phố.

Harmandir templeTôn giáo thiểu số quan trọng khác ở Ấn Độ bao gồm Kitô giáo, tập trung nhiều nhất ở ở phía đông bắc, Mumbai (Bombay), và xa về phía nam; đạo Sikh, chủ yếu ở Punjab và một số khu vực lân cận; đạo Phật, đặc biệt là ở Maharashtra, Sikkim, Arunachal Pradesh, Jammu – Kashmir; và Kỳ Na Giáo, nổi bật nhất ở Maharashtra (Hoapham), Gujarat và Rajasthan. Bái hoả giáo (Zoroastrians, Parsis), chủ yếu tập trung ở Mumbai và ven biển Gujarat, có ảnh hưởng không cân xứng với số nhỏ của họ, vì sự nổi bật của họ trong thời kỳ thuộc địa. Một số cộng đồng người Do Thái nhỏ bé nhưng thú vị nằm dọc theo bờ biển phía tây. Các bộ lạc  Ấn Độ sống chủ yếu ở vùng Đông Bắc; họ thực hành các hình thức khác nhau của vạn vật hữu linh, mà có lẽ là truyền thống tôn giáo lâu đời nhất của đất nước.

Hindu peopleNgười theo đạo Hindu chiếm đa số trong tất cả các bang của Ấn Độ, ngoại trừ Jammu – Kashmir (nơi người Hồi giáo hình thành khoảng hai phần ba dân số); ở Punjab (khoảng ba phần năm người theo đạo Sikh); Meghalaya, Mizoram, và Nagaland (chủ yếu là người theo đạo Cơ Đốc); và Arunachal Pradesh (chủ yếu là thờ vật linh). Người Hindu cũng chiếm đa số trong mỗi lãnh thổ liên minh trừ Lakshadweep (hơn chín phần mười Hồi giáo). Chỉ có ở các bang Orissa và Himachal Pradesh người Hindu chiếm gần như toàn bộ dân số.

ShivaThống kê đáng tin cậy về các chi nhánh trong các tôn giáo hàng đầu của Ấn Độ không có sẵn. Trong Ấn Độ giáo, chi nhánh như vậy có xu hướng được khá lỏng lẻo, không độc quyền, và mơ hồ. Các tín đồ sùng bái Vishnu (Vaishnavas), người thờ phượng trong đền thờ dành riêng cho thần Vishnu hoặc một trong sự hiện thân của ngài  (ví dụ, Rama và Krishna) hoặc những người theo một trong rất nhiều giáo phái liên quan, có xu hướng tập trung nhiều hơn ở miền Bắc và miền Trung Ấn Độ, trong khi những người thờ thần Shiva, hoặc tín đồ của Shiva, tập trung ở Tamil Nadu, Karnataka, miền tây Maharashtra, và phần lớn các khu vực Himalaya. Giáo phái có liên quan với nữ thần (Shaktism), thờ các hình thức khác nhau của nữ thần (Shakti – nữ thần mẹ, vợ của Shiva), đặc biệt phổ biến ở Tây Bengal (cùng với thờ Vishnu), Assam, và các khu vực vùng cao của Uttarakhand và Himachal Pradesh. Ấn giáo cũng bao gồm cả rất nhiều giáo phái nhỏ hơn ủng hộ tôn giáo phục hưng và cải cách, khuyến khích sự nâng lên của nhóm chịu thiệt thòi, hoặc tập trung vào lời giáo huấn của lãnh tụ tôn giáo có uy tín.  Một số sau này đã thu hút được tín đồ nước ngoài.

ghaneshTrong Hồi giáo, người Hồi giáo Sunni là giáo phái đa số hầu như ở khắp mọi nơi. Tuy nhiên, người Hồi giáo Shia thiểu số có ảnh hưởng ở Gujarat, đặc biệt là trong số đó cộng đồng thương mại Hồi giáo như Khojas và Bohras, và ở các thành phố lớn, chẳng hạn như Lucknow và Hyderabad, mà, trước khi phân vùng, là cựu thủ đô của quốc gia Hồi giáo, trong đó nhiều các quý tộc có nguồn gốc từ Ba Tư.

Công giáo La Mã hình thành nhóm Kitô giáo lớn nhất, đặc biệt là trên bờ biển phía tây và ở miền nam Ấn Độ. Nhiều chia rẽ giữa người Tin Lành đã được giảm đáng kể từ khi độc lập là kết quả của sự liên kết tạo ra Giáo hội Bắc Ấn Độ và Giáo hội Nam Ấn Độ. Nhiều giáo phái cực đoan nhỏ, tuy nhiên, đã duy trì sự độc lập của họ. Những người cải đạo sang Thiên Chúa giáo, đặc biệt là kể từ giữa thế kỷ 19, đến phần lớn từ các đẳng cấp thấp và các nhóm bộ tộc.

Tín đồ Phật giáo sống gần biên giới Trung Quốc (Tây Tạng) thường theo Phật giáo Tây Tạng, đôi khi xem là Kim Cương thừa (Vajrayana), là tên gọi một trường phái Phật giáo xuất hiện trong khoảng thế kỉ thứ 5, 6 tại Bắc Ấn Độ, trong khi những người sống gần biên giới với Myanmar (Miến Điện) theo Phật giáo nguyên thuỷ (Theravada), là một trường phái Phật giáo xuất phát từ Phân biệt thuyết bộ (sa. vibhajyavādin), do Mục-kiền-liên-tử Tu-đế thành lập. Ngày nay Phật giáo nguyên thuỷ được lưu hành tại các nước Ấn Độ, Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia và Lào, nên còn được gọi là Nam tông Phật pháp hay Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Nam Tông.

D. VĂN HOÁ

I. THỜI KỲ VỆ ĐÀ

Nền văn hóa Ấn Độ, thường được xem là có sự pha trộn của nhiều nền văn hóa khác nhau, trải dài khắp các tiểu lục địa Ấn Độ và đã bị ảnh hưởng và hình thành bởi một lịch sử vài nghìn năm tuổi.

Trong giai đoạn năm 2000 – 500 TCN, xét theo khía cạnh văn hóa, nhiều khu vực tại tiểu lục địa chuyển đổi từ thời kỳ đồng đá sang thời kỳ đồ sắt. Sau sự sụp đổ của nền Văn minh thung lũng sông Ấn – một nền văn minh phát triển hưng thịnh tại phần tây bắc tiểu lục địa Ấn Độ thuộc thời đồ đồng, nối tiếp theo là thời đồ sắt thuộc thời kỳ Vệ Đà. Kinh Vệ Đà là thánh kinh cổ nhất của Ấn Độ giáo được soạn trong giai đoạn này, và các nhà sử học phân tích chúng để thừa nhận về một nền văn hóa Vệ Đà ở vùng Punjab và phần thượng của đồng bằng sông Hằng.

Nguoi Aryan

Hình minh hoạ người Aryan định cư trong các ngôi làng nông nghiệp ở Ấn Độ.

Đầu thời kỳ Vệ Đà thường được cho là vào thiên niên kỷ thứ 2TCN, các nhóm dân tộc Ấn- Aryan di cư vào phần tây bắc Ấn Độ và bắt đầu sinh sống ở phía bắc thung lũng sông Ấn. Đồng bằng sông Hằng là nơi các bộ tộc Vệ Đà không đến được do rừng dày bao phũ. Tuy nhiên, sau năm 1000 TCN, việc sử dụng các rìu và cày sắt trở nên phổ biến và những khu rừng có thể được khai hoang một cách dễ dàng. Điều này cho phép người Aryan Vệ Đà mở rộng vương quốc của họ dọc theo đồng bằng sông Hằng và mở ra thời đại Vệ Đà sau này.

Sự hiểu biết về người Aryan bắt nguồn chủ yếu từ kinh Rigveda-Samhita, được sáng tác từ năm 1500-1200TCN (Rigveda-Samhita là một tập hợp các bài thơ thánh ca Ấn Độ cổ đại tiếng Phạn, được biết đến với tên kinh Vệ-đà. Các bài thánh ca này tôn vinh các vị thần Rigvedic). Người Aryan mang theo các truyền thống tôn giáo đặc biệt của họ và các cách hành đạo. Các đức tin Vệ đà và cách hành đạo của thời kỳ tiền cổ điển có liên quan chặt chẽ với đến hình thức tôn giáo sơ khai của Ấn – Âu và tôn giáo Ấn- Iran. Theo Anthony, tôn giáo cổ nhất của Ấn Độ lẽ nổi lên trong số những người nhập cư Ấn – Âu trong vùng tiếp xúc giữa sông Zeravshan (ngày nay là Uzbekistan) và Iran. Đó là “một sự pha trộn hổ lốn của Trung Á cũ và các yếu tố Ấn – Âu mới “, mà vay mượn “đức tin và lý thuyết tôn giáo ” Indra godtừ Văn hóa Bactria-Margiana. Ít nhất 383 từ phi Ấn- Âu được vay mượn từ nền văn hóa này, bao gồm cả thần Indra và nghi thức uống Soma (một linh thảo có nước ngọt làm cho thần và người uống vào đều say – theo kinh Rigveda có thể làm cho người trường sinh bất tử). Cũng theo Anthony, nhiều trong số những phẩm chất của thần Ấn-Iran là  sức mạnh / chiến thắng, thần Verethraghna, đã được giao cho thần Indra nhận làm con nuôi, đã trở thành vị thần trung tâm của sự phát triển nền văn hóa Ấn Độ cổ. Thần Indra ( thần sấm và giông tố), một vị thần được sùng bái nhất thời đó là chủ đề của 250 bài thánh ca, một phần tư bộ Rigveda ( một tuyển tập gồm 1028 thánh ca tán tụng các thần mà người Ấn – Aryan thờ phụng như mặt trăng, mặt trời, vòm trời, tinh tú, gió, mưa, đất…hầu hết là những bài cầu nguyện. Chỉ một ít bài có giá trị văn chương, lời đẹp hoặc hùng hồn).

AshvamedhaVới việc mở rộng các khu định cư trung tâm của nền văn minh Vệ Đà chuyển về phía đông. Nhiều trong số các bộ tộc cũ kết hợp lại để tạo thành các đơn vị chính trị lớn hơn. Các quốc gia mới được thành lập đấu tranh cho quyền tối cao và bắt đầu hiển thị những tham vọng đế quốc. Vật hiến tế của tôn giáo mới nổi tiếng nhất xuất hiện trong giai đoạn này là Ashvamedha (ngựa hiến tế). Sự hiến tế này gồm việc để một con ngựa phong thánh tự do dạo chơi các vương quốc trong một năm. Theo sau con ngựa là một nhóm chiến binh được lựa chọn. Các vương quốc và lãnh thổ dưới quyền mà con ngựa lang thang phải tỏ lòng kính trọng hoặc chuẩn bị để chiến đấu với nhà vua mà con ngựa thuộc về. Vật hiến tế này đặt áp lực đáng kể về quan hệ giữa các quốc gia trong thời đại này. Đến thế kỷ thứ sáu TCN, các đơn vị chính trị củng cố thành các vương quốc hùng mạnh gọi là Mahajanapadas (gồm 16 vương quốc cổ đại Ấn Độ là  Anga, Assaka, Avanti, Chedi, Gandhara, Kashi, Kamboja, Kosala, Kuru, Magadha, Malla, Machcha, Panchala, Surasena, Vriji, Vatsa). Vương quốc Anga (ngày nay là Tây Bengal), một vương quốc nhỏ ở phía đông của vương quốc Magadha, hình thành biên giới phía đông của văn hóa Vệ Đà. Cộng đồng người Yadavas mở rộng về phía nam và định cư ở Mathura. Về phía nam của vương quốc của họ là Vatsa . Vatsa là một vương quốc nằm ở nơi giao nhau của sông Hằng và sông Yamuna, thủ đô là Kausambi ( ngày nay là Kosam, nằm cách Allahabad 35 dặm về phía tây nam). Sông Narmada và các bộ phận của tây bắc Deccan hình thành biên giới phía nam. Ngoài ra còn có một số vương quốc nhỏ hơn trải khắp chiều dài và chiều rộng của Ấn Độ.

MahajanapadasQuá trình đô thị hóa đã bắt đầu trong các vương quốc và thương mại và giao thông, thậm chí trên những khu vực cách nhau bởi những khoảng cách lớn trở nên dễ dàng. Sự kết thúc của Vệ Đà Ấn Độ được đánh dấu bởi những thay đổi ngôn ngữ, văn hóa và chính trị. Ngữ pháp Panini đánh dấu một đỉnh cao cuối cùng trong việc soạn thành luật các văn bản Kinh, và cùng một thời điểm bắt đầu tiếng Phạn cổ.

Tổ chức chính trị : Aryan Vệ Đà được tổ chức thành các bộ tộc chứ không phải là vương quốc. Lãnh đạo của một bộ tộc được gọi là một Rajan. Quyền tự trị của Rajan đã được giới hạn bởi các hội đồng bộ tộc gọi là Sabha và Samiti. Hai cơ quan này có trách nhiệm cai trị bộ tộc. Các Rajan không thể lên ngôi mà không cần sự chấp thuận của họ. Sự khác biệt giữa hai cơ quan này là không rõ ràng. Trách nhiệm chính của Rajan là bảo vệ bộ tộc. Ông được hỗ trợ bởi nhiều công chức, bao gồm cả các purohita (giáo sĩ), các senani (tư lệnh quân đội), dutas (công sứ) và spash (gián điệp). Purohita thực hiện các lễ nghi và phép thuật để thành công trong cuộc chiến tranh và sự thịnh vượng trong hòa bình.

Vào cuối thời kỳ Vệ Đà, khi các bộ tộc đã củng cố thành các vương quốc nhỏ, trong đó có một thủ đô và một hệ thống hành chính thô sơ. Rajan được xem như là người canh giữ trật tự xã hội và người bảo vệ tổ chức chính trị. Vương quyền cha truyền con nối bắt đầu nổi lên và các cuộc thi như cuộc đua xe ngựa, các cuộc vây bắt gia súc, và trò chơi xúc xắc, mà trước đây quyết định người xứng đáng trở thành một vị vua, trở thành danh nghĩa. Nghi lễ trong thời đại này tôn vinh sự cao quý của vua đối với dân chúng. Ông đã thỉnh thoảng được gọi là Samrat (cai trị tối cao). Quyền lực chính trị ngày càng tăng của Rajan cho phép ông kiểm soát tốt hơn các nguồn lực sản xuất. Những món quà tự nguyện dâng hiến (Bali) đã trở thành bắt buộc, tuy nhiên, không có hệ thống tổ chức thuế. Sabha và Samiti vẫn được đề cập trong các văn bản cuối thời kỳ Vệ Đà, tuy nhiên, với sự gia tăng quyền lực của vua, ảnh hưởng của họ đã giảm.  Đến cuối thời Vệ Đà, các hệ thống chính trị khác nhau như các quốc gia quân chủ (rajya), các quốc gia chính trị đầu sỏ (gana hoặc sangha), và công quốc bộ lạc đã nổi lên ở Ấn Độ.

Nền kinh tế : Nền kinh tế trong thời kỳ  Vệ Đà được duy trì bởi một sự kết hợp của chăn nuôi và canh tác nông nghiệp. Rigveda miêu tả công việc làm nông, từ việc làm cánh đồng bằng phẳng, xử lý hạt giống, và lưu trữ các hạt trong lọ lớn. Chiến lợi phẩm trong chiến tranh cũng là một nguồn chính của sự giàu có. Trao đổi kinh tế được thực hiện bằng cách tặng quà, đặc biệt là cho các vua và các tu sĩ, và trao đổi hàng hóa sử dụng trâu bò như một đơn vị tiền tệ. Trong khi vàng được đề cập trong một số bài thánh ca, không có dấu hiệu của việc sử dụng đồng tiền. Nghề luyện kim không được đề cập trong Rigveda, nhưng từ ayas và dụng cụ làm từ nó như dao cạo, vòng đeo tay, trục được đề cập. Một đoạn thơ đã chỉ việc lọc ayas. Một số học giả tin rằng ayas ám chỉ đến sắt và những từ dham và karmara chỉ dụng cụ hàn sắt.

Từ Panis trong một số bài thánh ca chỉ các thương gia, mặt khác để chỉ người keo kiệt người giấu của cải của họ và đã không thực hiện việc cúng tế thần . Một số học giả cho rằng Panis là thương nhân Do Thái, nhưng bằng chứng cho điều này thì ít.  Các chiến binh chuyên nghiệp, các tu sĩ, người chăn nuôi gia súc, nông dân, thợ săn, thợ cắt tóc, nhà buôn rượu vang và làm xe ngựa, xe bò, nghề mộc, làm kim loại, thuộc da, làm cung, nghề may, dệt, làm thảm cỏ và sậy được đề cập trong các bài thánh ca của Rigveda. Có tài liệu chỉ tàu thuyền và các đại dương. Quyền sở hữu tài sản cá nhân không tồn tại và bộ tộc như một toàn thể được hưởng quyền đối với đất đai và đàn gia súc. Nô lệ (dasa, Dasi) trong quá trình chiến tranh hoặc do không thanh toán các khoản nợ được đề cập. Tuy nhiên, những người nô lệ làm việc trong các hộ gia đình chứ không phải là hoạt động sản xuất liên quan.

Sự chuyển đổi của xã hội Vệ Đà từ cuộc sống bán du mục sang định canh vào cuối thời Vệ Đà đã dẫn đến việc gia tăng thương mại và việc tranh giành nguồn tài nguyên.  Nông nghiệp chiếm ưu thế trong hoạt động kinh tế dọc theo thung lũng sông Hằng trong thời gian này. Hoạt động nông nghiệp phát triển và và sử dụng các dụng cụ sắt  tăng lên. Các loại nông sản như lúa mì, gạo và lúa mạch được trồng. Hàng thủ công mới và các ngành nghề như nghề mộc, thuộc da, làm gốm,  đồ trang sức, nhuộm, làm rượu vang và nghề chiêm tinh phát sinh. Ngoài đồng đỏ, hợp kim đồng đỏ và thiếc, vàng, văn bản cuối thời Vệ Đà  cũng đề cập đến thiếc, chì, bạc.

Xã hội : Xã hội Vệ Đà tương đối bình đẳng ở nghĩa một hệ thống cấp bậc riêng biệt của tầng lớp kinh tế-xã hội hay đẳng cấp, thì không tồn tại. Tuy nhiên, hệ thống phân cấp chính trị đã được xác định theo cấp bậc, trong đó Rajan đứng ở đầu và Dasi ở cuối. Từ Brahamana (Bà La Môn) và Kshatriya (vua chúa, quý tộc) hiện diện trong sách về gia đình khác nhau của Rigveda, nhưng chúng không liên quan với từ varna ( đẳng cấp). Từ Vaishya ( thương gia) và Shudra ( tiện dân ) không có. Theo kinh Rigveda, không có tính nghiêm ngặt trong hệ thống cấp bậc xã hội và sự hiện hữu của tính biến đổi xã hội. Sự xuất hiện của các quốc gia quân chủ cuối thời kỳ Vệ Đà, dẫn đến khoảng cách của Rajan và người dân và sự xuất hiện của hệ thống đẳng cấp (varna). Xã hội được chia thành bốn đẳng cấp : Brahamana, Kshatriya, Vaishya và Shudra.

Indian musical instrumentTrong các gia đình Vệ Đà nam giới nắm quyền và theo chế độ phụ hệ. Thể chế hôn nhân rất quan trọng và các loại hôn nhân khác nhau- chế độ một vợ một chồng, đa thê và đa phu được đề cập trong Rigveda. Cả hai nữ hiến triết và thần nữ đã được biết đến trong Vệ Đà Aryan. Tuy nhiên, những bài thánh ca cho nữ hiến triết và nữ thần không quan trọng như những người nam. Phụ nữ có thể chọn chồng của họ và có thể tái hôn nếu chồng chết hoặc mất tích. Trong khi vợ có một vị trí đáng kính, cô cũng dưới quyền chồng. Người tiêu thụ sữa, sản phẩm sữa, ngũ cốc, trái cây và rau quả, người ăn thịt được đề cập, tuy nhiên, con bò được liệt vào loại aghnya (không bị giết chết). Người thời Vệ Đà mặc quần áo bông, len và da thú. Soma và sura là thức uống phổ biến trong xã hội Rigveda, trong đó soma được thánh hóa bởi tôn giáo. Sáo (vana), sáo (vina), đàn hạc, chũm chọe, và trống là những nhạc cụ âm nhạc được chơi và 7 thang âm được sử dụng. Khiêu vũ, kịch, đua ngựa và cờ bạc là những thú tiêu khiển phổ biến khác.

II. ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ

1/ Hoàn cảnh văn hoá

Le te VedaẤn Độ là một quốc gia có nhiều thứ tiếng và đa dạng mà nhịp độ cuộc sống của nó thay đổi từ vùng này đến vùng khác và từ cộng đồng này đến cộng đồng khác. Vào những năm đầu thế kỷ 21 lối sống của tầng lớp trung lưu và các gia đình đô thị giàu có khác biệt ít so với thành thị ở châu Âu, Đông Á, hay châu Mỹ. Tuy nhiên, đối với hầu hết các vùng, cuộc sống nông thôn phần lớn vẫn không thay đổi. Nhiều ngôi làng nhỏ vẫn bị cô lập với hầu hết các phương tiện truyền thông và thông tin liên lạc, và việc làm phần lớn được thực hiện bằng tay hoặc bằng cách sử dụng sức kéo của động vật. Hình thức truyền thống của công việc và giải trí chỉ từ từ nhường chỗ cho những thói quen và thú tiêu khiển nhập khẩu từ thế giới bên ngoài. Tốc độ toàn cầu hóa diễn ra chậm ở nhiều vùng nông thôn Ấn Độ, và thậm chí cả ở các khu vực đô thị món ăn Tây phương,  quần áo và giải trí đã được thông qua với sự chọn lọc. Thời trang Ấn Độ vẫn là tiêu chuẩn; Ấn Độ vẫn tiếp tục thích món ăn truyền thống hơn các món ăn Phương Tây; và, cho dù thanh niên Ấn Độ càng lúc càng bị ám ảnh bởi trào lưu văn hoá nhạc pop của Phương Tây, người Ấn Độ tạo ra phim và âm nhạc riêng của họ ( mặc dù, ảnh hưởng mạnh mẽ phong cách nghệ thuật Phương Tây), mà nó đã vô cùng phổ biến trong nước và đã được chào bán thành công ở nước ngoài.

le te 2Khắp Ấn Độ, phong tục và nghi lễ tôn giáo vẫn còn được tôn trọng và thực hành một cách rộng rãi. Trong số những người theo đạo Hindu, phong tục tôn giáo và xã hội theo samskara (theo triết học Ấn Độ có nhiều nghĩa ), một loạt các bí tích cá nhân và những nghi lễ được tiến hành ở các giai đoạn khác nhau trong suốt cuộc đời. Trong số tất cả các nhóm người, nghi thức đẳng cấp tiếp tục đóng một vai trò trong việc thực thi các tiêu chuẩn và các giá trị, mặc dù nhiều thập kỷ luật pháp nhà nước đã làm giảm bớt sự  thiên vị đẳng cấp.

2/ Cuộc sống hàng ngày và tập quán xã hội

+ Gia đình và họ hàng

Đối với hầu hết người Ấn Độ gia đình là đơn vị xã hội quan trọng nhất,  và các gia đình chung sống gia trưởng đa thế hệ là quy tắc tiêu chuẩn tại Ấn Độ, song các gia đình hạt nhân cũng trở nên phổ biến tại những khu vực thành thị. Một gia đình mở rộng, bao gồm hai hoặc nhiều cặp vợ chồng đã kết hôn (thường của hơn một thế hệ) (cacnuocchauau), những người chia sẻ tài chính và một nhà bếp chung. Hôn nhân có ảnh hưởng lớn, ly dị hiếm, và gần như mọi cuộc hôn nhân là để có con. Hầu như tất cả các cuộc hôn nhân được sắp xếp bởi những người lớn tuổi trong gia đình trên cơ sở đẳng cấp, mức độ quan hệ huyết thống, tình trạng kinh tế, giáo dục (nếu có), và tử vi. Một cô dâu truyền thống phải sang nhà chồng. Tuy nhiên, “tình yêu hôn nhân” không có sự xếp đặt đang ngày càng phổ biến ở các thành phố.

Trong gia đình, có một trật tự rõ ràng về thứ tự và ảnh hưởng xã hội dựa trên giới tính, tuổi tác, và, trong trường hợp của một người phụ nữ, là số con trai mà cô có. Đàn ông trong gia đình cho dù người cha, ông nội, hoặc chú – thường là chủ gia đình được công nhận, và vợ ông là người kiểm soát nhiệm vụ được phân công cho các thành viên nữ trong gia đình. Đàn ông có địa vị cao hơn phụ nữ; con trai thường được cưng chìu trong khi con gái thường không được quan tâm. Điều này phản ánh tỷ lệ tử vong và bệnh tật đáng kể giữa các giới tính, được cho là (mặc dù thiếu thống kê đáng tin cậy) trẻ sơ sinh nữ thường xuyên bị giết, và ngày càng gia tăng việc phá thai các bào thai bé gái sau thử nghiệm giới tính trước khi sinh. (cacnuocchauau)

+ Hôn nhân

a weddingHôn nhân của người theo dạo Hindu có truyền thống được xem như là ” quà tặng ” (kanyadan) (cacnuocchauau) từ cha của cô dâu đối với gia đình của chú rể. Món quà này cũng đi kèm với một khoản hồi môn, mà thông thường bao gồm các món phù hợp để bắt đầu cuộc sống hôn nhân của cặp vợ chồng trẻ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp,  của hồi môn theo yêu cầu của chú rể và gia đình của họ đã trở nên khá vô lý, và một số gia đình xem chúng như là phương tiện để làm giàu. Có những trường hợp, số của hồi môn được đưa ra khá cao một cách công khai, trong đó cô dâu trẻ đã bị cư xử thô lỗ, thậm chí tra tấn và giết hại trong một nỗ lực moi nhiều của cải hơn từ cha của cô dâu. Những “cái chết của hồi môn” của phụ nữ còn trẻ như vậy đã góp phần vào một phản ứng chống lại của hồi môn trong một số gia đình đô thị hiện đại.

Cuộc hôn nhân Hồi giáo được coi là một mối quan hệ hợp đồng của cha hoặc của cô dâu hay người giám hộ và, mặc dù thường có của hồi môn (cacnuocchauau), có sự trao đổi lẫn nhau chính thức, trong đó chú rể hứa hẹn một sự chi trả bắt buộc, một nhiệm vụ cung cấp cho cô dâu của mình sự giàu có cả đời.

Tảo hôn tại Ấn Độ là việc phổ biến, đặc biệt là tại các vùng nông thôn; nhiều nữ giới tại Ấn Độ kết hôn trước độ tuổi kết hôn hợp pháp là 18.

Rajput wedding

Lễ thành hôn theo Ấn Độ giáo của cộng đồng người Rajput

Ngoài gia đình đơn vị quan trọng nhất là đẳng cấp. Trong một ngôi làng tất cả các thành viên của một đẳng cấp duy nhất nhìn nhận quan hệ thân tộc do tưởng tượng và ý thức trách nhiệm hỗ tương, nhưng những ý tưởng họ hàng do tưởng tượng cũng mở rộng đến toàn ngôi làng (cacnuocchauau). Vì vậy, ví dụ, một người phụ nữ đã kết hôn và đi đến một làng khác không bao giờ hết còn được coi là con gái của làng của cô ấy. Nếu cô ấy bị đối xử tệ trong làng của chồng, điều đó có thể trở thành một vấn đề quan tâm chung của làng quê của mình, không chỉ đối với những người thuộc đẳng cấp của chính mình.

Hệ thống đẳng cấp của Ấn Độ là hiện thân của nhiều tầng lớp xã hội và nhiều hạn chế xã hội tồn tại trên tiểu lục địa Ấn Độ. Các tầng lớp xã hội được xác định theo hàng nghìn nhóm đồng tộc thế tập, thường được gọi là jāti, hay “đẳng cấp” (cacnuocchauau). Ấn Độ tuyên bố tiện dân là bất hợp pháp vào năm 1947 và kể từ đó ban hành các luật chống phân biệt đối xử khác và khởi xướng phúc lợi xã hội, tuy vậy nhiều tường thuật vẫn cho thấy rằng nhiều Dalit (tiện dân cũ) và các đẳng cấp thấp khác tại các khu vực nông thôn tiếp tục phải sống trong sự cách ly và phải đối mặt với ngược đãi và phân biệt. Tại những nơi làm việc ở đô thị của Ấn Độ, tại các công ty quốc tế hay công ty hàng đầu tại Ấn Độ, tầm quan trọng của hệ thống đẳng cấp bị mất đi khá nhiều.

3/ Lễ hội và ngày lễ

Diwali Hầu như tất cả các vùng của Ấn Độ đều có những nơi đặc biệt cho cuộc hành hương, thánh địa địa phương và những anh hùng dân gian, lễ hội tôn giáo, hội chợ.  Ngoài ra còn có vô số lễ hội liên quan của riêng ngôi làng hoặc đền thờ hay  đẳng cấp và nghi lễ riêng. Phổ biến nhất trong các lễ hội tôn giáo được tổ chức ở phần lớn các vùng của Ấn Độ là Vasantpanchami (thường vào tháng Hai, ngày chính xác xác định bởi âm lịch HoliHindu), để vinh danh Sarasvati, nữ thần của việc học tập; Lễ Holi (tháng Hai – tháng Ba), khi các mối quan hệ thứ bậc truyền thống đang bị lãng quên và người tham dự lễ ném màu nước và bột vào nhau; Lễ Dussehra (tháng Chín-tháng Mười), khi câu chuyện của Ramayana được diễn lại; và Diwali (Divali; tháng Mười tháng Mười một), là lúc đèn chiếu sáng và các món quà trao đổi. Các ngày lễ thế tục chính là ngày Quốc khánh (15 tháng 8) và Ngày Cộng hòa (tháng 26).

4/ Ẩm thực

ChapatiMặc dù có sự khác biệt đáng kể về khu vực trong ẩm thực Ấn Độ, các chế độ ăn uống hằng ngày của hầu hết người Ấn Độ thiếu sự đa dạng. Tùy thuộc vào thu nhập, người ta thường ăn hai hay ba bữa ăn. Phần chủ yếu của hầu hết các bữa ăn của bất kỳ vùng nào có thể là: gạo trong suốt phần lớn phía đông và phía nam, bánh mì làm từ bột mì (chapati) ở phía bắc và tây bắc, và bánh mì làm từ hạt kê nhỏ (Bajra) ở Maharashtra. Các món này thường được thêm vào đậu nghiền nhuyễn (gọi là dal), một ít rau, và, đối với những người có khả năng, một bát nhỏ của sữa chua. Ớt và gia vị khác được nêm vào cho thêm hương vị món ăn đơn giản này. Đối với hầu hết người Ấn Độ, thịt rất hiếm, ngoại trừ vào dịp lễ hội – bò được coi là linh thiêng trong Ấn Độ giáo. Tuy nhiên, cá, sữa tươi, và các loại trái cây và rau quả, được tiêu thụ rộng rãi hơn, tuỳ thuộc vào vùng và theo mùa. Nói chung, trà là thức uống ưa thích ở miền Bắc và miền Đông Ấn Độ, trong khi cà phê là phổ biến hơn ở miền Nam.

5/ Trang phục

Quần áo của hầu hết người Ấn Độ cũng khá đơn giản và thường không may. Đàn ông (đặc biệt là ở khu vực nông thôn) thường xuyên mặc dhoti, giống như cái khố rộng, hay ở nhiều vùng phía nam và phía đông, đàn ông mặc lungi ( giống xà rông) quấn chặc quanh eo. Trong cả hai trường hợp, cơ thể vẫn trần trên thắt lưng, ngoại trừ trong thời tiết lạnhtrang phục Ấn Độ 1 hơn, khi đó một chiếc khăn choàng cũng có thể được mang, hoặc trong thời tiết nóng, khi đó đầu có thể được bảo vệ bằng một khăn xếp. Những người đàn ông có ảnh hưởng hơn và đẳng cấp cao hơn thích mặc sơ mi, theo phong cách Phương tây. Người theo Hồi giáo, đạo Sikh (cacnuocchauau), và người dân thành phố nói chung đang thiên nhiều hơn đến việc ăn mặc phù hợp, bao gồm các loại quần, áo vét tông. Việc đeo đồ kim hoàn tinh tế, được làm theo hình hoa thật thời Ấn Độ cổ đại, là một phần của truyền thống kéo dài từ khoảng 5.000 năm; người Ấn Độ cũng đeo đá quý như một thứ bùa.

trang phuc an do 2Mặc dù trong suốt phần lớn các vùng của Ấn Độ phụ nữ mặc sari (cacnuocchauau) và áo cánh ngắn, cách thức mà trong đó một sari được khoác ngoài khác nhau từ vùng này sang vùng khác. Ở Punjab, cũng như trong số các học sinh nữ lớn tuổi và nhiều cư dân thành phố, trang phục đặc trưng là shalwar-kamiz ( hay salwars – kameez là một trang phục truyền thống được mặc bởi cả phụ nữ và nam giới ở Nam Á. Salwars là một quần rộng ở phía trên, và hẹp ở phía dưới. Kameez là một chiếc áo dài, có thể thắt lại ở lưng.  Đó là trang phục phổ biến nhất cho những người đàn ông ở Pakistan và Afghanistan). Chiếc váy căng phồng dài tới mắt cá chân, và áo cánh là trang phục tiêu biểu của phụ nữ ở Rajasthan và các vùng của Gujarat. Phần lớn người nông thôn, đặc biệt là phụ nữ, không mang giày và, khi nào đồ đi ở chân là cần thiết, họ thích dép hơn.

Thời trang của các bộ lạc Ấn Độ là cực kỳ đa dạng và có thể thấy, như trong số các bộ lạc Naga (Hoapham), hoàn toàn lộng lẫy. Tuy nhiên, trên khắp Ấn Độ, trang phục Phương Tây ngày càng thịnh hành, đặc biệt trong số nam giới trí thức ở đô thị, đồng phục học sinh kiểu Phương Tây được mặc bởi cả hai giới trong nhiều trường học, thậm chí cả ở vùng nông thôn Ấn Độ.

6/ Kiến trúc

TAJ MAHAL3Kiến trúc có lẽ là điều đáng ngưỡng mộ nhất của Ấn Độ. Trong số các di tích nổi tiếng nhất là nhiều ngôi chùa hang đẽo từ đá (trong đó ở Ajanta và Ellora là đáng chú ý nhất); đền thờ Mặt Trời ở Konarak (Konarka); khu phức hợp đền thờ rộng lớn tại Bhubaneshwar, Khajuraho, và Kanchipuram (Conjeeveram); kiệt tác nhất là lăng mộ Humayun và Taj Mahal của triều đại Hồi giáo Mông Cổ từng cai trị Ấn Độ ( Mogul) ; Taj Mahal được xây den tho than mat troidựng tại Agra từ năm 1631 đến năm 1648 theo lệnh của Hoàng đế Shah Jahan để tưởng nhớ hoàng hậu của ông, nó được liệt vào danh sách di sản thế giới của UNESCO với miêu tả “viên ngọc quý của nghệ thuật Hồi giáo tại Ấn Độ và một trong những kiệt tác được khắp nơi ca tụng thuộc về di sản thế giới.”. Từ các yếu tố của kiến trúc Ấn-Hồi, Anh Quốc phát triển thành kiến trúc Ấn-Saracen phục hưng vào cuối thế kỷ 19.

7/ Khiêu vủ và âm nhạc

DancerNghệ thuật biểu diễn cũng có một truyền thống lâu đời và nổi tiếng. Bharata Natyam, hình thức múa cổ điển có nguồn gốc ở miền nam Ấn Độ, thể hiện chủ đề tôn giáo Hindu có niên đại ít nhất thế kỷ thứ 4 (xem Natya-Shastra). Phong cách khác trong vùng bao gồm Odissi (từ Orissa), Manipuri (Manipur), Kathakali (Kerala) (cacnuocchauau), Kuchipudi (Andhra Pradesh), và kathak (đã Hồi hoá ở miền bắc Ấn Độ). Ngoài ra, có rất nhiều truyền thống múa dân gian khu vực. Một trong số đó là Bhangra, một hình thức múa Punjabi mà, cùng với âm nhạc đi kèm của nó, đã đạt được phát triển phổ biến trong nước và quốc tế từ những năm 1970. Múa Ấn Độ đã được truyền bá ở phương Tây bởi vũ công và biên đạo múa Uday Shankar.

8/ Nghệ thuật sân khấu, phim ảnh, và văn học

Trong thời hiện đại, Bengali nhà viết kịch – đặc biệt là người đoạt giải Nobel Rabindranath Tagore, người cũng là một nhà triết học, nhà thơ, nhạc sĩ, biên đạo múa, nhà bình luận, và họa sĩ – đã mang cuộc sống mới đến nghệ thuật sân khấu Ấn Độ. Những nhà viết kịch từ một số vùng khác cũng đã trở nên phổ biến.

SidyushaTuy nhiên, đến một mức độ tuyệt vời, sự quan tâm của người Ấn Độ trong nghệ thuật sân khấu đã được thay thế bởi ngành công nghiệp điện ảnh, hiện được xếp hạng là hình thức phổ biến nhất của giải trí đại chúng. Trong một số năm khi ngành công nghiệp điện ảnh tập trung ở Mumbai (Bombay), do đó nó chiếm toàn bộ lợi nhuận từ ngành công nghiệp này với biệt danh “Bollywood” trong thanh danh Hollywood của Mỹ, có cùng chức năng – đã làm nhiều bộ phim truyện dài hơn bất kỳ nước nào khác trên thế giới. Cuộc sống của những nam anh hùng và nữ anh hùng phim, như mô tả trong tạp chí điện ảnh và phương tiện truyền thông khác, là chủ đề quan tâm phổ biến. Trong khi hầu hết các bộ phim, hài kịch, âm nhạc và khiêu vũ, là tác phẩm mô phỏng thoát ly thực tế và có tính công thức, một số nhà làm phim tốt nhất của Ấn Độ, chẳng hạn như Satyajit Ray (cacnuocchauau), được quốc tế hoan nghênh. Những nhà làm phim khác, chẳng hạn như Ismail Merchant, M. Night Shyamalan (Manoj Shyamalan), và Mira Nair, đã đạt được thành công lớn của họ là  đưa phim ra nước ngoài.

Văn học Ấn Độ là rất mênh mông, đặc biệt là trong tôn giáo và triết học. Nguồn gốc của truyền thống văn học Ấn Độ được tìm thấy trong kinh Vệ Đà, một bộ sưu tập các bài thánh ca tôn giáo có niên đại từ giữa thiên niên kỷ 2 TCN nhưng không được ghi lại  cho đến nhiều thế kỷ sau đó. Nhiều trong số các bản văn cổ xưa vẫn còn cung cấp các yếu tố cốt lõi của nghi lễ Hindu và, bất chấp độ dài của chúng, chúng được ghi nhớ toàn bộ bởi các tu sĩ Brahman và các học giả.

Văn học suy yếu trong nhiều thời kỳ cai trị của Anh, nhưng nó đã trải qua một sự thức tỉnh mới với cái gọi là Sự phục hưng Hindu, tập trung ở Bengal và bắt đầu từ giữa thế kỷ 19. Bankim Chandra Chatterjee đã đưa vào tiểu thuyết, chưa từng được biết ở Ấn Độ, như là một thể loại văn học. Chatterjee đã viết bằng tiếng Bengal, và hầu hết những người kế nghiệp văn chương của ông, bao gồm cả tiểu thuyết gia nổi tiến tiếng Hindi Prem Chand (bút danh của Dhanpat Rai Srivastava), cũng thích viết bằng ngôn ngữ Ấn Độ; Tuy nhiên, nhiều người khác, trong đó có Tagore, đã viết bằng tiếng Anh. Các tác phẩm của một số tác giả Ấn Độ, như như các tiểu thuyết gia đương đại Mulk Raj Anand, Bharati Mukherjee, Anita Desai, Kamala Markandaya, và R.K. Narayan (cacnuocchauau.com); nhà bình luận Nirad C. Chaudhuri; nhà thơ và tiểu thuyết gia Vikram Seth; người đoạt giải Booker Salman Rushdie (1981), Arundhati Roy (1997), và Kiran Desai (2006); cũng như các tiểu thuyết gia Vikram Chandra (cacnuocchauau) và các nhà thơ Meena Alexander và Kamala Das – là độc quyền hoặc gần như độc quyền tại Anh.

9/ Thể thao và giải trí

Lịch sử của thể thao ở Ấn Độ có niên đại hàng ngàn năm, và nhiều trò chơi, bao gồm cả cờ, đấu vật, và bắn cung, được cho là bắt nguồn ở đó. Thể thao đương đại Ấn Độ là một kết hợp đa dạng, với các trò chơi truyền thống, chẳng hạn như Kabaddi và kho-kho, và những trò chơi được giới thiệu bởi người Anh, đặc biệt là cricket, bóng đá, và khúc côn cầu rất phổ biến.

Kabaddi, chủ yếu là một trò chơi của Ấn Độ, được cho là khoảng 4.000 năm tuổi. Kết hợp các yếu tố của đấu vật và bóng bầu dục, đội bóng đã là một phần thường xuyên của Đại hội Thể thao Châu Á từ năm 1990. Kho-kho, được xếp hạng là một trong những môn thể thao truyền thống phổ biến nhất ở Ấn Độ, và chức vô địch quốc gia đầu tiên đã được tổ chức trong năm 1960.

Xem tiếp Ấn Độ phần 2 :

* Yêu cầu các bạn tham khảo bài viết nếu có copy nên trích dẫn nguồn www.cacnuocchauau.com/home. Đề tài này đã đăng ký ở Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, đã được Hội đồng khoa học thẩm định tháng 9/2006, xin đừng dùng nó lập website riêng, cướp công sức người khác, người tự trọng không làm vậy. Mỗi bài tác giả phải mất công sức dịch rất lâu, sắp xếp bố cục, lựa chọn hình ảnh thích hợp với nội dung. Với tâm huyết yêu nghề  tác giả mong muốn đóng góp chút công sức biên soạn nó  dành cho các bạn yêu thích bộ môn địa lý, dùng để giảng dạy, tham khảo.

___________________________________________________________________________

THƯ VIỆN HÌNH ẢNH